ĐẶT VẤN ĐỀ Đái ra dưỡng chấp (ĐRDC) là bệnh lý của hệ tiết niệu do có rò lưu thông từ hệ bạch mạch đổ vào bể thận, nguyên nhân gây bệnh có thể do bẩm sinh, do chấn thương hoặc do nhiễm ký sinh trùng giun chỉ [19],[39],[45],[60] Đái ra dưỡng chấp tuy không phải là một triệu chứng cấp cứu cũng như không gây tử vong đột ngột nhưng cần điều trị tích cực vì lượng dưỡng chấp thường xuyên bài tiết ra ngoài qua nước tiểu làm cho người bệnh dần dần bị suy kiệt và chết do hàng loạt các bệnh vì suy kiệt gây nên. Hơn nữa, hầu hết bệnh nhân ở trong lứa tuổi trẻ, đang lao động cho nên cần tích cực điều trị cần đạt kết quả tốt để người bệnh tiếp tục lao động bình thường và do bệnh làm cho màu sắc nước tiểu trắng như sữa hoặc đỏ đục như máu gây tâm lý sợ hãi cho người bệnh cũng như cho những người xung quanh. Bệnh đái ra dưỡng chấp rất hiếm khi gặp ở Châu Âu [23] nhưng là một bệnh thường hay gặp ở Việt Nam, Nhật Bản, Trung Quốc, và nói chung các nước vùng nhiệt đới vì ở đây là bệnh phần lớn do nguyên nhân ký sinh trùng gây ra chiếm tới 95,0% [31],[37],[54]. Ở Việt Nam cũng đã có những nghiên cứu từ rất lâu về đái ra dưỡng chấp (từ năm 1936) đến nay, các nghiên cứu đã đề cập tới việc chẩn đoán, nguyên nhân ngoài ký sinh trùng và các phương pháp điều trị - trong đó điều trị nội khoa được lựa chọn hàng đầu trong điều trị đái ra dưỡng chấp.
Một số tác giả đã cho thấy kết quả khả quan khi điều trị nội khoa; trong khi đó một số ít bệnh nhân vẫn cần phải chuyển điều trị ngoại khoa. Bệnh viện E là bệnh viện Đa khoa trung ương thuộc Bộ Y tế, hàng năm bệnh viện tiếp nhận gần 50 bệnh nhân đái ra dưỡng chấp; bệnh viện bắt đầu tiếp nhận điều trị từ năm 2004 cùng với sự có mặt và ứng dụng của kỹ thuật chụp UPR. Với các phương pháp điều trị chủ yếu là bơm nitrat bạc lỗ rò, chống nhiễm khuẩn, đã đem lại hiệu quả điều trị khá cao. Để hiểu rõ hơn về bệnh đái ra dưỡng chấp và đánh giá kết quả điều trị bệnh đái ra dưỡng chấp tại bệnh viện E.
Chúng tôi thực 1 c hiện đề tài: "Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị bệnh nhân đái ra dưỡng chấp tại bệnh viện E Hà Nội" nhằm mục tiêu: 1. Mô tả các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị bệnh nhân đái ra dưỡng chấp tại bệnh viện E Hà Nội. Phân tích một số yếu tố liên quan đến kết quả điều trị của các bệnh nhân đái ra dưỡng chấp. Giải phẫu, sinh lý hệ tiết niệu và hệ thống bạch huyết 1.
Giải phẫu, sinh lý hệ tiết niệu Hệ tiết niệu gồm có hai thận, hai niệu quản, một bàng quang và một niệu đạo. Thận là cơ quan lọc máu và tạo nên nước tiểu. Nước tiểu từ thận đi xuống qua niệu quản được tích lại ở bàng quang trước khi được đẩy ra ngoài qua niệu đạo [9],[11],[12],[15]. * Thận: Chức năng chính của thận là sản xuất nước tiểu.
Thận nằm sau ngoài ổ phúc mạc, hai bên đốt sống thắt lưng, trong góc tạo bởi xương sườn XI và cột sống, thận phải thấp hơn thận trái 2 cm. Thận hình hạt đậu, màu đỏ nâu, mật độ chắc nhưng dễ vỡ do chứa đầy máu và nước tiểu. * Niệu quản Niệu quản là ống dẫn nước tiểu từ bể thận hướng xuống dưới, ra trước vào trong tới bàng quang, niệu quản dài 25 cm , đường kính 3 - 5 mm, nằm sau phúc mạc sát vào thành bụng sau. Niệu quản có 3 chỗ thắt hẹp: chỗ nối với bể thận, chỗ bắt chéo động mạch chậu và chỗ đổ vào bàng quang.
Niệu quản được chia làm 2 đọan: Niệu quản đoạn bụng đi từ chỗ nối bể thận – niệu quản đến đường cung xương chậu. Niệu quản đoạn chậu đi từ đường cung xương chậu đến chỗ nối niệu quản – bàng quang. Ở nam, niệu quản đi ở mặt sau bàng quang và bắt chéo với ống dẫn tinh (niệu quản nằm phía sau ống dẫn tinh) → lưu ý khi thắt ống dẫn tinh có thể thắt nhầm niệu quản. Ở nữ niệu quản chạy ở đáy dây chằng rộng cùng với động mạch tử cung rồi bắt chéo với động mạch tử cung ở chỗ cách cổ tử cung và thành bên âm đạo 0,8 - 1,5cm.
Khi cắm vào mặt sau bàng quang, 2 niệu quản cách nhau 5cm. Bên trong thành bàng quang, chúng cắm chếch ra trước và vào trong nên 2 lỗ niệu quản ở mặt trong bàng quang chỉ cách nhau 2,5cm. 3 c * Bàng quang: Bàng quang nằm dưới và ngoài phúc mạc, trong chậu hông bé, sau khớp mu, trước các tạng sinh dục. Bàng quang là túi đựng nước tiểu, dung tích trung bình từ 250 – 300 ml.
Khi bàng quang đầy: mặt trên bàng quang căng phồng lên trên khớp mu như một vòm cầu (gọi là cầu bàng quang). * Niệu đạo: Niệu đạo nam: vừa là đường dẫn tinh vừa là đường dẫn nước tiểu, dài 16 cm đi từ cổ bàng quang xuyên qua tuyến tiền liệt. Niệu đạo nữ: là đường dẫn nước tiểu, dài 3-4 cm đi từ cổ bàng quang chếch xuống dưới và ra trước tới âm hộ thông ra ngòai bằng lỗ tiểu tiện. * Sinh lý tiết niệu Đường tiết niệu là đường quan trọng nhất để đào thải các chất bài tiết ra ngoài cơ thể, có thể duy trì sự ổn định của hằng số nội môi.
Cơ chế tạo nước tiểu ở thận: Gồm 3 cơ chế + Cơ chế lọc ở cầu thận [8],[11]. + Cơ chế tái hấp thu ở ống thận: ống thận sẽ hấp thu lại 99% nước của nước tiểu đầu và một số chất để đưa vào máu, chỉ để lại 1,2 - 1,5 lít (1ml/1kg/1 giờ ) thành nước tiểu cuối vận chuyển các chất đào thải ra ngoài. + Cơ chế bài tiết ở ống thận: các ống quanh co như một tuyến bài tiết nên có các chức năng bài tiết tích cực các chất sau: Axit hippuric, NH3. Chức năng của thận: + Chức năng chính của thận là bài tiết nước tiểu.
Bài tiết các chất độc và cặn bã: Urê, axit uric , creatinin, thuốc, chất màu. + Chức năng tổng hợp: Sản sinh ra NH3 để tham gia vào việc điều hòa PH của máu + Điều hòa các thành phần của máu + Điều hòa nước + Điều hòa nồng độ NaCl + Điều hòa PH 4 c 1. Giải phẫu, sinh lý hệ thống bạch huyết Bạch huyết là dịch trong suốt bao bọc các mô của cơ thể, giữ cân bằng chất lỏng, và loại bỏ vi khuẩn khỏi các mô. Bạch huyết thâm nhập hệ tuần hoàn qua các mạch bạch huyết.
Bạch huyết được vận chuyển từ các mô tới tĩnh mạch qua hệ thống mạch bạch huyết. Trong hệ thống đó, bạch huyết được lọc qua các cơ quan như lá lách, tuyến ức và các hạch bạch huyết. Ở động vật có vú, bạch huyết được đẩy qua các mạch bạch huyết chủ yếu bởi hiệu ứng vận động của các cơ xung quanh mạch [9],[13],[15],[17]. Thành phần chủ yếu của bạch huyết là các bạch huyết bào và đại thực bào.
Hệ miễn dịch sử dụng các tế bào này để chống lại sự thâm nhập của các vi sinh vật ngoại lai. Các đại thực bào là các tế bào có nhiệm vụ bao vây và ăn sinh vật ngoại lai. Còn bạch huyết bào là các tế bào bạch cầu có nhiệm vụ trung hòa các vi sinh vật ngoại lai bằng hóa học. 1 Mao mạch bạch huyết trong không gian mô Các mao mạch bạch huyết khác với các mao mạch máu ở chỗ chúng không có lớp màng nền và các tế bào biểu mô đơn giản có hình vảy hơi chồng lên nhau và tế bào này đính vào tế bào kia một cách lỏng lẻo.
Cấu trúc này làm cho mao mạch bạch huyết có tính thấm hơn rất nhiều so với mao mạch máu, và không có 5 c cái gì ở dịch kẽ lại không có ở các mao mạch bạch huyết. Biểu mô ở mao mạch bạch huyết hoạt động như một loạt van mở theo một hướng cho phép thể dịch vào được mao mạch bạch huyết mà không cho trôi ngược trở ra khoang dịch kẽ. Ba cơ chế chính chịu trách nhiệm cho chuyển dịch của bạch huyết trong mạch [11]: (i) Sự co mạch bạch huyết: Ở nhiều bộ phận của cơ thể, mạch bạch huyết bơm bạch huyết đi. Các van một chiều chia các mạch bạch huyết ra thành các hốc, hoạt động như "các quả tim sơ khai".
Bạch huyết di chuyển vào hốc, các cơ trơn ở thành hốc co và bạch huyết chảy đến hốc kế tiếp. Một số tế bào cơ trơn ở thành mạch bạch huyết là các tế bào tạo nhịp. Các tế bào tạo nhịp tự động khử cực, gây sự co cơ theo chu kỳ của các mạch bạch huyết. (ii) Sự co của cơ xương: Khi tế bào cơ xung quanh co, mạch bạch huyết bị đè ép, làm cho bạch huyết chuyển động.
(iii) Các thay đổi áp lực lồng ngực. Trong quá trình hít vào, áp lực ở khoang lồng ngực giảm, các mạch bạch huyết mở rộng và bạch huyết chảy vào đó. Khi thở ra, áp lực khoang lồng ngực tăng, mạch bạch huyết bị đè ép, làm bạch huyết chảy đi. * Chức năng của hệ thống bạch huyết - Cân bằng thể dịch: Mỗi ngày có khoảng 30 lít dịch đi từ các mao mạch máu vào dịch kẽ, trong đó chỉ có 27 lít đi ngược trở lại.
Nếu 3 lít còn lại vẫn ở lại dịch kẽ, sẻ gây phù làm tổn thương mô và cuối cùng là tử vong. Nhờ có hệ bạch huyết 3 lít dịch này được đi vào các mao mạch bạch huyết. Các dịch này gọi là bạch huyết. Bạch huyết đi qua mạch bạch huyết rồi trở về máu.
Cùng với nước, bạch huyết chứa các chất tan lấy từ hai nguồn: 6 c (1) Các chất trong huyết tương, như các ion, các chất dinh dưỡng, các khí, và một số protein, đi từ mao mạch máu vào dịch kẽ và trở thành thành phần của bạch huyết. (2) Các chất lấy từ các tế bào như các hormone, các enzym và các chất thải, cũng được tìm thấy trong bạch huyết. - Hấp thu chất béo: Hệ bạch huyết hấp thụ các chất béo và các chất khác từ đường tiêu hóa. Các mạch bạch huyết gọi là các bạch mạch – lacteal nằm ở lớp lót ruột non.
Mỡ đi vào các lacteal và đi qua các mạch bạch huyết vào vòng tuần hoàn tĩnh mạch. Bạch huyết đi qua các mạch bạch huyết này, gọi là dưỡng chấp, có dạng sữa vì có chứa mỡ.