Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Những nghiên cứu về giao tiếp và đặc điểm giao tiếp 1. Những nghiên cứu về giao tiếp Giao tiếp là vấn đề được các nhà khoa học, nhà tâm lý học trên thế giới quan tâm từ rất lâu và đã trở thành một ngành khoa học được nhiều người nghiên cứu với nhiều góc độ khác nhau. Đến cuối thế kỷ XX, nhiều công trình nghiên cứu về giao tiếp ra đời: Tác phẩm “Giao tiếp là đối tượng nghiên cứu về lý luận và thực tiễn” của tập thể các tác giả Lêningrad (1972); “Về bản chất con người” của X.Xôcôpnhin (1973); “Tâm lý học giao tiếp” của A.
Leonchev (1974); “Giao tiếp là vấn đề của tâm lý học đại cương” của B.Lomov (1975); “Hoạt động và giao tiếp” của A. Leonchev (1979); “Vấn đề giao tiếp trong tâm lý học” của K. Platônov (1981); “Những khó khăn tâm lý giao tiếp giữa các nhân cách” của E. Surcanova (1985); “Thế giới giao tiếp” của M.
Kagan (1988); “Sự phát triển giao tiếp của trẻ em trước tuổi học với bạn cùng tuổi” của A. Đặc biệt, ở Liên Xô, các nhà tâm lý học đã nghiên cứu về giao tiếp theo nhiều góc độ như: giao tiếp với sự hình thành ý thức tự giác của cá nhân, mối quan hệ của cá nhân với nhóm, mối quan hệ giữa nhóm với nhóm. Qua nghiên cứu về giao tiếp, từ khi xuất hiện Tâm lý học giao tiếp thì khái niệm, bản chất của giao tiếp chưa bao giờ thống nhất hoàn toàn. Mỗi tác giả đề cập đến một mặt, một khía cạnh của hoạt động giao tiếp và có ba quan điểm chính: - Quan điểm thứ nhất, coi giao tiếp là quá trình truyền thông tin: Với góc độ này, theo Peter Drucker “chính người nhận thông điệp mới là người giao tiếp vì chỉ có sự giao tiếp khi có người nghe và đáp ứng” [40, 18].
Theo tác giả, giao tiếp chỉ mang tính một chiều ở người nhận mà thôi, điều này chưa lý giải tính chủ thể và tương tác trong giao tiếp. Quan niệm trên cho thấy J.Gruere chỉ chú ý đến việc chuyển tải thông điệp từ “một bộ phát” đến “một bộ thu” thể hiện giao tiếp diễn ra một chiều. Ông nhấn mạnh đến khâu truyền thông tin mà không để ý đến thái độ, cảm xúc, tâm lý của người “phát” và người “thu” dẫu biết rằng quá trình giao tiếp diễn ra thông qua một số yếu tố như tác giả gọi đó là “ngu n, kênh, địa chỉ”[40].Platônov và cộng sự cho rằng “giao tiếp là sự trao đổi thông tin giữa những con người với nhau và giao tiếp đó là sự tác động lẫn nhau trên cơ sở phản ánh tâm lý lẫn nhau”[76]. Như vậy, theo các tác giả, giao tiếp không chỉ đơn thuần là trao đổi thông tin mà nhờ trao đổi thông tin đó, con người tác động lẫn nhau thông qua các quy luật, xúc cảm, tình cảm.
tâm lý trong đời sống con người. Theo Laswell: “giao tiếp nói theo nghĩa hẹp là truyền đi một thông điệp, nhưng nay được hiểu là làm cho hai con người cùng chấp nhận một cái gì là chung nhờ một quá trình hai chiều”[Dẫn theo 21]. Như vậy, Laswell đã quan tâm đến tính hai chiều trong quá trình giao tiếp chứ không chỉ đơn thuần là sự tác động một chiều như quan niệm của J. Tuy nhiên trong thực tế giao tiếp không phải lúc nào con người cũng đi đến một sự thống nhất, một sự chấp nhận một cái gì chung mà có thể mâu thuẫn với nhau và không chấp nhận một cái chung.
Qua trên cho thấy, các tác giả mô tả quá trình giao tiếp bằng quá trình truyền tin qua bộ mã hóa thông tin, bộ phát thông tin, môi trường truyền thông tin, bộ nhận thông tin, bộ giải mã và quá trình phản h i. Nếu bộ giải mã và bộ mã hóa không tương thích với nhau thì thông tin nhận được có thể bị biến đổi. Họ chỉ chú ý đến sự trao đổi thông tin trong giao tiếp mà chưa quan tâm đến người nhận thông tin và thái độ cảm xúc của họ khi nhận được những thông tin đó. Trong giao tiếp, trao đổi thông tin là một trong những chức năng tạo nên và duy trì quá trình giao tiếp.
Tuy nhiên, chủ thể và đối tượng giao tiếp còn bày tỏ quan điểm, thái độ, hành vi. khi tiếp nhận được thông tin đó thông qua hoạt động cùng nhau chứ không chỉ đơn thuần là tiếp nhận nó. Với quan điểm trên, cần nghiên cứu giao tiếp trong mối quan hệ mang tính chỉnh thể của nó, bởi lẽ ngoài việc tiếp nhận và trao đổi thông tin thì 9 giao tiếp còn tác động mạnh mẽ đến nhận thức, xúc cảm, tình cảm của con người. Giao tiếp không phải là thông tin mà thông tin là chức năng của giao tiếp.
- Quan điểm thứ hai, coi giao tiếp là một dạng hoạt động: Theo A.Leonchev, giao tiếp như một dạng của hoạt động. Ông cho rằng, cũng như các dạng hoạt động khác, giao tiếp hướng tới những mục đích xác định, giao tiếp được thúc đẩy bởi những động cơ nhất định, giao tiếp được diễn ra nhờ các phương tiện ngôn ngữ, phi ngôn ngữ.Leonchev đưa ra định nghĩa về giao tiếp: “Giao tiếp là một hệ thống những quá trình có mục đích, có động cơ bảo đảm sự tương tác giữa người này với người khác trong hoạt động tập thể, thực hiện các quan hệ xã hội và nhân cách, các hoạt động tâm lý và sử dụng những phương tiện đặc thù, trước hết là ngôn ngữ” [41]. Tác giả Pat Petrie cho rằng: “Giao tiếp giữa người với người diễn ra ở mọi độ tuổi. Họ nói chuyện, nghe, quan sát và phản ứng lại nhau, trao đổi nhiều loại thông tin bằng nhiều cách khác nhau như dùng nét mặt, cơ thể và giọng nói.
Theo Pat Petrie, giao tiếp là sự trao đổi luôn có ít nhất hai người tham gia và giao tiếp xảy ra khi một người gửi đi thông điệp và người kia nhận nó. Giao tiếp là quá trình hai chiều” [Dẫn theo 4]. Theo hai tác giả J C.Schmidt cho rằng: “giao tiếp là hoạt động giao lưu, tiếp xúc, trao đổi tình cảm, tư tưởng, thông tin, liên kết hành động giữa hai hay nhiều người” [104], qua đó hai tác giả đã mở rộng hơn khái niệm giao tiếp, thể hiện trong các mối quan hệ giữa nhiều chủ thể. Khi đánh giá quan điểm của hai ông, nhiều nhà tâm lý học như Đ.
cho rằng, ý kiến của các nhà tâm lý học trên đều có mặt hợp lý và chưa hợp lý, chưa thỏa đáng.Leochev khi bảo vệ quan điểm cho rằng giao tiếp là dạng đặc biệt của hoạt động có đối tượng đã lý giải chưa xác đáng về đối tượng, động cơ, chủ thể của hoạt động này; trong khi B.Lomov lại quá nhấn mạnh đến phạm trù giao tiếp cũng đi đến chỗ khó giải thích một số trường hợp giao tiếp tham gia vào hoạt động có đối tượng như là điều kiện thiết yếu của hoạt động.[24] Phần lớn các nhà tâm lý học theo hướng này cho rằng: Hoạt động là quy luật chung nhất của tâm lý học người, giao tiếp là một dạng hoạt động phản ánh mối 10 quan hệ chủ thể - chủ thể. Hoạt động có đối tượng phản ánh mối quan hệ chủ thể - khách thể. Hai khái niệm này ngang bằng nhau và có quan hệ gắn bó khăng khít với nhau trong phạm trù hoạt động, là hai mặt thống nhất của cuộc sống con người, của sự phát triển tâm lý. - Quan điểm thứ ba coi giao tiếp là phạm trù tương đối độc lập với phạm trù hoạt động.
Hoạt động và giao tiếp khác nhau về ý nghĩa xã hội của chúng. Bất kỳ một hoạt động nào cũng hướng tới cải tạo khách thể. Còn giao tiếp bảo đảm tổ chức mọi người cho hoạt động chung, bảo đảm sự liên hệ qua lại của mọi người.Lomov, giao tiếp là quá trình đa chiều đ ng chủ thể: “Kết quả của giao tiếp không phải là đối tượng được cải tạo mà là quan hệ với một người khác, với những người khác” [50]. Như vậy, kết quả của giao tiếp còn bao g m cả việc cải tạo quan hệ giữa các bên tham gia giao tiếp.
Kết quả này ở những cá nhân khác nhau rất khác nhau về số lượng cũng như chất lượng. Các nhà tâm lý học còn xem giao tiếp là quá trình các bên tham gia thiết lập hoặc chia sẻ cảm xúc với nhau nhằm đạt mục đích giao tiếp. Qua trên cho thấy, khi coi giao tiếp là phạm trù tương đối độc lập với hoạt động, các nhà khoa học đã xác định vai trò, đối tượng, động cơ, chiều hướng tác động và kết quả của giao tiếp như một loại hình hoạt động. Đ ng thời, các tác giả cũng mở ra lĩnh vực nghiên cứu mới cho giao tiếp.
Đó là tương tác liên nhân cách, tương tác đ ng chủ thể thông qua giao tiếp. Như vậy, theo ba qua điểm trên, mỗi quan điểm đều có những ưu khuyết riêng, trong luận án này chúng tôi chọn quan điểm của A.Leonchev coi giao tiếp là một dạng hoạt động làm tư tưởng chỉ đạo và có kế thừa quan điểm của B.Lomov về tính đa chiều, đ ng chủ thể của giao tiếp[41],[50]. Với một số công trình nghiên cứu về giao tiếp trong nước trước đây thường xem thuật ngữ “giao tiếp” là “giao lưu” hoặc giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lý và tác động qua lại giữa con người với con người, trong mối quan hệ nào đó để thực hiện những mục đích nào đó. Việc dùng thuật ngữ tuy có khác nhau, song xét về nội hàm của khái niệm thì các tác giả đều thống nhất: giao tiếp là quá trình hiện thực hóa các 11 mối quan hệ xã hội giữa người với người, trong đó bao g m nhiều quá trình diễn ra như trao đổi thông tin, nhận thức lẫn nhau, ảnh hưởng lẫn nhau.
Các nhà tâm lý học khi nghiên cứu giao tiếp đều đứng ở một góc độ nhất định, chính vì vậy họ đều có quan điểm riêng của mình. Từ góc độ tâm lý học đại cương, tác giả Phạm Minh Hạc cho rằng: “Giao lưu là hoạt động xác lập và vận hành các quan hệ người – người để hiện thực hóa các quan hệ xã hội giữa người với nhau”[30]. “Giao lưu” tác giả dùng ở đây đ ng nghĩa với giao tiếp. Ở đây tác giả nhấn mạnh vào khía cạnh thiết lập quan hệ liên nhân cách của giao tiếp.
Từ góc độ giao tiếp sư phạm, tác giả Ngô Công Hoàn định nghĩa: “giao tiếp là quá trình tiếp xúc giữa con người với con người nhằm mục đích trao đổi tư tưởng, tình cảm, vốn sống, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp”[34]. Theo tác giả, quá trình giao tiếp diễn ra chính là sự tiếp xúc lẫn nhau giữa con người với những mục đích rõ ràng.