Nghiên cứu đặc điểm môi trường đất tại Đồng Rui, Tiên Yên theo các loại hình sử dụng

Nghiên cứu đặc điểm môi trường đất tại Đồng Rui, Tiên Yên, Quảng Ninh theo các loại hình sử dụng như rừng ngập mặn, nuôi trồng thủy sản.

Chuyên ngành

Khoa học Môi trường

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Thạc sĩ Khoa học

2022

99
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Đặc điểm đất rừng ngập mặn tự nhiên tại Đồng Rui

Rừng ngập mặn tự nhiên ở khu vực Đồng Rui, huyện Tiên Yên là một hệ sinh thái đặc biệt với những đặc điểm môi trường đất độc đáo. Đất dưới rừng ngập mặn tự nhiên có tính chất hóa họcvật lý khác biệt so với các loại đất khác do ảnh hưởng của nước mặn, chế độ ngập úng định kỳ và sự tích tụ chất hữu cơ từ các mô rơi của rừng. Các tính chất đất này phản ánh quá trình hình thành và phát triển của hệ sinh thái ven biển Quảng Ninh. Loại đất này có hàm lượng muối cao, độ pH thấp và chứa lượng lớn các chất hữu cơ từ xác rơi thực vật. Những đặc điểm này tạo nên một môi trường đặc biệt thích hợp cho các loài cây ngập mặn phát triển.

1.1. Các tính chất vật lý của đất RNM tự nhiên

Cấu trúc đất rừng ngập mặn tự nhiên tại Đồng Rui có tính chất bùn chặt, với hàm lượng silt và clay cao. Độ ổn định cơ học của đất khá thấp do nằm dưới chế độ ngập úng lâu dài. Lớp đất thường được chia thành nhiều tầng khác nhau với độ sâu và thành phần hạt khác nhau. Khả năng giữ ẩm rất cao, tạo điều kiện cho thực vật phát triển bền vững trong môi trường ngập nước.

1.2. Các tính chất hóa học và sinh học

Đất rừng ngập mặn tự nhiên chứa độ mặn cao, với nồng độ muối biến đổi theo thủy triều. Độ pH thường ở mức 5-6, tính axit nhẹ, phản ánh điều kiện khí hậu ẩm. Hàm lượng nitrogen và phosphorus cao do sự tích tụ chất hữu cơ từ lá rơi và các vật chất sinh vật. Hoạt động của các vi sinh vật đóng vai trò quan trọng trong chu trình chất dinh dưỡng.

II. Đặc điểm đất rừng ngập mặn trồng và tác động sử dụng

Đất rừng ngập mặn trồng ở Đồng Rui là kết quả của quá trình can thiệp con người vào hệ sinh thái tự nhiên. Nơi đây, người dân đã thực hiện trồng phục hồi rừng ngập mặn nhằm bảo vệ bờ biển, cải thiện điều kiện sinh thái và phát triển kinh tế. Các tính chất đất ở loại hình sử dụng này khác biệt đáng kể so với rừng tự nhiên do chịu ảnh hưởng của hoạt động canh tác, lựa chọn giống cây và kỹ thuật quản lý. Độ phì nhiêu đất được cải thiện thông qua các biện pháp bổ sung chất dinh dưỡng. Cấu trúc đất có xu hướng cải thiện hơn so với thời gian ban đầu, tạo điều kiện tốt hơn cho rừng phát triển bền vững và tạo giá trị kinh tế cho cộng đồng địa phương.

2.1. Quản lý và bảo dưỡng rừng ngập mặn trồng

Việc quản lý rừng ngập mặn trồng đòi hỏi công tác chăm sóc định kỳ, bao gồm loại cỏ, tỉa cành và theo dõi sức khỏe cây. Chế độ ngập nước được kiểm soát để đạt tối ưu cho sự phát triển của các loài cây được trồng. Hàm lượng muối cần được giám sát để đảm bảo không vượt quá ngưỡng chịu đựng của thực vật. Công tác này đóng vai trò quan trọng trong duy trì năng suất và giá trị sinh thái của rừng.

2.2. Tác động của hoạt động trồng đối với đất

Sử dụng đất cho mục đích trồng ngập mặn làm thay đổi thành phần hóa học của đất so với tự nhiên. Việc can thiệp con người giúp cải thiện độ phì nhiêu thông qua lựa chọn giống và kỹ thuật canh tác. Tuy nhiên, cần cân bằng giữa khai thác kinh tế và bảo vệ chức năng sinh thái để đảm bảo phát triển bền vững lâu dài cho vùng đất này.

III. Đặc điểm đất nuôi tôm và các loại hình sử dụng nông nghiệp khác

Khu vực Đồng Rui có nhiều loại hình sử dụng đất nông nghiệp khác nhau, trong đó nuôi tôm là hoạt động kinh tế quan trọng. Đất nuôi tôm nước mặn có những đặc điểm riêng biệt với hàm lượng muối rất cao, cấu trúc lỏng lẻo do khai thác vật chất ngoài. Những vùng đất nuôi tôm bỏ hoang hiện nay đặt ra thách thức trong công tác khôi phục và sử dụng lại. Bên cạnh đó, có các vùng đất nuôi tôm tôm tôm tôm sử dụng nước ngọt với những đặc điểm khác biệt về độ mặn và chất lượng. Ngoài ra, các vùng đất trồng lúa truyền thống vẫn tồn tại và phát triển. Các loại sử dụng đất này đều ảnh hưởng trực tiếp đến tính chất môi trường đất và cần có chiến lược quản lý phù hợp để đảm bảo sử dụng bền vững.

3.1. Đặc điểm đất ở các ao hồ nuôi tôm nước mặn

Đất nuôi tôm nước mặn tại Đồng Rui có độ mặn cao với nồng độ muối tương đương nước biển hoặc cao hơn. Cấu trúc đất thường bị xáo trộn do hoạt động canh tác và khai thác vật chất nuôi tôm. Hàm lượng chất hữu cơ từ thức ăn tôm và chất thải tích tụ cao, dẫn đến độ pH thấp và tình trạng thiếu oxy có thể xảy ra. Đất loại này cần quản lý hợp lý để tránh ô nhiễm và suy thoái môi trường.

3.2. Đất nuôi tôm bỏ hoang và vấn đề khôi phục

Đất nuôi tôm bỏ hoang là một vấn đề lớn ở Đồng Rui, với diện tích không nhỏ không được sử dụng hiệu quả. Những vùng đất này có độ mặn rất cao, cấu trúc lỏng lẻo, và năng lực khôi phục thấp. Công tác phục hồi đất và chuyển đổi mục đích sử dụng cần các giải pháp khoa học để cải thiện tính chất đất và tạo điều kiện cho sử dụng bền vững mới.

IV. Giải pháp quản lý và sử dụng bền vững đất ở Đồng Rui

Để đạt được sử dụng đất bền vững ở Đồng Rui, cần có những giải pháp quản lý toàn diện dựa trên hiểu biết sâu về đặc điểm môi trường đất dưới các loại hình sử dụng khác nhau. Các chiến lược quản lý cần cân bằng giữa phát triển kinh tế từ nuôi tôm, trồng lúa với bảo vệ rừng ngập mặn tự nhiên và phục hồi các vùng đất bỏ hoang. Công tác giám sát định kỳ các tính chất đất như độ mặn, pH, hàm lượng chất hữu cơ là cần thiết. Việc áp dụng công nghệ hiện đại trong nông nghiệp và quản lý tài nguyên sẽ giúp tối ưu hóa phì nhiêu đất và năng suất. Ngoài ra, cần tăng cường công tác quản lý hành chính về sử dụng đất và chuyển đổi mục đích để tránh suy thoái môi trường và đảm bảo phát triển kinh tế - xã hội lâu dài.

4.1. Chiến lược bảo vệ và phục hồi rừng ngập mặn

Rừng ngập mặn tự nhiên cần được bảo vệ nghiêm ngặt như những hệ sinh thái đặc biệt. Công tác phục hồi rừng bỏ hoang có thể tìm những loại đất phù hợp và kỹ thuật trồng khoa học. Quản lý bền vững rừng ngập mặn trồng cần cân bằng giữa mục tiêu sinh thái và kinh tế. Cần xây dựng các quy định bảo vệ tính chất đấtchế độ ngập nước tự nhiên để duy trì chức năng của hệ sinh thái.

4.2. Tối ưu hóa sử dụng đất nông nghiệp và nuôi trồng

Việc quản lý đất nuôi tôm nên bao gồm giám sát độ mặn, xử lý chất thải, và tái sử dụng đất bỏ hoang. Canh tác lúa cần áp dụng các kỹ thuật bền vững để bảo vệ cấu trúc đất và duy trì phì nhiêu. Nên khuyến khích chuyển đổi hợp lý giữa các loại hình sử dụng dựa trên tính chất môi trường đất cụ thể và khả năng kinh tế-xã hội.

18/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 – TỔNG QUAN 1. Tình hình sử dụng đất nông nghiệp tỉnh Quảng Ninh 1. Diện tích đất nông nghiệp tỉnh Quảng Ninh Theo kết quả thống kê diện tích đất đai năm 2020 của Bộ Tài nguyên và Môi trường, tổng diện tích đất đơn vị hành chính của tỉnh Quảng Ninh là 620. Trong đó, đất nông nghiệp có diện tích là 484.740 ha, diện tích đất phi nông nghiệp là 95.873 ha và đất chưa sử dụng là 40.

Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp ở tỉnh Quảng Ninh năm 2020 được trình bày tại bảng 1. Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp ở tỉnh Quảng Ninh năm 2020 TT Loại sử dụng đất nông nghiệp Diện tích (ha) Cơ cấu (%) Diện tích đất tự nhiên 620.778,85 100,00 Đất nông nghiệp 484.324,18 4,88 Trong đó: Đất chuyên trồng lúa nước 21.720,74 3,50 2 Đất trồng cây hàng năm khác 7.601,53 1,22 3 Đất trồng cây lâu năm 21.696,01 3,49 4 Đất rừng phòng hộ 124.700,76 20,09 5 Đất rừng đặc dụng 24.549,04 3,95 6 Đất rừng sản xuất 249.015,45 4,19 8 Đất nông nghiệp khác 552,63 0,09 Nguồn: UBND tỉnh Quảng Ninh, 2022 Diện tích đất nông nghiệp của tỉnh Quảng Ninh tính đến năm 2020 có 484.739,89 ha, chiếm 78,09% diện tích đất tự nhiên. Diện tích đất nông nghiệp của tỉnh phân bố khắp trên địa bàn các huyện, thành phố và thị xã của tỉnh, trong đó, diện tích nhiều nhất tại thành phố Hạ Long với 84.385,22 ha, huyện Ba Chẽ 55.753,40 ha, huyện Bình Liêu 43.131,92 ha, huyện Tiên Yên 56. Đất nông nghiệp chủ yếu là đất lâm nghiệp chiếm gần 70% diện tích đất tự nhiên, bao gồm: đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng và đất rừng sản xuất.

3 Theo số liệu công bố về hiện trạng rừng toàn quốc năm 2020, diện tích có rừng của tỉnh Quảng Ninh là 370.306 ha rừng tự nhiên và 247.838 ha là rừng trồng, tỷ lệ che phủ đạt 55,06% (Bộ NN&PTNT, 2021).700,76 ha rừng phòng hộ chiếm 20,09% diện tích đất tự nhiên, là tỉnh có địa hình bị chia cắt, đất đồi núi có độ dốc lớn, bờ biển kéo dài và thường xuyên chịu tác động tiêu cực của gió bão nên rừng phòng hộ tại Quảng Ninh có vai trò quan trọng trong phòng chống lũ đầu nguồn, gió bão, sóng biển…Trong những năm gần đây, cơ cấu trong lâm nghiệp đang có sự chuyển dịch, việc khai thác gỗ đã dần được thay thế bằng việc đầu tư trồng thêm rừng. Bình quân mỗi năm trên địa bàn tỉnh trồng được 12.900 ha rừng (giai đoạn 2011 – 2015 toàn tỉnh trồng được 64.631 ha rừng), việc trồng rừng hoàn nguyên tại các bãi đổ thải mỏ đã góp phần nâng cao diện tích rừng trồng và tỷ lệ che phủ tại Quảng Ninh. Ngoài ra, tỉnh cũng đã có chính sách bảo vệ rừng, khoanh nuôi tái sinh, đặc biệt là phát triển rừng đặc sản (quế, hồi, nhựa thông.) và rừng nguyên liệu (tre, nứa, luồng. Các loại sử dụng đất nông nghiệp tỉnh Quảng Ninh Đất nông nghiệp tỉnh Quảng Ninh bao gồm 3 loại hình sử dụng đất chính là: đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp và đất NTTS.

Trong đó, đất lâm nghiệp chiếm diện tích lớn nhất hơn 80% diện tích đất nông nghiệp toàn tỉnh năm 2020. Hệ thống sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh được phân chia thành 02 hệ thống: hệ thống canh tác có tưới (khu vực tưới chủ động và bán chủ động) và hệ thống canh tác nhờ mưa (khu vực không được tưới) trình bày tại bảng 1. Theo kết quả của dự án “Điều tra thoái hóa đất thời kỳ đầu tỉnh Quảng Ninh” (Bộ TN&MT, 2017), phần lớn diện tích đất canh tác có tưới trên địa bàn các thành phố, huyện, thị xã trong tỉnh đều nằm trên các khu vực có độ dốc dưới 8o. Loại sử dụng đất chiếm tỷ lệ lớn trong hệ thống có tưới trên địa bản tỉnh Quảng Ninh là đất chuyên lúa nước; đất NTTS mặn, lợ.

Toàn bộ diện tích đất chuyên lúa của tỉnh tập trung nhiều ở các huyện, thị xã, thành phố: Đông Triều, Quảng Yên, Móng Cái, Tiên Yên, Đầm Hà, Hải Hà và canh tác chủ yếu trên các loại đất phù sa và đất phèn. Đất NTTS mặn, lợ phân bố ở thị xã Quảng Yên, thành phố Móng Cái, huyện Tiên Yên 4 và trên các loại đất mặn, đất phèn. Mô hình chủ yếu là nuôi tôm thẻ chân trắng, tôm sú, tôm hoa quảng canh và quảng canh cải tiến kết hợp nhiều loài thủy sản khác như (ngao, sò, cua, ghẹ) với phương thức đắp bờ, dẫn nước mặn vào ao, nuôi luân canh gần như quanh năm, vừa thu hoạch vừa thả giống mới, không có thời gian vệ sinh đầm nuôi. Hệ thống canh tác trên đất nông nghiệp tỉnh Quảng Ninh phân theo hệ thống tưới (năm 2016) TT Hệ thống canh tác Diện tích (ha) Tỷ lệ (%) Đất chuyên lúa nước 27.788 5,63 Đất 2 vụ lúa + 1 vụ màu 2.867 0,58 Có Đất 1 vụ lúa + 1 vụ màu 541 0,11 1 tưới Đất trồng cây trồng cạn ngắn ngày 3.860 0,78 Đất NTTS ngọt 1.377 0,28 Đất NTTS mặn, lợ 24.616 4,98 Đất chuyên màu và cây công 3.665 0,74 nghiệp hàng năm Đất trồng cây công nghiệp lâu 8.323 1,69 Không năm và lâu năm khác 2 tưới Đất trồng cây ăn quả 12.509 2,53 Đất rừng trồng 227.414 46,04 Đất rừng tự nhiên 41.933 8,49 Đất khoanh nuôi, phục hồi rừng 82.277 16,66 Nguồn: Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2017 Trong các loại hình sử dụng đất canh tác nhờ nước mưa, đất rừng trồng chiếm diện tích lớn nhất trong tỉnh.

Phân bố ở các huyện Ba Chẽ, Tiên Yên, Hoành Bồ, Bình Liêu. Loại sử dụng đất này chủ yếu là đất đỏ vàng trên đá sét và biến chất (Fs), đất vàng nhạt trên đá cát (Fq), đất vàng đỏ trên đá macma axit (Fa), độ dốc cấp III, IV, V. Thực vật trồng gồm các loại cây lấy gỗ (thông, keo, bạch đàn, sa mộc). Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh còn có rừng trồng ngập mặn (bần chua, trang, vẹt dù).

Loại sử dụng đất khoanh nuôi, phục hồi rừng có tổng diện tích 376.121 ha năm 5 2016, bao gồm: khoanh nuôi tái sinh rừng sản xuất, khoanh nuôi tái sinh rừng phòng hộ và khoanh nuôi tái sinh rừng đặc dụng. Đất khoanh nuôi, phục hồi rừng tập trung trên địa bàn các huyện Hoành Bồ, Hải Hà, Ba Chẽ, Tiên Yên, Đầm Hà, Bình Liêu và thành phố Móng Cái. Loại sử dụng này phân bố chủ yếu ở các khu vực cao và xa, dốc lớn, nhiều đá nổi, thực vật chủ yếu là các lùm bụi có mật độ che phủ thấp dưới 30%. Loại sử dụng đất rừng tự nhiên bao gồm: RNM ở vùng đồng bằng ven biển và rừng tự nhiên ở vùng trung du, miền núi.

RNM ở vùng đồng bằng, ven biển phân bố ở hầu hết các huyện, thị xã, thành phố ven biển, bao gồm tại 11/14 huyện, thị xã và thành phố bao gồm: các thành phố Hạ Long, Móng Cái, Cẩm Phả, Uông Bí và các huyện Hải hà, Đầm Hà, Tiên Yên, Vân Đồn, Cô Tô, Yên Hưng và Hoàng Bồ (Đinh Thanh Giang, 2016). Thực vật chủ yếu là bần chua, trang, đâng, vẹt dù, mắm, sú… mật độ từ 2.000 cây/ha, chiều cao phụ thuộc vào loài trung bình > 1 m; độ tàn che > 36 nên đảm bảo chức năng phòng hộ. Rừng tự nhiên ở trung du, miền núi có thảm thực vật khá đa dạng, phân nhiều tầng, lớp thảm thực vật dày, độ che phủ cao > 90%, đặc biệt là diện tích rừng tự nhiên thuộc khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn Kỳ Thượng, vườn quốc gia Bái Tử Long. Nhìn chung, đất sản xuất nông nghiệp của tỉnh Quảng Ninh có thành phần cơ giới nhẹ đến trung bình; đất chủ yếu có giá trị pHKCl dưới 5; có 25.324 ha đất sản xuất nông nghiệp hàm lượng chất hữu cơ tổng số ở mức giàu; hàm lượng nitơ, phốt pho, kali tổng số trong đất ở mức trung bình đến nghèo.

Đất lâm nghiệp có 246.005 ha đất có thành phần cơ giới trung bình đối với đất vùng đồi núi và có 69.008 ha đất có thành phần cơ giới nhẹ đối với đất vùng ven biển có dung trọng cao, pHKCl rất chua với 308.855 ha có pHKCl < 4; hàm lượng chất hữu cơ tổng số trong đất chủ yếu ở mức giàu và trung bình; hàm lượng nitơ, phốt pho, kali tổng số trong đất ở mức trung bình đến nghèo. Đất NTTS chủ yếu có thành phần cơ giới từ nhẹ đến trung bình; chủ yếu có phản ứng ít chua đến trung tính, pHKCl trong khoảng 5 – 7,0; hàm lượng chất hữu cơ tổng số trong đất ở mức trung bình; hàm lượng nitơ, phốt pho, kali tổng số trong đất ở mức trung bình đến nghèo. Đất lâm nghiệp và đất NTTS khu vực ven biển có hàm lượng TSMT cao đất phân bố ở các huyện Tiên Yên, Vân Đồn, Hoành Bồ, Đầm 6 Hà, thành phố Hạ Long, Móng Cái… Độ phì nhiêu của đất được đánh giá dựa trên tổng hợp các tính chất vật lý và hóa học của đất, đất nông nghiệp tỉnh Quảng Ninh năm 2016 có 52.596 ha đất có độ phì nhiêu cao, 217.549 ha đất có độ phì nhiêu trung bình và 223.758 ha đất có độ phì nhiêu thấp (Bảng 1. Đánh giá độ phì nhiêu đất nông nghiệp tỉnh Quảng Ninh Phân cấp đánh giá độ phì nhiêu Tổng diện TT Loại sử dụng đất (ha) tích (ha) Cao Trung bình Thấp 1 Đất sản xuất nông nghiệp 30.553 2 Đất lâm nghiệp 22.170 Nguồn: Bộ TN&MT, 2017 1.

Biến động sử dụng đất nông nghiệp tỉnh Quảng Ninh Tỉnh Quảng Ninh trong những năm qua đang thực hiện mô hình chuyển đổi tăng trưởng kinh tế từ “nâu” sang “xanh”, diện tích đất nông nghiệp cũng như hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp của tỉnh có sự biến động. Trong giai đoạn 2010 – 2020, diện tích đất nông nghiệp tỉnh Quảng Ninh có sự biến động theo đề án quy hoạch sử dụng đất của tỉnh, theo đó, một số diện tích đất phi nông nghiệp được quy hoạch chuyển đổi sang đất nông nghiệp, xác định được ranh giới và công khai diện tích đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng cần bảo vệ nghiêm ngặt. Nhìn chung diện tích đất nông nghiệp trong những năm qua đều có xu hướng tăng lên theo các loại hình khác nhau (Bảng 1. Năm 2020, diện tích đất trồng lúa tăng 1.599,18 ha so với năm 2010 và tăng 3.734,18 ha so với năm 2015.

Tuy nhiên, diện tích đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng năm 2020 giảm lần lượt 162,24 ha và 1.495,96 ha so với năm 2010; năm 2020 giảm 1.162,96 ha so với năm 2015. Nguyên nhân là do chuyển đổi sử dụng đất theo kế hoạch của UBND tỉnh Quảng Ninh, một phần diện tích đất do người dân khai thác chuyển sang đất rừng sản xuất và đất NTTS, một phần diện tích chuyển sang sử dụng vào các mục đích phi nông nghiệp.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ