Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU So với các thể loại khác, hồi ký xuất hiện muộn. Ở phư ng Tây, hồi ký đ phát triển mạnh mẽ từ thế k I. Ở Việt Nam cho đến những năm 30, 40 của thế k , hồi ký mới xuất hiện và m i đến những thập niên cuối thế k mới phát triển và đạt thành tựu như một thể loại độc lập. Tuy nhiên việc định danh về thể loại của hồi ký vẫn còn chưa thống nhất.
Thành tựu không nhiều. Trong quá trình hình thành, vận động, hồi ký ngày càng trở nên đa dạng, đặc biệt là ở chặng đường văn học sau 1975. Thể hồi ký vừa có khả năng đáp ứng những yêu cầu bức thiết của chủ thể sáng tạo, vừa là n i cá tính sáng tạo của người nghệ sỹ tìm được cách thức thể hiện nghệ thuật mới. Trong đời sống văn học Việt Nam từ 1975 đến 2010, thể hồi ký khá đa dạng cả về đề tài, nội dung phản ánh đến bút pháp thể hiện.
Chính vì thế, thể hồi ký là đối tượng được quan tâm sâu sắc của ngành lý luận, phê bình hiện đại. Dưới lý thuyết tiếp nhận hiện đại, các nhà nghiên cứu, phê bình đ có nhiều công trình, bài nghiên cứu cung cấp nhiều vấn đề quan trọng về thể hồi ký và các tác phẩm hồi ký. Từ những định hướng nghiên cứu của đề tài, trên c sở tổng hợp, thống kê, chúng tôi nhận thấy những công trình nghiên cứu về hồi ký văn học Việt Nam từ 1975 đến 2010 đi theo hai nhóm: thứ nhất là những bài nghiên cứu có tính tổng quan về hồi ký văn học; thứ hai là nhóm nghiên cứu từng tác giả, tác phẩm hồi ký, qua đó nhằm đưa ra những đánh giá chung về thể loại. Tình hình nghiên cứu thể hồi ký từ 1975 đến 2010 1.
Những công trình, bài báo nghiên cứu khái quát Các vấn đề được các nhà nghiên cứu, phê bình quan tâm là: tính hư cấu trong hồi ký, mối quan hệ giữa người kể và người ghi hồi ký; sự khác nhau của nhân vật trong hồi ký với nhân vật trong tiểu thuyết;… Nhìn chung, các tác giả chỉ điểm qua nhưng chưa khảo sát từ nhiều tác phẩm hồi ký và chưa có những đối chiếu để thấy được những đặc điểm thuộc về thể hồi ký. Chính vì vậy, kết 6 quả chỉ dừng lại ở việc định hướng chứ chưa hệ thống hóa thành những luận điểm có c sở lý luận để soi chiếu vào các tác phẩm hồi ký nhằm tìm thấy đặc trưng riêng của thể này. Những bước đầu nghiên cứu về thể hồi ký ở các nội dung trên có thể kể đến các tác giả với các bài: Bàn về sự khác nhau của nhân vật hồi ký với nhân vật tiểu thuyết, Nguyễn Thế Hưng và Lư ng Ích Cẩn trong bài Bàn thêm về mối quan hệ iữa n ười kể và n ười hi tron hồi k , đ nhận định: “Nhân vật trong tiểu thuyết là nhân vật được xây dựng nên bằng phư ng pháp hư cấu, khái quát hóa, điển hình hóa của nhà viết tiểu thuyết; chú ý làm sao cho nhân vật nói đúng tiếng nói của họ, tiếng nói phù hợp với thời đại họ sống. Nhân vật trong hồi ký vừa là nhân vật có thật của quá khứ, vừa là nhân vật có thật của hiện tại.
Họ không hề làm mất tính chân thực của văn học khi dùng ngôn ngữ hiện đại để thuật lại sự việc đ xảy ra trong dĩ v ng, bởi vì bản thân họ đ là một sự thật tồn tại hiển nhiên rồi. Cùng quan điểm với hai tác giả trên, Phạm Hồng Giang trong bài Góp một kiến về vấn đề nân cao chất lượn hi chép hồi k , đ cho rằng: người ghi hồi ký cần phải giấu kín cái tôi của mình đi, để khi đọc tác phẩm, độc giả không hoàn toàn trực tiếp nghe người kể kể chuyện. Và từ đó, tác giả khẳng định vai trò của người kể trong hồi ký: “Người kể vừa là người của quá khứ, vừa là người của hiện tại, ta không nên buộc họ phải dùng ngôn ngữ của quá khứ; họ có thể dùng ngôn ngữ của hiện tại để kể. Người ghi cần phải dùng phư ng pháp hư cấu để xây dựng hình tượng của mình đồng thời phải chuyển ngôn ngữ tự nhiên của người kể thành ngôn ngữ viết” [37, tr.
Vũ Đức Phúc trong bài Bàn về các thể k tron văn học từ Cách mạn thán Tám cho đến nay, đ đề cập đến tính hư cấu trong hồi ký. Theo tác giả: “Hư cấu trong tiểu thuyết là chọn lọc và khái quát sự thật về nhiều người để xây dựng một nhân vật không có thật nhưng tiêu biểu. Hư cấu trong hồi ký về một người là chọn lọc và khái quát những sự thật về người đó. Hai lối hư cấu trong văn học hiện thực đều có tính khoa học như nhau nhưng cách làm khác nhau vì đề tài ở hồi ký được quy định một cách nghiêm ngặt.
Nhân vật trong hồi ký không phải chỉ đại diện cho một tầng lớp x hội mà còn phải là hình ảnh rất 7 chính xác về một người có thật. Thành thật, không bịa đặt là điều kiện đầu tiên người ta đòi hỏi ở tư cách người viết hồi ký. Trong công trình K viết về chiến tranh cách mạn và xây dựn chủ n hĩa xã hội, Hà Minh Đức đ phân biệt sự khác nhau của cái tôi trong ký cũng như hồi ký với tiểu thuyết - tự truyện: “Người viết tiểu thuyết - tự truyện nói về mình, cuộc sống của mình, nhưng không giới hạn trong khuôn khổ đó. Họ luôn có xu hướng mở rộng để nói về cuộc đời chung.
Dòng tự truyện trực tiếp xoay quanh cái tôi luôn được mở rộng ra hết cảnh ngộ này đến cảnh ngộ khác, của cuộc đời trực tiếp và gián tiếp có liên hệ đến cái tôi” [28, tr. Còn “dòng kể của hồi ký có một mạch trôi trực tuyến h n xoay quanh cái tôi. Những sự kiện cũng ít móc nối vào nhau để mở ra những khung cảnh và liên hệ mới. Kết cấu của tác phẩm hồi ký cũng dựa chủ yếu vào kết cấu vốn có của cuộc đời thực và ít đổi thay tái tạo lại khung sự kiện” [28, tr.
Nhìn chung các nhà nghiên cứu đ đưa ra kiến giải nhưng chưa đi vào khảo sát có tính hệ thống từ nhiều tác phẩm của một tác giả và đối chiếu với các tác giả khác để thấy được đặc điểm thể hồi ký từ thực tiễn sáng tác. Chính vì vậy kết quả nghiên cứu chưa hệ thống hóa thành những luận điểm để làm c sở soi chiếu vào tác phẩm nhằm luận giải thỏa đoán về đặc trưng riêng của thể tài vốn có đời sống rất phong phú và đa dạng này trong quá trình phát triển trong sự vận động của đời sống văn học nước nhà. Nghiên cứu mang tính tổng quan về hồi ký văn học Việt Nam trước 1986 chưa thật sự được các nhà nghiên cứu quan tâm. Thông qua các bài nghiên cứu một tác giả, tác phẩm cụ thể, bước đầu các nhà nghiên cứu đưa ra những nhận định có tính khái quát về trong khoảng thời gian này.
Các tác giả: Hà Minh Đức, Bích Thu, Đỗ Hải Ninh, Lý Hoài Thu,. đ có nhiều nhận định sắc sảo và làm tiền đề cho c sở lý luận nghiên cứu thể hồi ký. Trước hết, các tác giả đều đi đến khẳng định: hồi ký trở thành hiện tượng văn học nở rộ, thể hồi ký càng phát triển h n nữa khi văn học được “cởi trói”, khi đời sống dân chủ được thúc đẩy và “cái tôi” cá nhân của tác giả trở thành 8 đối tượng phản ánh. Và sau đó, mỗi tác giả đi vào nghiên cứu những vấn đề cụ thể của thể hồi ký.
Một trong những công trình nghiên cứu văn học s đề cập đến thể hồi ký trong quá trình nghiên cứu lịch s văn học nước nhà là Giáo trình văn học Việt Nam hiện đại của trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Các tác giả đ đề cập: “Trong văn xuôi những năm 90 và vài năm gần đây, thấy nổi lên hai mảng đáng chú ý: hồi ký-tự truyện và tiểu thuyết lịch s. Một loạt hồi ký của các nhà văn, nhà th , cả những nhà hoạt động x hội đ đem lại cho người đọc những hiểu biết cụ thể, sinh động và xác thực về x hội, lịch s , về đời sống văn học và gư ng mặt một số nhà văn ở những thời kỳ đ qua” [111, tr. Trong mục Các thể k văn học của cuốn L luận văn học do Hà Minh Đức chủ biên, tác giả lý giải, dự đoán “trong tư ng lai sẽ có rất nhiều hồi ký, nhật ký xuất hiện khi người ta quan tâm đến cuộc đời riêng của nhiều loại người vốn có đóng góp hoặc nổi danh ở một lĩnh vực nào đó” [30, tr.
Từ đó khẳng định giá trị của hồi ký: “Đóng góp cho đời sống văn học bằng cuộc đời nghệ thuật đ trải qua nhiều chặng đường, những trang hồi ký của nhà văn đ gợi lên được những nhận thức có ý nghĩa chung cho mọi người về hiện thực x hội và đời sống văn học từ những câu chuyện xảy ra thuộc về một quá khứ gần gũi và có nhiều liên hệ với cuộc đời hiện tại” [30, tr. Nhà văn Nguyên Ngọc trong bài Văn xuôi Việt Nam hiện nay - logic quanh co của các thể loại, nhữn vấn đề đan đặt ra và triển vọn đ có nhận định chung về hồi ký sau 1975: “Một số năm gần đây, có phần lặng lẽ nhưng thâm trầm, xuất hiện một số hồi ký của các nhà văn. Từ sau chiến tranh, đ có rất nhiều hồi ký, có thể gọi là “hồi ký của các vị tướng”, kể lại chuyện chiến tranh của chính họ và đồng đội của họ. Ðôi khi những hồi ký này cung cấp được nhiều tư liệu lịch s đáng quý mà chính s đ bỏ qua:”.
Nguyên Ngọc chú ý đến hồi ký văn học, ít nhiều đ cho thấy nguyên nhân của sự phát triển hồi ký sau 1975. Theo tác giả: “Hồi ký của các nhà văn thì khác. Trong x hội nào cũng vậy, nhà văn là một kiểu ký ức của x hội. Nhà văn cũng là những người được x hội “giao cho” cái công việc thường xuyên tự soi lại mình của x hội trên con 9 đường đi tới của nó.
Cho nên khi nhà văn viết hồi ký thì có khác những người khác, đấy là x hội tự nói lại về chính mình (tất nhiên trong những hồi ký thành công). Rất đáng chú ý là hai tập hồi ký của Tô Hoài Cát bụi chân ai và Chiều chiều” [94].