Tổng quan luận án
Công trình nghiên cứu khoa học của tác giả Nguyễn Quang Hưng mang tên Đặc điểm hồi ký văn học Việt Nam từ 1975 đến 2010 thuộc chuyên ngành Văn học Việt Nam. Luận án tiếp cận đối tượng dưới góc độ thi pháp học thể loại và tự sự học, thực hiện trên nguồn văn bản hồi ký xuất bản trong nước qua các thời kỳ lịch sử.
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng từ sau năm 1975, đặc biệt là giai đoạn Đổi mới (sau 1986), văn học Việt Nam ghi nhận sự vận động, đổi mới căn bản về thể loại. Quan niệm văn học trước đây vốn phân định tôn ti: các thể loại hư cấu như thơ, tiểu thuyết giữ vị trí trung tâm, trụ cột; trong khi các thể tài phi hư cấu như hồi ký, nhật ký, thư từ, tản văn bị xếp vào khu vực cận văn học hoặc ngoại vi. Từ sau Đổi mới, ý thức "bình đẳng thể loại" dần được xác lập, xem mỗi thể loại là một cách thức nhận thức và giải minh thế giới riêng biệt. Hồi ký là một tiểu loại của ký, xuất hiện muộn, mang đặc điểm là thể loại "trẻ" nhưng chủ thể sáng tạo là những người có trải nghiệm lâu dài. Nhu cầu nhận thức lại quá khứ, giải tỏa những ẩn ức tinh thần, đưa "cái tôi" cá nhân thành đối tượng phản ánh đã thúc đẩy hồi ký phát triển mạnh mẽ. Tuy nhiên, trong lịch sử nghiên cứu thể ký, các tiểu loại như tùy bút, bút ký, du ký, phóng sự văn học đã có nhiều công trình nghiên cứu quy mô; riêng hồi ký vẫn chưa được quan tâm tương xứng với thực tiễn sáng tác. Khoảng trống này xuất phát từ hai nguyên nhân: một là thành tựu thể loại đòi hỏi độ lùi thời gian, các tác giả phải trải qua nhiều biến thiên lịch sử; hai là định kiến xem hồi ký thuộc vùng ngoại biên văn học vẫn chi phối giới phê bình.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định gồm hai nội dung chính:
- Tìm ra quy luật vận động, các bước phát triển về nội dung và nghệ thuật biểu hiện của thể hồi ký văn học Việt Nam giai đoạn từ năm 1975 đến năm 2010.
- Xác định các thành tựu và làm rõ những đóng góp của hồi ký đối với tiến trình phát triển của văn học Việt Nam hiện đại.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là đặc điểm của hồi ký văn học Việt Nam xuất bản từ năm 1975 đến năm 2010. Luận án tập trung khảo sát hồi ký của các nhà văn, nhà thơ có vị trí trong đời sống văn học và văn bản có giá trị thẩm mỹ, nghệ thuật ngôn từ. Tác giả chủ động loại trừ khỏi diện đối tượng nghiên cứu chính các tác phẩm hồi ký của chính trị gia, tướng lĩnh quân sự, nhà báo, những người hoạt động trong giới giải trí (diễn viên, ca sĩ, người mẫu, cầu thủ bóng đá) hoặc các cá nhân thông thường trong xã hội; những tác phẩm này chỉ đóng vai trò tư liệu tham khảo, đối chiếu.
Đối tượng khảo sát thực tế được luận án chia thành hai nhóm thế hệ tác giả:
- Nhóm tác giả sáng tác trước năm 1945: Tố Hữu (Nhớ lại một thời), Lưu Trọng Lư (Nửa đêm sực tỉnh), Mộng Tuyết (Núi Mộng gương Hồ), Anh Thơ (Hồi ký Anh Thơ gồm Từ bến sông Thương, Tiếng chim tu hú, Bên dòng chia cắt), Tô Hoài (Cát bụi chân ai, Chiều chiều), Quách Tấn (Hồi ký Quách Tấn), Huy Cận (Hồi ký Song Đôi).
- Nhóm tác giả sáng tác sau năm 1945: Đào Xuân Quý (Nhớ lại), Hoàng Minh Châu (Mất để mà còn), Ma Văn Kháng (Năm tháng nhọc nhằn năm tháng nhớ thương), Bùi Ngọc Tấn (Một thời để mất), Phan Tứ (Trong mưa núi).
Phạm vi nghiên cứu được giới hạn ở các phương diện: diện mạo và các khuynh hướng vận động của thể loại; đặc điểm nội dung (cảm quan hiện thực, chân dung nhân vật); và các phương thức nghệ thuật trần thuật (điểm nhìn, kết cấu, ngôn ngữ, giọng điệu) của hồi ký văn học trong khung thời gian 1975–2010 tại Việt Nam.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan lịch sử vấn đề trong luận án được phân chia thành hai nhóm công trình chính:
Nhóm thứ nhất gồm các công trình, bài báo nghiên cứu mang tính khái quát về thể hồi ký:
- Vấn đề nhân vật và tính chân thực: Nguyễn Thế Hưng và Lương Ích Cẩn trong bài viết Bàn thêm về mối quan hệ giữa người kể và người ghi trong hồi ký phân tích sự khác biệt giữa nhân vật tiểu thuyết (được xây dựng qua hư cấu, điển hình hóa) và nhân vật hồi ký (vừa là con người có thật trong quá khứ, vừa có thật trong hiện tại). Phạm Hồng Giang trong bài Góp một ý kiến về vấn đề nâng cao chất lượng ghi chép hồi ký đề cập kỹ thuật giấu cái tôi của người ghi và chuyển đổi ngôn ngữ nói tự nhiên thành ngôn ngữ viết.
- Vấn đề hư cấu: Vũ Đức Phúc trong bài Bàn về các thể ký trong văn học từ Cách mạng tháng Tám cho đến nay xác định hư cấu trong hồi ký là thao tác chọn lọc, khái quát những sự thật về một con người có thật, đòi hỏi sự thành thật và không bịa đặt.
- Vấn đề cái tôi trần thuật: Hà Minh Đức trong cuốn Ký viết về chiến tranh cách mạng và xây dựng chủ nghĩa xã hội và giáo trình Lý luận văn học phân biệt cái tôi trực tuyến trong hồi ký (dựa trên kết cấu cuộc đời thực) với cái tôi biến chuyển, mở rộng trong tiểu thuyết - tự truyện; đồng thời dự báo sự xuất hiện tất yếu của hồi ký khi đời sống xã hội chú ý đến số phận cá nhân.
- Vấn đề chức năng xã hội và biến đổi thi pháp: Nguyên Ngọc trong bài viết Văn xuôi Việt Nam hiện nay - logic quanh co của các thể loại, những vấn đề đang đặt ra và triển vọng phân biệt "hồi ký của các vị tướng" với hồi ký của nhà văn (nơi xã hội tự soi lại mình). Đỗ Hải Ninh chỉ ra nguyên nhân văn học tìm đến hồi ký như một cách tiếp cận hiện thực chiều sâu, phân tích giọng tự thú, tự vấn và yếu tố giễu nhại. Lý Hoài Thu trong bài Hồi ký và bút ký thời kỳ đổi mới nhấn mạnh sự chuyển dịch từ đề tài vĩ mô sang đề tài vi mô đời thường, sự mở rộng đường biên thể loại và tính đa dạng của giọng điệu trần thuật. Bích Thu khẳng định dấu ấn cái tôi nhà văn trong các tác phẩm ký và hồi ký thời kỳ Đổi mới. Giáo trình văn học Việt Nam hiện đại của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội cũng ghi nhận sự nổi lên của mảng hồi ký - tự truyện từ thập niên 90 của thế kỷ XX.
Nhóm thứ hai gồm các công trình nghiên cứu theo từng tác giả, tác phẩm cụ thể:
- Về hồi ký của Tô Hoài: Các bài viết của Vân Thanh, Võ Xuân Quế, Phong Lê, Đặng Tiến, Vương Trí Nhàn, Xuân Sách, Trần Đức Tiến, Yên Ba, Nguyễn Văn Thọ; bài nghiên cứu của Nguyễn Đăng Điệp (về chất tiểu thuyết, nghệ thuật dựng không khí), Đặng Thị Hạnh (về cấu trúc thời gian nghệ thuật đa tầng, đối chiếu với Chateaubriand); các luận án, luận văn của Lê Minh Hiền, Đoàn Thị Thúy Hạnh, Trương Thị Huyền, Lê Thị Biên, Trần Thị Mai Phương, Nguyễn Hoàng Hà, Nguyễn Thị Nguyên.
- Về hồi ký của Anh Thơ: Tập tiểu luận Đẹp mãi bức tranh quê quy tụ bài viết của Vũ Quần Phương, Phạm Tú Châu, Xuân Cang, Trần Cư, Lý Thị Trung, Nguyễn Hoàng Sơn; các mục từ, bài viết của Nguyễn Văn Long, Nguyễn Ngọc Hiền, Trần Hoàng Thiên Kim.
- Về hồi ký của Mộng Tuyết: Ý kiến của Huy Cận, bài viết của Vũ Thanh, Đoàn Minh Tuấn, Lê Thị Thanh Tâm, luận văn của Nguyễn Thị Xuân Mai.
- Về hồi ký của Ma Văn Kháng: Bài viết của Hồ Anh Thái, Nguyễn Ngọc Thiện, Bùi Bình Thi, Đinh Hương Bốn, Thi Thi; công trình của Nguyễn Thị Nguyên, Lê Thị Kim Liên.
- Về các tác giả khác: Mai Hương và Trần Đình Sử nghiên cứu hồi ký của Tố Hữu; Lê Xuân Việt viết về hồi ký của Xuân Hoàng; Lam Điền và Đặng Ngọc Huyền nghiên cứu hồi ký của Huy Cận, Lưu Trọng Lư; Đặng Thị Hảo viết về Đào Xuân Quý; nhóm tác giả Văn Long, Đình Kính, Phạm Xuân Nguyên, Trần Thiện Đạo, Lê Minh Hà, Khánh Phương nghiên cứu tác phẩm của Bùi Ngọc Tấn.
Khoảng trống mà luận án lựa chọn giải quyết là: Các nghiên cứu trước đây phần lớn dừng lại ở các bài viết nhỏ lẻ, mang tính cảm thụ hoặc chỉ tập trung vào một vài trường hợp cá biệt (Cát bụi chân ai, Chiều chiều của Tô Hoài). Chưa có một công trình nào khảo sát hồi ký văn học Việt Nam giai đoạn 1975–2010 như một hệ thống hoàn chỉnh dưới góc độ thi pháp thể loại, nhằm làm rõ diện mạo, quy luật vận động nội tại và phương thức trần thuật của loại thể này.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án vận dụng hệ thống lý thuyết văn học hiện đại gồm:
- Lý thuyết thể loại văn học: Dùng để phân định ranh giới, đặc trưng và sự giao thoa giữa hồi ký với các tiểu loại ký khác và tiểu thuyết; tiếp thu luận điểm của M. Bakhtin về tính đồng đẳng giá trị của các thể loại và quan niệm thể loại như một thái độ thẩm mỹ đối với hiện thực.
- Thi pháp học và Tự sự học: Vận dụng các phạm trù về cái nhìn nghệ thuật, hình tượng tác giả, người kể chuyện, tổ chức điểm nhìn, cấu trúc thời gian - không gian và giọng điệu trần thuật để giải mã văn bản.
Hệ thống phương pháp nghiên cứu được tác giả sử dụng bao gồm:
- Phương pháp loại hình: Phân loại các hiện tượng văn học, xác định đặc trưng bản thể của hồi ký, làm rõ mối quan hệ giữa quy luật vận động chung của thời đại với quy luật nội tại của thể loại.
- Phương pháp cấu trúc - hệ thống: Xem xét hồi ký văn học giai đoạn 1975–2010 như một chỉnh thể nghệ thuật hoàn chỉnh trong mối liên hệ hữu cơ giữa lý thuyết thể loại và thực tiễn sáng tác, giữa bình diện nội dung và hình thức nghệ thuật.
- Phương pháp so sánh - đối chiếu: Đối sánh hồi ký giai đoạn 1975–2010 với hồi ký các giai đoạn trước (trước 1945, 1945–1975); so sánh giữa các thế hệ tác giả và so sánh giữa hồi ký với các thể loại tự sự khác (tiểu thuyết, tự truyện).
- Phương pháp thống kê - phân loại: Thu thập, lập danh mục tác giả, tác phẩm, phân loại dữ liệu theo đề tài, khuynh hướng cảm hứng và cấu trúc trần thuật.
- Thao tác phân tích, tổng hợp: Mổ xẻ các chi tiết nghệ thuật, cấu trúc văn bản cụ thể từ các tập hồi ký để rút ra những nhận định khái quát.
Nguồn tư liệu nghiên cứu của luận án là các văn bản hồi ký văn học xuất bản tại Việt Nam trong giai đoạn 1975–2010.
| Nhóm tác giả |
Tác giả tiêu biểu |
Tác phẩm khảo sát chính |
| Thế hệ sáng tác trước năm 1945 |
Tô Hoài |
Cát bụi chân ai, Chiều chiều |
|
Anh Thơ |
Hồi ký Anh Thơ (Từ bến sông Thương, Tiếng chim tu hú, Bên dòng chia cắt) |
|
Mộng Tuyết |
Núi Mộng gương Hồ |
|
Huy Cận |
Hồi ký Song Đôi |
|
Lưu Trọng Lư |
Nửa đêm sực tỉnh |
|
Tố Hữu |
Nhớ lại một thời |
|
Quách Tấn |
Hồi ký Quách Tấn |
| Thế hệ sáng tác sau năm 1945 |
Ma Văn Kháng |
Năm tháng nhọc nhằn năm tháng nhớ thương |
|
Bùi Ngọc Tấn |
Một thời để mất |
|
Đào Xuân Quý |
Nhớ lại |
|
Phan Tứ |
Trong mưa núi |
|
Hoàng Minh Châu |
Mất để mà còn |
|
Xuân Hoàng |
Âm vang thời chưa xa |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 1 tổng thuật và đánh giá toàn diện các công trình nghiên cứu về thể hồi ký trong văn học Việt Nam. Nội dung chương chia thành hai trục chính: các nghiên cứu lý luận khái quát và các nghiên cứu chuyên sâu về từng tác giả, tác phẩm.
Về mặt lý luận, các nhà nghiên cứu đi trước đã từng bước làm rõ tính chất phức hợp của hồi ký: sự phân biệt giữa nhân vật có thật trong hồi ký và nhân vật điển hình hư cấu trong tiểu thuyết; vấn đề khoảng cách thời gian giữa thời điểm sự việc diễn ra và thời điểm trần thuật; bản chất của hư cấu trong hồi ký (chọn lọc, tái cấu trúc sự thật chứ không bịa đặt). Về mặt tác gia, Tô Hoài là tác giả nhận được sự chú ý nhiều nhất với hai tập hồi ký Cát bụi chân ai và Chiều chiều, được giới phê bình ghi nhận ở nghệ thuật trần thuật không bi kịch hóa, tính chất liên hoàn xuyên văn bản và cái nhìn đời thường đối với giới văn nghệ sĩ. Các tác giả như Anh Thơ, Mộng Tuyết, Ma Văn Kháng, Bùi Ngọc Tấn cũng được phân tích ở các khía cạnh về thân phận nhà văn nữ, mối duyên văn chương, sự tự vấn và tính chân thực của bức tranh thế sự.
Tiểu kết chương khẳng định, dù số lượng bài viết tương đối phong phú, phần lớn các công trình vẫn mang tính đơn lẻ, thiên về cảm thụ, bình điểm hoặc chỉ khảo sát phạm vi một tác giả. Chương 1 chỉ ra sự cần thiết phải có một công trình nghiên cứu mang tính bao quát, hệ thống hóa thể hồi ký văn học giai đoạn 1975–2010 trên cả hai bình diện nội dung và hình thức thi pháp.
Chương 2: Diện mạo hồi ký trong văn học Việt Nam hiện đại
Chương 2 thiết lập cơ sở lý thuyết về thể loại và phục dựng tiến trình lịch sử phát triển của hồi ký trong văn học Việt Nam hiện đại.
Về giới thuyết thể loại, tác giả phân tích khái niệm hồi ký từ góc độ từ nguyên (hình thức chiết tự Hán - Việt: "hồi" là quay lại, "ký" là ghi chép) và đối chiếu với các định nghĩa trong Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê, Từ điển tường giải và liên tưởng tiếng Việt của Nguyễn Văn Đạm, và Từ điển thuật ngữ văn học. Tác giả chỉ ra rằng các định nghĩa truyền thống thường đóng khung hồi ký vào việc ghi chép thụ động người thật việc thật theo trật tự thời gian. Trên thực tế nghệ thuật, hồi ký mang tính chủ quan sâu sắc của người kể chuyện: ký ức luôn chịu tác động của quy luật quên lãng, chọn lọc và sắp xếp chi tiết. Hồi ký không nhằm thông tin sự thật lịch sử thuần túy mà là sự thật được mỹ hóa qua lăng kính thẩm mỹ của nhà văn. Phương thức vận hành cốt lõi của hồi ký là "dòng hồi tưởng" – một cơ chế tâm lý tự nhiên có nét tương đồng nhưng phân biệt với kỹ thuật "dòng ý thức" trong tiểu thuyết phương Tây hiện đại.
Về phân loại thể loại, luận án xác lập các tiêu chí phân loại cụ thể:
- Dựa vào hình thức và khuôn khổ thể loại: Hồi ký theo khuôn mẫu truyền thống (ngôi thứ nhất, tôn trọng sự thật lịch sử) và hồi ký có sự dung hợp, nới rộng đường biên thể loại (giao thoa với tự truyện, tiểu thuyết).
- Dựa vào đề tài và chủ đề: Hồi ký lịch sử, hồi ký đời tư, hồi ký chân dung.
- Dựa vào cảm hứng chủ đạo: Khuynh hướng tôn vinh, ngợi ca (thường thấy ở hồi ký cách mạng); khuynh hướng nhận thức lại (soi chiếu mảng hiện thực khuất lấp, đời tư, thế sự); khuynh hướng tự trào (giễu nhại, hài hước).
- Dựa vào bản chất hướng ngoại hay hướng nội: Hồi ký hướng ngoại (tập trung vào biến cố lịch sử, bối cảnh thời đại) và hồi ký hướng nội (tập trung vào chiêm nghiệm, phán xét bản ngã).
Về tiến trình phát triển lịch sử, chương 2 chia thành hai chặng đường lớn:
- Giai đoạn trước 1975: Văn học trung đại hầu như vắng bóng hồi ký do ý thức cá nhân bị kìm giữ trong tư tưởng phong kiến cộng đồng. Giai đoạn đầu thế kỷ XX xuất hiện các tác phẩm mang tính ghi chép, du ký của Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Bá Trác, Phạm Quỳnh, Phan Bội Châu, Tản Đà. Giai đoạn 1930–1945, sự thức tỉnh của cái tôi cá nhân tạo tiền đề cho các tác phẩm tự thuật của Nguyễn Tuân, Nguyên Hồng (Những ngày thơ ấu), Tô Hoài (Cỏ dại), Lê Văn Hiến (Ngục Kon Tum). Giai đoạn 1945–1975, hồi ký phong phú hơn với các tác phẩm của Vũ Bằng (Bốn mươi năm nói láo), Nguyễn Vỹ (Văn thi sĩ tiền chiến), Nguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng, Vũ Hoàng Chương (Ta đã làm chi đời ta), Đào Duy Anh (Nhớ nghĩ chiều hôm), cùng hệ thống hồi ký cách mạng, quân sự của Trần Đăng Ninh, Võ Nguyên Giáp, Hoàng Quốc Việt, Nguyễn Thị Định.
- Giai đoạn 1975 đến 2010 ("Những mùa vàng hồi ký"): Đất nước hòa bình, văn học chuyển từ khuynh hướng sử thi sang khuynh hướng đời tư - thế sự, con người cá nhân trỗi dậy mãnh liệt. Hồi ký trở thành phương tiện đáp ứng nhu cầu tổng kết cuộc đời, nhìn nhận lại các thăng trầm lịch sử và giải tỏa các ẩn ức sáng tạo. Lực lượng sáng tác gồm hai thế hệ: các nhà văn tiền chiến trước 1945 (Tô Hoài, Anh Thơ, Mộng Tuyết, Quách Tấn, Huy Cận, Lưu Trọng Lư) và thế hệ trưởng thành sau 1945 (Ma Văn Kháng, Bùi Ngọc Tấn, Đào Xuân Quý, Hoàng Minh Châu, Phan Tứ).
Chương 3: Cảm quan về hiện thực và các dạng chân dung nhân vật của hồi ký văn học Việt Nam từ 1975 đến 2010
Chương 3 đi sâu phân tích bình diện nội dung phản ánh của hồi ký giai đoạn 1975–2010 thông qua hai phạm trù: cảm quan hiện thực và nghệ thuật xây dựng chân dung nhân vật.
Về cảm quan hiện thực:
- Hiện thực đời sống xã hội qua những biến thiên lịch sử: Khác với cái nhìn sử thi một chiều thời chiến, các tác giả hồi ký sau 1975 nhìn nhận lịch sử bằng cái nhìn đa chiều, thấu suốt và điềm tĩnh. Hiện thực được tái hiện không chỉ ở bề mặt chiến công mà bộc lộ các góc khuất, những thử thách khắc nghiệt, những va đập xã hội trong các giai đoạn lịch sử phức tạp (kháng chiến, cải cách, thời bao cấp).
- Hiện thực đời người qua những bước thăng trầm: Luận án phân tích cách nhà văn tiếp cận số phận cá nhân. Hiện thực đời người gắn liền với những bi kịch, những nỗi nhọc nhằn mưu sinh, nỗi buồn đau và những chấn thương tinh thần. Sự phản ánh này đưa hiện thực trở về với tính chất mộc mạc, bộn bề của đời sống thường nhật.
Về các dạng chân dung nhân vật:
- Chân dung tự họa (chủ thể hồi ký văn học): Cái tôi tác giả trong hồi ký không còn xuất hiện như một biểu tượng hoàn hảo hay người đại diện phát ngôn cho cộng đồng, mà hiện lên với đầy đủ tính chất trần thế. Đó là một cái tôi đa diện: vừa là người quan sát tỉnh táo, vừa là kẻ tự vấn, tự thú về những sai lầm, ảo tưởng, thói tật hay sự bất lực của chính mình trước hoàn cảnh.
- Chân dung được họa (nhân vật trong hồi ký văn học): Thế giới nhân vật quanh chủ thể gồm bạn bè, đồng nghiệp, văn nghệ sĩ cùng thời và người thân. Các nhân vật này được khắc họa ở "cự ly gần", xóa bỏ khoảng cách tôn sùng hay nghiêm trang hóa. Nhà văn miêu tả đồng nghiệp với những nét tính cách góc cạnh, thói quen sinh hoạt đời thường, tài năng lẫn những tật xấu, tạo nên bức tranh chân thực về giới văn nghệ sĩ Việt Nam qua các thời kỳ.
Chương 4: Nghệ thuật trần thuật của hồi ký văn học Việt Nam từ 1975 đến 2010
Chương 4 khảo sát toàn diện các phương thức và kỹ thuật nghệ thuật trần thuật tạo nên chất lượng thẩm mỹ của thể loại.
Về trần thuật từ ngôi tác giả và tổ chức điểm nhìn:
- Sự chuyển hóa hình tượng tác giả vào người kể chuyện: Người kể chuyện xưng "tôi" trong hồi ký mang tính hai chiều: vừa là người của quá khứ (trải nghiệm sự việc), vừa là người của hiện tại (đánh giá, chiêm nghiệm lại sự việc bằng nhận thức mới).
- Sự luân chuyển điểm nhìn: Luận án phân tích sự luân chuyển linh hoạt giữa điểm nhìn bên trong (nội tâm, cảm xúc cá nhân) và điểm nhìn bên ngoài (ghi nhận khách quan sự kiện xã hội); giữa điểm nhìn của quá khứ ngây thơ và điểm nhìn trải đời của tuổi già.
Về đa dạng hóa kết cấu trần thuật:
- Kết cấu tuyến tính: Trình bày sự kiện theo trục thời gian niên biểu lịch sử, từ ấu thơ đến trưởng thành.
- Kết cấu lắp ghép: Phá vỡ trật tự thời gian cơ học, sắp xếp các đoạn hồi ức theo không gian, sự kiện hoặc theo trường liên tưởng tâm lý của dòng hồi tưởng.
- Kết cấu liên văn bản: Đan cài các văn bản phi hư cấu khác như thư từ, nhật ký, trang bản thảo, bài thơ, công văn hoặc trích dẫn tác phẩm của chính mình và bạn bè vào mạch trần thuật.
Về sự đa dạng của ngôn ngữ trần thuật:
- Ngôn ngữ người kể chuyện: Mang tính thẩm mỹ cao, kết hợp giữa ngôn ngữ miêu tả tạo hình giàu chất văn xuôi với ngôn ngữ suy tưởng, bình luận thế sự.
- Ngôn ngữ nhân vật: Được cá tính hóa triệt để, sử dụng lớp khẩu ngữ, từ ngữ sinh hoạt đời thường, giữ lại nguyên vẹn giọng điệu địa phương và ngữ khí thực tế của từng nhân vật.
Về giọng điệu trần thuật: Luận án phân loại bốn sắc thái giọng điệu cơ bản chi phối các văn bản hồi ký giai đoạn này:
- Giọng triết lý, suy tư: Trầm tĩnh đúc kết những quy luật nhân sinh, lẽ đời và bài học văn nghiệp.
- Giọng trữ tình, hoài niệm: Xúc cảm tha thiết khi nhớ về quá khứ, quê hương, người thân và những kỷ niệm đã mất.
- Giọng dí dỏm, hài hước: Cách nhìn trào tiếu, hóm hỉnh trước nghịch cảnh, thói tật đời thường và những sự cố trớ trêu của lịch sử.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định các kết quả nghiên cứu và đóng góp mới trên hai phương diện lý luận và thực tiễn:
Về mặt lý luận:
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận về thể hồi ký, đưa ra các kiến giải khoa học góp phần xác định các đặc trưng thi pháp của tiểu loại hồi ký văn học, phân biệt ranh giới và chỉ ra sự dung hợp giữa hồi ký với tiểu thuyết và tự truyện.
- Làm rõ cơ chế "dòng hồi tưởng" như một đặc tính nghệ thuật bản thể của hồi ký trong mối tương quan với các lý thuyết tự sự hiện đại.
Về mặt thực tiễn văn học sử:
- Đây là công trình chuyên biệt, bao quát một cách hệ thống diện mạo, tiến trình vận động và thành tựu của bộ phận hồi ký văn học Việt Nam trong suốt giai đoạn từ năm 1975 đến năm 2010.
- Khảo sát cụ thể các tác phẩm tiêu biểu của hai thế hệ nhà văn, chỉ ra sự chuyển biến trong tư duy nghệ thuật từ cảm quan sử thi sang cảm quan đời tư - thế sự.
- Phân tích chi tiết hệ thống thi pháp trần thuật (tổ chức điểm nhìn, kết cấu đa dạng, ngôn ngữ cá tính hóa, sự phối thanh của các giọng điệu), khẳng định cá tính sáng tạo của các tác giả trong việc làm mới thể loại.
- Góp phần định vị vai trò, vị trí và giá trị của hồi ký trong nền văn học dân tộc giai đoạn sau 1975.
Về kiến nghị khoa học:
- Luận án đề xuất giới nghiên cứu văn học sử cần nhìn nhận hồi ký như một bộ phận hợp thành hữu cơ của tiến trình văn học dân tộc, không tiếp tục duy trì định kiến xem đây là thể tài ngoại biên hay cận văn học.
- Đề xuất khai thác nguồn tư liệu hồi ký văn học một cách thận trọng, kết hợp giữa giá trị kiểm chứng lịch sử và giá trị tiếp nhận thẩm mỹ.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, luận án tự xác định phạm vi khảo sát chỉ tập trung vào hồi ký của các nhà văn, nhà thơ có vị trí trong đời sống văn nghệ và có văn bản đạt giá trị nghệ thuật ngôn từ. Luận án chưa thể bao quát toàn bộ diện mạo hồi ký của các nhóm xã hội khác như chính trị gia, nhà hoạt động cách mạng, tướng lĩnh quân đội, nhà báo, nghệ sĩ biểu diễn và người bình thường trong xã hội. Mặt khác, mốc thời gian khảo sát dừng lại ở năm 2010, chưa cập nhật thực tiễn xuất bản phong phú của thể hồi ký trong hơn một thập kỷ tiếp theo.
Về hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng diện khảo sát sang mảng hồi ký ngoài văn học (hồi ký quân sự, chính trị, văn hóa, giải trí) để so sánh đối chiếu diện mạo thể loại trên bình diện văn hóa học.
- Tiếp tục khảo sát sự phát triển của hồi ký văn học Việt Nam từ sau năm 2010 đến nay trong bối cảnh văn hóa truyền thông và xuất bản số hóa.
- Nghiên cứu sâu hơn mối quan hệ giữa hồi ký với các lý thuyết văn hóa ký ức (cultural memory) và tâm lý học tiếp nhận.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn đối với:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên ngành Văn học Việt Nam, Lý luận văn học: Cung cấp khung lý thuyết thể loại, hệ thống thao tác phân tích tự sự học đối với văn bản phi hư cấu.
- Giảng viên giảng dạy văn học Việt Nam hiện đại: Cung cấp tư liệu văn học sử chi tiết về hai thế hệ nhà văn (trước và sau 1945), phục vụ bài giảng về giai đoạn văn học Đổi mới.
- Các nhà phê bình văn học, biên tập viên nhà xuất bản: Hỗ trợ tiêu chí thẩm định, phân loại và đánh giá giá trị thẩm mỹ, giá trị tư liệu của các bản thảo hồi ký, tự truyện.
Phần đáng tham khảo nhất trong luận án là Chương 2 (về phân loại và tiến trình lịch sử thể loại) cùng Chương 4 (về thi pháp trần thuật, nghệ thuật tổ chức điểm nhìn và giọng điệu).
Câu hỏi thường gặp
1. Hư cấu trong hồi ký khác với hư cấu trong tiểu thuyết như thế nào theo luận án?
Theo luận án (dẫn giải từ quan điểm của Vũ Đức Phúc và phân tích của tác giả), hư cấu trong tiểu thuyết là quá trình nhào nặn, tổng hợp chi tiết từ nhiều người có thật để tạo nên một nhân vật điển hình không có thật. Ngược lại, hư cấu trong hồi ký không phải là bịa đặt, mà là thao tác chủ quan của nhà văn trong việc lựa chọn, sắp xếp, tổ chức các tư liệu, sự kiện có thật về một con người có thật nhằm tái hiện bản chất hiện thực một cách sinh động nhất.
2. Tại sao hồi ký văn học trước năm 1975 chưa phát triển thành một thể loại độc lập có nhiều thành tựu lớn?
Thời kỳ trung đại, ý thức cá nhân bị triệt tiêu dưới hệ tư tưởng phong kiến và mô hình văn hóa cộng đồng. Giai đoạn 1930–1945, dù ý thức cá nhân thức tỉnh nhưng đội ngũ sáng tác còn quá trẻ, thiếu độ lùi thời gian để chiêm nghiệm, tổng kết cuộc đời. Giai đoạn 1945–1975, hoàn cảnh chiến tranh yêu cầu văn học tập trung phục vụ nhiệm vụ chính trị, cảm hứng sử thi chi phối khiến các vấn đề đời tư cá nhân chưa có điều kiện phát triển độc lập; hồi ký thời kỳ này chủ yếu là hồi ký cách mạng và chiến tranh mang tính tập thể.
3. Cơ chế "dòng hồi tưởng" trong hồi ký có mối quan hệ như thế nào với kỹ thuật "dòng ý thức" của phương Tây?
Luận án chỉ ra rằng "dòng ý thức" là kỹ thuật tự sự khởi phát từ đầu thế kỷ XX ở phương Tây nhằm ghi lại trực tiếp thế giới nội tâm vô thức. Trong khi đó, ở hồi ký, việc kể theo mạch liên tưởng, nhớ đến đâu kể đến đó là cơ chế tâm lý tự nhiên của dòng hồi ức chứ không đơn thuần là thủ pháp kỹ thuật du nhập. Tuy nhiên, sau năm 1986, các tác giả hồi ký đã chủ động khai thác cơ chế tự nhiên này để tạo nên cấu trúc trần thuật phi tuyến tính linh hoạt.
4. Hai tập hồi ký Cát bụi chân ai và Chiều chiều của Tô Hoài có vị trí như thế nào trong luận án?
Hai tác phẩm này được luận án xác định là những văn bản tiêu biểu nhất, đánh dấu bước phát triển vượt bậc về nghệ thuật của hồi ký văn học Việt Nam sau năm 1975. Tác phẩm của Tô Hoài mở ra cái nhìn không nghiêm trọng hóa, miêu tả văn nghệ sĩ ở cự ly gần đời thường, sử dụng cấu trúc thời gian hoài niệm phức hợp và ngôn ngữ trần thuật tự nhiên, hóm hỉnh.
5. Luận án phân chia hồi ký theo những khuynh hướng cảm hứng chủ đạo nào?
Luận án phân loại hồi ký thành ba khuynh hướng cảm hứng chính: khuynh hướng tôn vinh, ngợi ca (tập trung vào chiến công cách mạng và sự nghiệp nhân vật lịch sử); khuynh hướng nhận thức lại (soi chiếu lại các sự kiện phức tạp trong quá khứ, giải tỏa ẩn ức, hướng vào đời tư - thế sự); và khuynh hướng tự trào (nhìn nhận bản thân và hoàn cảnh bằng thái độ hài hước, giễu nhại).
Kết luận
Luận án Đặc điểm hồi ký văn học Việt Nam từ 1975 đến 2010 của tác giả Nguyễn Quang Hưng là một công trình nghiên cứu hệ thống về một thể tài vốn bị xếp ở vị trí ngoại vi văn học. Bằng việc kết hợp lý thuyết thể loại với các công cụ tự sự học và thi pháp học hiện đại, luận án đã phục dựng toàn diện tiến trình vận động, cảm quan hiện thực và phương thức trần thuật của hồi ký trong giai đoạn Đổi mới. Công trình làm rõ những đóng góp của thể hồi ký đối với sự đa dạng hóa thể loại của văn học Việt Nam hiện đại, đồng thời xác lập nguồn tư liệu học thuật đáng tin cậy cho công tác nghiên cứu và giảng dạy văn học sử.