Tổng quan luận án
Chảy máu não do tăng huyết áp là một bệnh lý cấp cứu trong lâm sàng thần kinh với tỷ lệ tàn tật và tử vong cao. Chảy máu vào não thất (IVH) đã được xác định là một yếu tố tiên lượng nặng ở bệnh nhân chảy máu não, làm tăng tỷ lệ tử vong lên mức 50% đến 80%. Theo các dữ liệu từ thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên STICH, biến chứng máu tràn vào não thất xuất hiện ở khoảng 42% tổng số bệnh nhân chảy máu não, trong đó có 23% trường hợp đi kèm biến chứng tràn dịch não. Đồi thị là cấu trúc nằm tiếp giáp trực tiếp với hệ thống não thất; do đó, các ổ máu tụ tại vị trí này có tỷ lệ vỡ vào não thất cao (khoảng 42,6% đến 71%). Khi có máu trong não thất, nguy cơ tử vong của bệnh nhân tăng gấp 5 lần so với nhóm không có máu vào não thất, đồng thời tỷ lệ đạt kết cục phục hồi tốt chỉ đạt 15% (so với 31% ở nhóm không có máu vào não thất).
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả luận án xác định là phần lớn các công trình trước đây chỉ khảo sát chung tình trạng chảy máu não có máu vào não thất mà chưa phân tích chuyên biệt và sâu sắc theo từng vị trí giải phẫu đặc thù của nhu mô, cụ thể là vùng đồi thị. Hiện nay vẫn tồn tại nhiều tranh luận khoa học chưa thống nhất: một số quan điểm cho rằng máu thoát vào não thất giúp giảm áp lực và khối lượng máu tụ nhu mô đồi thị nên mang lại tiên lượng tốt hơn; ngược lại, các nghiên cứu khác khẳng định máu vào não thất gây kết cục lâm sàng nặng nề do tràn dịch não cấp tính hoặc do chính thể tích máu tụ trong hệ thống não thất.
Luận án tiến sĩ y học của nghiên cứu sinh Đinh Thị Hải Hà, chuyên ngành Thần kinh (mã số: 62720147), thực hiện tại Viện Nghiên cứu Khoa học Y Dược Lâm sàng 108 dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Văn Thông và TS. Nguyễn Hoàng Ngọc, được triển khai nhằm giải quyết các mục tiêu cụ thể:
- Nhận xét đặc điểm lâm sàng và hình ảnh cắt lớp vi tính sọ não ở bệnh nhân chảy máu đồi thị có máu vào não thất giai đoạn cấp tính do tăng huyết áp.
- Xác định một số yếu tố tiên lượng tử vong và phục hồi chức năng của bệnh nhân chảy máu đồi thị có máu vào não thất trong giai đoạn cấp do tăng huyết áp.
Đối tượng nghiên cứu là các bệnh nhân được chẩn đoán chảy máu đồi thị có máu vào não thất trong giai đoạn cấp tính do nguyên nhân tăng huyết áp. Phạm vi nghiên cứu theo dõi đánh giá các biến số lâm sàng, cận lâm sàng, hình ảnh cắt lớp vi tính tại thời điểm khởi phát, theo dõi kết cục sống - tử vong sau 01 tháng và mức độ phục hồi chức năng thần kinh sau 06 tháng.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tài liệu của luận án đã hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến dịch tễ học, giải phẫu sinh lý bệnh, đặc điểm hình ảnh và các yếu tố tiên lượng của chảy máu não và chảy máu não thất:
| Tác giả (Năm công bố) |
Thiết kế nghiên cứu |
Cỡ mẫu ($n$) |
Tỷ lệ chảy máu não thất (%) |
Tử vong nhóm có máu vào não thất (%) |
Tử vong nhóm không có máu vào não thất (%) |
| Daverat và cs (1991) |
Hồi cứu |
166 |
43,30 |
69,00 |
31,00 |
| Franke và cs (1992) |
Tiến cứu |
157 |
46,50 |
78,08 |
19,05 |
| Mase và cs (1995) |
Hồi cứu |
138 |
28,26 |
65,80 |
13,13 |
| Quereshi và cs (1995) |
Hồi cứu |
182 |
45,60 |
79,50 |
26,20 |
| Razzaq và cs (1998) |
Hồi cứu |
146 |
19,10 |
56,25 |
19,67 |
| Tuhrim và cs (1999) |
Tiến cứu |
129 |
36,40 |
42,60 |
8,50 |
| Hemphill và cs (2001) |
Hồi cứu |
152 |
55,26 |
65,50 |
19,10 |
| Cheung và cs (2003) |
Hồi cứu |
142 |
40,40 |
45,60 |
5,90 |
| Marti-Fabregas và cs (2003) |
Tiến cứu |
48 |
54,17 |
46,15 |
13,64 |
| Bhattathiri và cs (2006) |
Tiến cứu |
902 |
42,00 |
56,20 |
28,60 |
| Steiner và cs (2006) |
Tiến cứu |
374 |
45,00 |
59,00 |
14,00 |
| Takahashi và cs (2006) |
Hồi cứu |
347 |
45,53 |
29,11 |
12,70 |
| Tổng cộng |
Tổng hợp |
2883 |
41,79 |
56,36 |
20,30 |
Về vai trò của thể tích máu não thất, phân tích hậu định từ thử nghiệm INTERACT-II chỉ ra rằng thể tích máu trong não thất có liên quan chặt chẽ với tỷ lệ tử vong và tàn tật nặng tại thời điểm 3 tháng (OR = 1,68; 95% CI: 1,38–2,06; $p < 0,01$), đồng thời xác định ngưỡng thể tích máu não thất liên quan đến kết cục xấu là 10 ml (thay vì ngưỡng 20 ml trong các nghiên cứu cũ). Nghiên cứu của Hwang xác định ngưỡng thể tích máu não thất lúc vào viện trên 6 ml là yếu tố tiên lượng xấu.
Về biến chứng tràn dịch não, các tác giả Diringer, Stein, Mahta và Hallevi nhận định tràn dịch não là yếu tố tiên lượng tử vong độc lập trong 30 ngày đầu. Theo Mahta, chảy máu não thất đơn thuần không kèm tràn dịch não không làm tăng có ý nghĩa tỷ lệ tử vong hay tàn tật. Về vị trí não thất chứa máu, nghiên cứu của Staykov trên các bệnh nhân điều trị tiêu huyết khối cho thấy thể tích máu trong não thất ba ($3,8 \pm 3,3\text{ ml}$) là yếu tố dự báo kết cục xấu độc lập (OR = 2,6 mỗi ml; 95% CI: 1,2–5,9; $p = 0,02$), trong khi máu não thất bốn có xu hướng liên quan ($p = 0,07$).
Đối với bệnh nhân chảy máu đồi thị cụ thể:
- Chung ghi nhận tỷ lệ tử vong tại viện là 37%, tăng lên 52% khi có máu vào não thất.
- Tokgoz trên 101 bệnh nhân chảy máu đồi thị ghi nhận rối loạn ý thức chiếm 60,5% ở nhóm có máu vào não thất và tỷ lệ tử vong ra viện là 65,1%.
- Ngược lại, Bilen, Lamp và Shah lại cho rằng chảy máu đồi thị có máu vào não thất không phải là yếu tố tiên lượng nặng, thậm chí giúp cải thiện kết cục do làm giảm áp lực khối máu tụ nhu mô.
- Chen nghiên cứu 48 bệnh nhân chảy máu đồi thị có máu vào não thất gây tràn dịch não cấp được điều trị phẫu thuật (dẫn lưu ngoài và phẫu thuật nội soi), ghi nhận tử vong 1 tháng là 12,5% và sau 3 tháng là 20,8%.
- Tsitsopoulos nhận định điều trị theo dõi áp lực nội sọ và dẫn lưu não thất tại các trung tâm hồi sức thần kinh chuyên biệt giúp giảm tỷ lệ tử vong.
Vị trí của luận án là tập trung giải quyết triệt để các bất đồng nêu trên thông qua một mẫu nghiên cứu thuần nhất về chảy máu đồi thị do tăng huyết áp có máu tràn vào não thất, phân tích chi tiết hình ảnh cắt lớp vi tính và xây dựng các mô hình toán học dự báo kết cục 01 tháng và 06 tháng.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở giải phẫu và sinh lý bệnh
Đồi thị là cấu trúc thuộc gian não, nằm đối xứng hai bên não thất ba. Cấp máu đồi thị gồm 4 nhánh chính:
- Vùng trước: Động mạch củ - đồi thị (xuất phát từ động mạch thông sau).
- Vùng cạnh giữa: Động mạch cạnh giữa/động mạch xuyên (từ đoạn P1 của động mạch não sau).
- Vùng dưới bên: Động mạch gối đồi thị (từ đoạn P2 của động mạch não sau).
- Vùng sau: Động mạch màng mạch sau (từ đoạn P2 của động mạch não sau).
Cơ chế bệnh sinh tổn thương do máu vào não thất bao gồm hai cơ chế chính:
- Hiệu ứng khối tại chỗ và tắc nghẽn cơ học: Cục máu đông gây bít tắc lỗ Monro, cống não Sylvius, lỗ Magendie và Luschka dẫn đến giãn não thất cấp tính và tăng áp lực nội sọ đột ngột.
- Tổn thương tế bào và hàng rào sinh học: Tổn thương màng não thất làm mất liên tục lớp tế bào biểu mô có nhung mao; rối loạn kênh nước Aquaporin (AQP1 tại biểu mô đám rối mạch mạc, AQP4 tại bề mặt màng não thất); giải phóng cytokine viêm TGF$\beta$1 (với ngưỡng thể tích máu não thất gây phản ứng viêm mạnh là 27 ml, $p = 0,006$); tổn thương do sắt thoái hóa từ hồng cầu gây độc tế bào; tổn thương hàng rào máu não qua trung gian protease thrombin và thụ thể PAR-1.
Phương pháp nghiên cứu
- Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp theo dõi dọc tiến cứu.
- Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân: Bệnh nhân được chẩn đoán xác định chảy máu đồi thị có máu vào não thất trên phim cắt lớp vi tính sọ não, nguyên nhân do tăng huyết áp, nhập viện trong giai đoạn cấp tính.
- Tiêu chuẩn loại trừ: Chảy máu não do chấn thương, dị dạng mạch não, phình động mạch não, u não, vỡ phình mạch, rối loạn đông máu nguyên phát hoặc dùng thuốc chống đông trước đó.
- Công cụ và thang điểm lượng giá:
- Ý thức: Thang điểm Glasgow.
- Khiếm khuyết thần kinh đột quỵ: Thang điểm NIHSS.
- Phục hồi chức năng: Thang điểm Rankin cải biên (mRS) tại thời điểm 6 tháng (chia nhóm tốt: mRS 0-3 điểm; xấu: mRS 4-6 điểm).
- Thể tích máu tụ nhu mô đồi thị: Đo trên phim cắt lớp vi tính theo công thức Broderick:
$$\text{Thể tích} = \frac{A \times B \times C}{2}$$
- Mức độ chảy máu não thất: Thang điểm Graeb (tổng điểm từ 1 đến 12):
- Não thất bên (tính riêng từng bên): 1 điểm (máu rất ít), 2 điểm (máu chiếm $< 1/2$ thể tích), 3 điểm (máu chiếm $> 1/2$ thể tích), 4 điểm (đầy máu và giãn).
- Não thất ba và não thất bốn (mỗi não thất): 1 điểm (có máu, kích thước bình thường), 2 điểm (đầy máu và giãn).
- Tiêu chuẩn chẩn đoán tràn dịch não: Sừng thái dương não thất bên $> 2\text{ mm}$ kết hợp xóa mờ các rãnh cuộn não/rãnh Sylvius, hoặc sừng thái dương $> 2\text{ mm}$ kèm tỷ số $\text{FH/ID} > 0,5$; chỉ số Evan $\text{FH/BPD} > 0,3$.
- Kỹ thuật phân tích thống kê: Xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS phiên bản 13.0. Sử dụng thống kê mô tả, phân tích đơn biến, phân tích hồi quy logistic đa biến (phương pháp đưa vào hết một lần - Enter, và phương pháp đưa vào từng bước có điều kiện - Forward Conditional/Stepwise), xác định độ nhạy, độ đặc hiệu qua diện tích dưới đường cong ROC.
Nội dung chính theo từng chương
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Chương này tổng kết toàn diện cơ sở giải phẫu chức năng của đồi thị và hệ thống não thất, các nhánh mạch máu cấp máu (động mạch củ-đồi thị, động mạch cạnh giữa, động mạch gối đồi thị, động mạch màng mạch sau). Phân tích chi tiết các cơ chế sinh lý bệnh khi có máu tràn vào não thất: tràn dịch não tắc nghẽn và thông thương, phản ứng viêm do cytokine TGF$\beta$1, độc tính của ion sắt tự do và thrombin. Tổng quan các nghiên cứu trong nước và quốc tế về yếu tố tiên lượng trong chảy máu não - não thất, phân tích các thử nghiệm lâm sàng lớn (STICH, INTERACT-II, CLEAR, FAST) và phác đồ can thiệp kiểm soát huyết áp, dẫn lưu não thất ngoài (EVD).
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trình bày cụ thể tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ bệnh nhân nghiên cứu tại Viện Nghiên cứu Khoa học Y Dược Lâm sàng 108. Trình bày chi tiết quy trình thu thập dữ liệu lâm sàng (dấu hiệu sinh tồn, tri giác theo Glasgow, liệt vận động, hội chứng màng não, rối loạn vận nhãn, phản xạ ánh sáng, ngôn ngữ), hình ảnh cắt lớp vi tính sọ não (loại chảy máu đồi thị: trước, sau bên, sau trong, lưng; thể tích khối máu tụ; phân độ Graeb; đè đẩy đường giữa; tràn dịch não). Mô tả phác đồ điều trị nội khoa, chỉ định dẫn lưu não thất và phương pháp xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 13.0.
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Chương kết quả tập trung trình bày các số liệu thực chứng qua hệ thống các bảng và biểu đồ:
- Đặc điểm chung và lâm sàng khi vào viện: Thống kê phân bố theo tuổi, giới tính, thời gian từ khi khởi phát đến khi vào viện, các yếu tố nguy cơ (tiền sử tăng huyết áp, đái tháo đường, đột quỵ cũ). Đánh giá các dấu hiệu sinh tồn, điểm Glasgow, điểm NIHSS, rối loạn ngôn ngữ (Broca, Wernicke, xuyên vỏ), rối loạn vận nhãn, bất thường đồng tử và phản xạ ánh sáng.
- Đặc điểm hình ảnh cắt lớp vi tính: Tỷ lệ các thể chảy máu đồi thị, thể tích khối máu tụ nhu mô theo công thức Broderick, mức độ dịch chuyển đường giữa, phân bố số lượng não thất chứa máu (từ 1 đến 4 não thất), phân độ điểm Graeb, tỷ lệ và đặc điểm hình ảnh tràn dịch não.
- Mối liên quan với tình trạng tràn dịch não: So sánh các thông số lâm sàng và hình ảnh cắt lớp vi tính giữa nhóm có tràn dịch não và không có tràn dịch não.
- Các yếu tố tiên lượng tử vong sau 01 tháng:
- Kết quả phân tích đơn biến giữa các biến số lâm sàng, cận lâm sàng, hình ảnh cắt lớp vi tính với tình trạng sống/tử vong sau 1 tháng.
- Kết quả hồi quy logistic đa biến (phương pháp Enter) đối với các biến lâm sàng và biến hình ảnh cắt lớp vi tính.
- Kết quả phân tích hồi quy logistic từng bước có điều kiện xác định các yếu tố dự báo độc lập và xây dựng công thức tính xác suất tử vong sau 01 tháng kèm đánh giá độ chính xác qua đường cong ROC.
- Các yếu tố tiên lượng phục hồi chức năng sau 06 tháng:
- Kết quả phân tích đơn biến và đa biến về mối liên quan giữa các biến số ban đầu với mức độ phục hồi chức năng thần kinh theo thang điểm mRS tại thời điểm 6 tháng.
- Xây dựng mô hình hồi quy logistic từng bước có điều kiện và công thức tính tỷ lệ phục hồi chức năng (tốt so với xấu) sau 06 tháng.
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN
Tác giả tiến hành so sánh, đối chiếu kết quả nghiên cứu với các y văn quốc tế và trong nước:
- Phân tích mối tương quan giữa đặc điểm giải phẫu mạch máu đồi thị bị tổn thương với bệnh cảnh lâm sàng và dạng hình ảnh cắt lớp vi tính.
- Bàn luận về ảnh hưởng của tràn dịch não cấp tính, thể tích máu tụ đồi thị và tổng lượng máu trong các não thất đến nguy cơ tử vong sớm trong 01 tháng đầu.
- Phân tích giá trị tiên lượng của điểm Glasgow, điểm NIHSS, điểm Graeb và tình trạng giãn não thất ba, não thất bốn đối với khả năng hồi phục chức năng lâu dài sau 06 tháng.
- Đánh giá vai trò của các phương pháp điều trị nội khoa tích cực và can thiệp dẫn lưu não thất ngoài ở bệnh nhân chảy máu đồi thị có máu vào não thất.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận và khoa học
- Cung cấp dữ liệu lâm sàng và hình ảnh cắt lớp vi tính chuyên sâu trên nhóm bệnh nhân chảy máu đồi thị do tăng huyết áp có biến chứng tràn máu vào hệ thống não thất.
- Làm sáng tỏ vai trò tác động kết hợp giữa thể tích khối máu tụ nhu mô đồi thị, lượng máu trong não thất (qua thang điểm Graeb) và biến chứng tràn dịch não lên tiên lượng sống còn và phục hồi chức năng thần kinh.
- Xác lập mô hình toán học dự báo nguy cơ tử vong sau 01 tháng và khả năng phục hồi chức năng sau 06 tháng dựa trên các hệ số hồi quy logistic đa biến thu nhận từ thực tế nghiên cứu.
Đóng góp về mặt thực tiễn và ứng dụng lâm sàng
- Giúp các bác sĩ lâm sàng chuyên ngành Cấp cứu, Thần kinh và Hồi sức tích cực nhận diện sớm các dấu hiệu nguy cơ cao (điểm Glasgow thấp, điểm Graeb cao, có tràn dịch não, thể tích máu tụ lớn) ngay khi tiếp nhận bệnh nhân.
- Đưa ra các công thức tiên lượng cụ thể hỗ trợ lượng hóa nguy cơ tử vong trong tháng đầu và tiên lượng khả năng tàn tật sau 6 tháng, từ đó giúp xây dựng chiến lược điều trị nội khoa tích cực hoặc chỉ định can thiệp ngoại khoa (dẫn lưu não thất ngoài) kịp thời.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án tập trung chuyên biệt vào nhóm bệnh nhân chảy máu đồi thị do tăng huyết áp có máu vào não thất ở giai đoạn cấp tính; chưa mở rộng so sánh can thiệp sâu giữa các kỹ thuật ngoại khoa xâm lấn tối thiểu khác nhau (như phẫu thuật nội soi hút máu đông hay sử dụng thuốc tiêu sợi huyết qua catheter dẫn lưu não thất).
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu đa trung tâm với cỡ mẫu lớn hơn; ứng dụng chụp cộng hưởng từ sọ não để khảo sát sâu hơn tổn thương các bó dẫn truyền thần kinh quanh đồi thị; đánh giá hiệu quả của các phác đồ tiêu huyết khối trong não thất (theo hướng các thử nghiệm như CLEAR) kết hợp dẫn lưu não thất ngoài trên nhóm bệnh nhân này.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị đối với:
- Bác sĩ chuyên khoa Thần kinh, Đột quỵ, Cấp cứu và Hồi sức tích cực: Tham khảo các đặc điểm triệu chứng học, tiêu chuẩn hình ảnh học cắt lớp vi tính sọ não, phân độ chảy máu não thất theo Graeb và nhận định sớm biến chứng tràn dịch não.
- Bác sĩ Phẫu thuật Thần kinh: Đánh giá các chỉ số hình ảnh (kích thước sừng thái dương, chỉ số Evan, độ đè đẩy đường giữa, thể tích máu não thất ba, não thất bốn) để quyết định chỉ định và thời điểm đặt dẫn lưu não thất ngoài.
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, bác sĩ nội trú chuyên ngành Thần kinh: Cung cấp phương pháp luận nghiên cứu kết hợp giữa lâm sàng, hình ảnh học và các kỹ thuật mô hình hóa thống kê hồi quy logistic trong y học lâm sàng.
Câu hỏi thường gặp
1. Tiêu chuẩn đánh giá mức độ chảy máu não thất được luận án sử dụng là gì?
Luận án sử dụng thang điểm Graeb (tối đa 12 điểm). Điểm số được tính riêng cho từng não thất bên (từ 1 đến 4 điểm tùy thuộc vào mức độ máu lấp đầy và giãn não thất), não thất ba (1 đến 2 điểm) và não thất bốn (1 đến 2 điểm).
2. Tiêu chuẩn chẩn đoán hình ảnh xác định tràn dịch não trên cắt lớp vi tính trong nghiên cứu gồm những gì?
Chẩn đoán xác định dựa vào một trong hai tiêu chuẩn: (1) Kích thước bề rộng sừng thái dương não thất bên $> 2\text{ mm}$ kèm các rãnh cuộn não và rãnh Sylvius bị xóa mờ; hoặc (2) Kích thước sừng thái dương $> 2\text{ mm}$ kết hợp tỷ số $\text{FH/ID} > 0,5$. Các dấu hiệu gợi ý kèm theo gồm chỉ số Evan $\text{FH/BPD} > 0,3$, hình ảnh giãn tròn não thất ba và sừng trán hai bên ("hình tai chuột Mickey"), và hiện tượng thấm dịch quanh não thất.
3. Công thức nào được dùng để tính thể tích khối máu tụ nhu mô đồi thị?
Thể tích khối máu tụ được xác định trên phim chụp cắt lớp vi tính sọ não theo công thức Broderick: $\text{Thể tích} = \frac{A \times B \times C}{2}$ (trong đó $A$ là đường kính lớn nhất của khối máu tụ, $B$ là đường kính vuông góc lớn nhất với $A$ trên cùng lát cắt, và $C$ là chiều cao khối máu tụ tính theo số lượng lát cắt nhân với độ dày lát cắt).
4. Phân loại giải phẫu chảy máu đồi thị trên hình ảnh học gồm những nhóm nào?
Theo phân loại mạch máu và hình ảnh cắt lớp vi tính, chảy máu đồi thị được chia thành 4 loại: (1) Chảy máu đồi thị trước (vùng cấp máu của động mạch củ-đồi thị); (2) Chảy máu đồi thị sau bên (vùng cấp máu của động mạch gối đồi thị); (3) Chảy máu đồi thị sau trong (vùng cấp máu của động mạch xuyên đồi thị-dưới đồi); (4) Chảy máu đồi thị lưng/sau (vùng cấp máu của động mạch màng mạch sau).
5. Mục tiêu theo dõi và đánh giá kết cục bệnh nhân trong luận án được chia làm những mốc thời gian nào?
Nghiên cứu đánh giá kết cục tại hai mốc thời gian chính: (1) Đánh giá tỷ lệ sống và tử vong cùng các yếu tố tiên lượng sau 01 tháng (giai đoạn cấp); (2) Đánh giá mức độ phục hồi chức năng thần kinh (tốt và xấu theo thang điểm Rankin cải biên - mRS) cùng các yếu tố tiên lượng sau 06 tháng.
Kết luận
Luận án tiến sĩ y học của tác giả Đinh Thị Hải Hà đã nghiên cứu toàn diện các đặc điểm lâm sàng và hình ảnh cắt lớp vi tính sọ não ở bệnh nhân chảy máu đồi thị có máu vào não thất do tăng huyết áp trong giai đoạn cấp tính. Bằng phương pháp phân tích hồi quy logistic đa biến trên phần mềm SPSS 13.0, luận án đã xác định các yếu tố tiên lượng độc lập đối với nguy cơ tử vong sau 01 tháng và khả năng phục hồi chức năng sau 06 tháng. Các công thức toán học tiên lượng được xây dựng từ kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học thực chứng hỗ trợ bác sĩ lâm sàng trong việc đánh giá mức độ nặng, phân tầng nguy cơ và lựa chọn phác đồ điều trị thích hợp cho bệnh nhân.