CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Đặc điểm của cây Bạch đàn trắng (Eucalyptus camaldulensis) 1. Phân bố địa lý Bạch đàn (Eucalyptus L’Herit) là một chi thực vật thuộc họ Sim (Myrtaceae) bao gồm trên 500 loài và được phân thành nhiều chi phụ khác nhau chủ yếu gặp ở Australia. Cái tên Bạch đàn Eucalyptus lần đầu tiên được nhà thực vật học người Pháp là Charles Louis L’ Heritier de Brutelle đặt cho vào năm 1788 trên cơ sở mẫu vật từ loài bạch đàn E.
obliqua trên đảo Bruny, Taxmania vào năm 1777 vào chuyến thám hiểm lần thứ ba của James Cook. Từ đó đã có tới 600 loài và biến chủng được đặt tên và mô tả, gần đây đã chấp nhận 500 loài. Do các điều kiện tự nhiên (đất đai, khí hậu ) rất khác nhau nên các loài bạch đàn cũng thể hiện sự đa dạng khó tin về kích thước. Loài bạch đàn khổng lồ E.
regnans của bang Victoria và Taxmania được coi là cây cao nhất ở Australia và là cây lá rộng cao nhất thế giới vì đạt chiều cao trên 100m. Những loài bạch đàn khác cũng có chiều cao gần 100m như E. diversicolor của bang Tây Australia, E. delegatensis của vùng Đông Nam Australia và Taxmania.
Các loài bạch đàn của vùng khí hậu có chế độ mưa mùa hè của bang New South Wales và Queensland là E. Các loài này thường có chiều cao trên 50m, đôi khi đạt tới chiều cao 75m và đường kính trên 3m, thân tròn đều thẳng đẹp. Nhiều loài có giá trị khác lại không có được chiều cao khổng lồ như vậy mà chỉ đạt trên dưới 35m trong khi tại các vùng có lượng mưa thấp dưới 750mm thì bạch đàn thường phân bố rải rác và có chiều cao không quá 25m. salmonophloia thường thấy ở Tây Ausstralia có thể đạt chiều cao 30m trên những vùng có lượng mưa thấp đến 250mm.
Có thể coi đây là ví dụ điển hình về khả năng thích nghi cao trong điều kiện cực kì khắc nghiệt. 3 Hầu hết các loài bạch đàn không chịu được ngập úng, song cũng có một số ít loài chịu được nước ngập theo mùa như E. Tại một số nước, người ta còn dùng các loài cây này trồng vào vùng đầm lầy nhằm làm khô đầm lầy và cải tạo đầm lầy. * Phân loại Người đầu tiên nghiên cứu phân loại bạch đàn là nhà thực vật học Willdenow (1799) khi ông xếp 12 loài bạch đàn vào hai nhóm nhờ vào sự khác biệt về nắp nụ hoa.
Sau này các nhà nghiên cứu phải gặp nhiều khó khăn hơn và họ phải dựa vào vô số đặc điểm để phân biệt như: Kích thước, hình dạng thân, dạng vỏ trên thân và cành, dạng bong vỏ, tính trạng lá của phôi cây mầm, cây non, cây trung niên và cây trưởng thành, gân lá, kiểu hoa, hình dạng và cấu trúc của mầm hoa và quả, hình thái hạt. Ngoài ra vị trí địa lý nơi phân bố và môi trường sống của loài cũng đóng một vai trò lớn. Theo Boland et al (1987) và Eldridge et al (1993) chi bạch đàn được chia làm 8 chi phụ, đó là: Corymbia, Eudesima, Gaubaea, …. Trong mỗi chi phụ còn có thể có các nhóm loài (series) khác nhau.
Trong số 8 chi phụ bạch đàn thì chi phụ Symphyomyrtus có nhiều loài được sử dụng vào công tác trồng rừng diện rộng trên khắp thế giới gồm có các loài như: E. grandis, … * Đặc điểm sinh vật học - Có sức đề kháng lớn, trên nhiều vùng có điều kiện lập địa khó khăn bạch đàn vẫn có thể sinh trưởng được. Người ta gọi khả năng này là tập quán xâm thực của bạch đàn. - Sinh trưởng và phát triển nhanh, liên tục, không có chồi ngủ.
Tất cả các loài bạch đàn đều có chồi bất định và "búp trần", hai nét đặc trưng này 4 cho phép bạch đàn tăng trưởng không ngừng cả về chiều cao và bề rộng và luôn sản sinh ra các thế hệ cành mới. - Có sức đâm chồi mạnh: Đại bộ phận các loài bạch đàn đều phát triển một cơ quan tự bảo vệ dưới đất được gọi là "củ gỗ" (lingotuber). Mỗi khi trên phần mặt đất của cây con bạch đàn bị phá huỷ bất thường, chất dinh dưỡng dự trữ trong lingotuber được huy động để tạo thành chồi mới nói chung là khoẻ hơn các cây cũ, các chồi mới này có kích thước lớn hơn và lại cung cấp chất dinh dưỡng dự trữ mới cho lingotuber đây là một hình thức bảo vệ tốt của bạch đàn. - Cấu trúc ngọn cây rõ rệt và có cơ chế kiểm soát chặt chẽ, giữ được vị trí ưu trội của đỉnh ngọn.
- Tỉa cành tự nhiên tốt, không để lại vết sẹo trên thân cây, vì vậy thân cây thường nhẵn nhụi, trông đẹp mắt. - Thân cây thẳng, độ thon đẹp (ít thót ngọn) từ lâu đã thu hút được người sử dụng. Đặc điểm hình thái của cây Bạch đàn trắng Tên khoa học: Eucalyptus camaldulensis Họ (Chi): Bạch đàn – Eucalyptus Cây gỗ lớn, cao 30-40m, đường kính ngang ngực 40-50cm, thân thẳng tròn đều. Vỏ màu xám trắng hoặc xám hơi xanh, nhẵn, bong từng mảng mỏng.
Phía gần gốc vỏ nứt dọc, không bong. Cành non màu nâu đỏ, mảnh, rủ xuống. Lá đơn mọc cách, có mùi thơm. Lá non hơi có phấn, hình trứng hoặc ngọn giáo, có cuống mảnh.
Lá thành thục hình ngọn giáo cong dạng lưỡi liềm, nhọn dần về phía đầu, dài 10-30cm, rộng 1,5-3,5cm. Gân giữa màu nâu, gân bên rõ. 5 Cụm hoa dạng tán ở nách lá, mang 4-8 hoa, nở tháng 3-4. Quả hình bán cầu, dài 0,7-0,8cm, rộng 0,5-0,6cm, mở theo 3 van hình tam giác, chín tháng 7-8 ở miền Bắc và tháng 5-6 ở miền Nam.
Đặc điểm sinh thái của cây Bạch đàn trắng Cây nguyên sản ở Ôxtrâylia, phân bố rộng ở vùng nhiệt đới từ 15 đến 18o vĩ Nam, vùng đồi núi thấp dưới 600 m so với mực nước biển. Loài cây nhập nội trồng ở nhiều nước trên thế giới, được trồng ở Việt Nam từ lâu, ở các vùng đồng bằng, vùng cát ven biển, vùng đồi đến vùng núi, suốt từ Bắc vào Nam. Cây sinh trưởng nhanh, biên độ sinh thái rộng, chịu được hạn, nhưng cũng chịu được úng trong thời gian ngắn. Sinh trưởng và phát triển tốt ở nơi có lượng mưa 1500 - 2500 mm/năm, nhiệt độ trung bình tháng lạnh nhất 15oC, tháng nóng nhất 26 - 29oC.
Trồng thích hợp trên đất đồi trọc, sau nương rẫy, có độ cao dưới 200 m so với mực nước biển, dốc dưới 15 - 20o, có thành phần cơ giới thịt nhẹ, sét nhẹ, cát pha đến thịt trung bình, thoát nước, độ dày > 70cm, pH = 4 - 6, có thực bì cỏ lông lợn, sim mua, tế guột. Sinh trưởng được trên cồn, bãi cát cố định không ngập nước hoặc trên bãi cát thấp, đất phèn được lên líp. Khả năng tái sinh chồi rất mạnh, nên việc kinh doanh rừng chồi đạt kết quả tốt. Giá trị sử dụng Bạch đàn trắng là cây đa tác dụng, có thể sử dụng từ lá cây đến thân cây.
Đem về nhiều lợi ích về kinh tế và cải thiện đời sống cho người dân. * Trong xây dựng Thân gỗ thẳng đều và cứng cáp, dẻo dai nên những lứa cây bạch đàn được trồng từ 3 – 5 năm, đạt chiều dài 4 – 7m sẽ được dùng trong ngành xây dựng. Phần lớn các cây bạch đàn có chiều dài lớn được dùng làm cừ bạch đàn gia cố móng. Loại có chiều dài ngắn được làm cây chống bạch đàn, làm giàn 6 giáo, gác giàn tạm,… Tại một số công trình có nền đất yếu, khô, sâu thì cây bạch đàn còn được dùng gia cố nền đất.
Loại công trình phổ biến là cống hộp. * Công dụng cây bạch đàn trong đời sống Những cây bạch đàn có thân gỗ to và được trồng trên 10 năm sẽ được khai thác dùng làm nguyên liệu cho các ngành sản xuất giấy, bột giấy,… Các đồ dùng như bàn , ghế, được làm từ cây bạch đàn rất phổ biến bởi giá thành loại gỗ này khá rẻ. Những thân cây lớn được xẻ ra làm những gỗ miếng dùng lát sản, vách ngăn rất tiện lợi trong thiết kế kiến trúc. Đây là loại gỗ thay thế các loại quý hiếm khác, giúp ngăn tình trạng phá rừng.
Những hecta rừng bạch đàn lớn tạo nên 1 hệ sinh thái đa dạng cho hàng trăm loài động, thực vật sinh sống. Góp phần bảo vệ môi trường, cung cấp lượng khí O2 trong lành,… * Trong y học Tinh dầu trong lá của cây bạch đàn có dược tính cao giúp điều trị các bệnh: Ho, chữa ghẻ, phòng chống bệnh tiểu đường, viêm tai, hôi nách,… Lượng tinh dầu này còn được dùng trong các mỹ phẩm dành cho phái đẹp. Đối với sử dụng tinh dầu cho các bè thì cần những lưu ý và hướng dẫn từ bác sĩ. Phân bố - Bạch đàn trắng phân bố ở nhiều nơi trên Việt Nam như: vùng đồng bằng, vùng cát ven biển, vùng đồi núi suốt từ Bắc vào Nam, … 1.
Tổng quan về vẫn đề nghiên cứu Bạch đàn trắng 1. Trên thế giới Các chuyên gia sinh thái học đã khẳng định rừng là một hệ sinh thái hoàn chỉnh nhất. Thực vật rừng có sự biến động cả về số lượng và chất lượng khi yếu tố ngoại cảnh thay đổi, rừng và con người có mối quan hệ mật thiết với nhau. Chính vì lý do đó cây rừng được con người quan sát, xem xét, nghiên cứu từ 7 xa xưa và một trong những khía cạnh con người đi vào tìm hiểu, nghiên cứu đó là phục hồi lại rừng Bạch Đàn Trắng qua tái sinh rừng.
Trên thế giới việc nghiên cứu tái sinh rừng đã trải qua hàng trăm năm, nhưng riêng đối với rừng nhiệt đới vấn đề này mới chỉ được đề cập đến từ khoảng những năm 1930 trở lại đây. Rất nhiều cụng trình nghiên cứu đã phân tích ảnh hưởng của các nhân tố đến tái sinh rừng. Trong đó nhân tố được đề cập nhiều nhất là ánh sáng (Thông qua độ tàn che của rừng), độ ẩm của đất, cây bụi, dây leo và thảm tươi là những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tái sinh rừng. Trong rừng nhiệt đới, sự thiếu hụt ánh sáng ảnh hưởng đến phát triển của cây con, còn đối với sự nẩy mầm và phát triển của mầm non thường không rõ (Baur, 1962).
Khi nghiên cứu tái sinh rừng tự nhiên, các tác giả nhận định thảm cỏ và cây bụi đã ảnh hưởng tới cây tái sinh của các loài thân gỗ. Những lâm phần đã khép tán, tuy thảm cỏ phát triển kém nhưng cạnh tranh dinh dưỡng và ánh sáng của chúng vẫn ảnh hưởng đến cây tái sinh. Những lâm phần đã qua khai thác, thảm cỏ có điều kiện phát sinh mạnh là nhân tố ảnh hưởng xấu đến tái sinh rừng.