Luận văn thạc sĩ một số dẫn liệu về đa dạng kiến insecta hymenoptera formicidae ở khu bảo tồn thiên nhiên hòn bà tỉnh khánh hòa

Nghiên cứu đa dạng kiến Insecta Hymenoptera Formicidae tại khu bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà, Khánh Hòa, cung cấp thông tin quý giá cho bảo tồn.

Chuyên ngành

Động vật học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sỹ

2015

63
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

DANH LỤC CÁC TỪ, THUẬT NGỮ VIẾT TẮT

DANH LỤC HÌNH

DANH LỤC BẢNG

MỞ ĐẦU

0.1. Mục tiêu của đề tài

0.2. Nội dung của đề tài

0.3. Ý nghĩa của đề tài

1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Vai trò quan trọng của kiến

1.2. Tình hình nghiên cứu kiến trên thế giới

1.3. Tình hình nghiên cứu kiến ở Việt Nam

2. ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.1.1. Đối tượng nghiên cứu

2.1.2. Thời gian nghiên cứu

2.1.3. Địa điểm nghiên cứu

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.2.1. Nghiên cứu thực địa

2.2.2. Nghiên cứu trong phòng thí nghiệm

2.2.3. Phương pháp xử lý số liệu

2.3. Hình thái ngoài của kiến

3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Đa dạng thành phần loài và giống kiến tại KBTTN Hòn Bà

3.2. Đa dạng thành phần loài và giống kiến tại các khu vực độ cao

3.3. Phân bố của các giống kiến theo các nhóm chức năng

3.4. Khóa phân loại và đặc điểm hình thái của các phân họ kiến tại KBTTN Hòn Bà

3.4.1. Khóa phân loại các phân họ kiến tại KBTTN Hòn Bà

3.4.2. Một số đặc điểm hình thái của các phân họ kiến ở KBTTN Hòn Bà

4. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Khám Phá Đa Dạng Kiến Hòn Bà Tổng Quan Giới Thiệu

Kiến (Formicidae) là nhóm côn trùng xã hội đa dạng và quan trọng trong hệ sinh thái. Chúng chiếm ưu thế ở vùng nhiệt đới. Dù chỉ chiếm 1.5% số loài côn trùng, kiến chiếm tới 10% sinh khối động vật ở rừng nhiệt đới. Chúng đóng vai trò là động vật ăn thịt, con mồi và sinh vật phân giải. Nghiên cứu về kiến nhiệt đới rất quan trọng. Tuy nhiên, kiến thức về chúng còn hạn chế. Phân loại kiến vẫn đang trong quá trình hoàn thiện. Khu hệ kiến ở vùng Đông Phương, bao gồm Việt Nam, chưa được khám phá đầy đủ. Các nghiên cứu tiên phong từ cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 chủ yếu do các nhà khoa học phương Tây thực hiện. Kiến được xem là chỉ thị đánh giá đa dạng sinh học. Một số loài kiến được ứng dụng trong phòng trừ sinh học. Một số loài có thể khai thác làm thực phẩm và thuốc.

1.1. Vị Trí Địa Lý Tầm Quan Trọng Khu Bảo Tồn Hòn Bà

Khu Bảo tồn Thiên nhiên Hòn Bà, Khánh Hòa là một địa điểm quan trọng. Nơi đây có hệ sinh thái phong phú và đa dạng. Việc nghiên cứu đa dạng sinh học kiến Hòn Bà có ý nghĩa lớn. Nó giúp xây dựng cơ sở dữ liệu cho bảo tồn tài nguyên thiên nhiên. Nghiên cứu này bổ sung thêm thông tin về đa dạng kiến Việt Nam. Hòn Bà là môi trường sống của nhiều loài động thực vật đặc hữu. Khí hậu và địa hình nơi đây tạo điều kiện cho sự phát triển của nhiều loài kiến khác nhau.

1.2. Mục Tiêu Nghiên Cứu Đa Dạng Kiến Tại Hòn Bà Khánh Hòa

Nghiên cứu tập trung vào sự đa dạng của các phân họ và giống kiến. Nó cũng xem xét sự đa dạng của các giống kiến trong các nhóm chức năng. Nghiên cứu thành phần loài kiến ở các đới độ cao khác nhau. Mục tiêu là thống kê thành phần loài và giống kiến tại khu bảo tồn. Xác định sự phân bố của các loài kiến trong các nhóm chức năng. Xây dựng khóa phân loại các phân họ kiến. Mô tả đặc trưng hình thái các phân họ kiến tại Hòn Bà.

II. Thách Thức Vấn Đề Nghiên Cứu Kiến Tại Hòn Bà Hiện Nay

Mặc dù có vai trò quan trọng, kiến cũng gây ra một số vấn đề. Một số loài kiến sống trong khu dân cư gây phiền toái. Chúng xuất hiện trong thức ăn, đồ uống gây khó chịu. Một số loài cắn hoặc đốt gây ngứa, bỏng rộp. Một số loài làm tổ trong gỗ gây hại công trình. Kiến cũng là vectơ truyền bệnh cho người và gia súc. Nghiên cứu kiến có ý nghĩa trong việc chỉ ra các loài có hại. Từ đó, tạo cơ sở cho việc phòng trừ chúng. Cần có thêm nhiều nghiên cứu chuyên sâu về đặc điểm kiến Hòn Bà. Điều này giúp hiểu rõ hơn về vai trò và tác động của chúng.

2.1. Hạn Chế Về Dữ Liệu Nguồn Lực Nghiên Cứu Kiến

Việc nghiên cứu kiến ở Khu Bảo tồn Hòn Bà còn gặp nhiều khó khăn. Dữ liệu về thành phần loài và phân bố kiến còn hạn chế. Nguồn lực cho nghiên cứu, bao gồm kinh phí và nhân lực, còn thiếu. Cần có sự đầu tư hơn nữa để thúc đẩy các nghiên cứu về kiến. Điều này giúp bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững.

2.2. Tác Động Của Biến Đổi Khí Hậu Đến Quần Thể Kiến Hòn Bà

Khí hậu Hòn Bà đang chịu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu. Điều này có thể tác động tiêu cực đến quần thể kiến. Sự thay đổi nhiệt độ và lượng mưa có thể ảnh hưởng đến sự phân bố và sinh trưởng của kiến. Cần có các nghiên cứu về ảnh hưởng của môi trường đến kiến. Từ đó, đưa ra các giải pháp bảo tồn phù hợp.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Phân Loại Kiến Tại Hòn Bà

Nghiên cứu về kiến đòi hỏi phương pháp tiếp cận đa dạng. Cần kết hợp giữa nghiên cứu thực địa và phân tích trong phòng thí nghiệm. Nghiên cứu thực địa bao gồm thu thập mẫu kiến tại các địa điểm khác nhau. Phân tích trong phòng thí nghiệm bao gồm định loại và mô tả hình thái kiến. Phương pháp xử lý số liệu thống kê được sử dụng để phân tích dữ liệu. Khóa phân loại được xây dựng để xác định các phân họ kiến. Đặc điểm hình thái của các phân họ kiến được mô tả chi tiết. Các phương pháp này giúp hiểu rõ hơn về phân loại kiến Hòn Bà.

3.1. Thu Thập Xử Lý Mẫu Kiến Hướng Dẫn Chi Tiết

Việc thu thập mẫu kiến cần được thực hiện cẩn thận. Mẫu kiến được thu thập bằng nhiều phương pháp khác nhau. Bao gồm bẫy, bắt trực tiếp và thu thập từ tổ. Mẫu kiến được bảo quản trong cồn 70%. Sau đó, mẫu được đưa về phòng thí nghiệm để xử lý. Quá trình xử lý bao gồm làm sạch, định loại và chụp ảnh. Các thông tin về địa điểm, thời gian thu thập được ghi chép đầy đủ.

3.2. Phân Tích Hình Thái Xây Dựng Khóa Phân Loại Kiến

Phân tích hình thái là bước quan trọng trong định loại kiến. Các đặc điểm hình thái như kích thước, màu sắc, hình dạng được quan sát kỹ lưỡng. Khóa phân loại được xây dựng dựa trên các đặc điểm hình thái này. Khóa phân loại giúp xác định các phân họ và giống kiến. Việc sử dụng khóa phân loại đòi hỏi kiến thức chuyên môn về hình thái kiến.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu Đa Dạng Loài Giống Kiến Tại Hòn Bà

Nghiên cứu đã ghi nhận sự đa dạng về thành phần loài và giống kiến tại Hòn Bà. Nhiều loài kiến khác nhau đã được xác định. Các giống kiến phổ biến bao gồm Pheidole, CamponotusPolyrhachis. Sự phân bố của các loài kiến khác nhau theo độ cao. Một số loài kiến chỉ xuất hiện ở vùng núi cao. Một số loài kiến chỉ xuất hiện ở vùng đất thấp. Sự đa dạng của kiến phản ánh sự đa dạng của hệ sinh thái Hòn Bà. Kết quả này cung cấp thông tin quan trọng cho công tác bảo tồn.

4.1. Thống Kê Thành Phần Loài Kiến Theo Độ Cao Địa Hình

Nghiên cứu đã thống kê thành phần loài kiến theo độ cao địa hình. Kết quả cho thấy sự khác biệt rõ rệt về thành phần loài giữa các độ cao khác nhau. Vùng núi cao có nhiều loài kiến đặc hữu. Vùng đất thấp có nhiều loài kiến phổ biến. Sự phân bố của kiến chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố. Bao gồm nhiệt độ, độ ẩm và nguồn thức ăn.

4.2. Phân Bố Các Giống Kiến Theo Nhóm Chức Năng Sinh Thái

Các giống kiến khác nhau có vai trò sinh thái khác nhau. Một số giống kiến là động vật ăn thịt. Một số giống kiến là động vật ăn thực vật. Một số giống kiến là động vật phân giải. Sự phân bố của các giống kiến theo nhóm chức năng phản ánh sự cân bằng của hệ sinh thái. Nghiên cứu đã xác định các nhóm chức năng chính của kiến tại Hòn Bà.

V. Ứng Dụng Thực Tiễn Bảo Tồn Phát Triển Du Lịch Sinh Thái

Nghiên cứu về đa dạng kiến Hòn Bà có nhiều ứng dụng thực tiễn. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học cho công tác bảo tồn. Thông tin về thành phần loài và phân bố kiến giúp xây dựng kế hoạch bảo tồn hiệu quả. Nghiên cứu cũng góp phần phát triển du lịch sinh thái. Du khách có thể tìm hiểu về thế giới kiến phong phú tại Hòn Bà. Cần có sự kết hợp giữa bảo tồn và phát triển để đảm bảo bền vững.

5.1. Đề Xuất Giải Pháp Bảo Tồn Đa Dạng Sinh Học Kiến

Cần có các giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học kiến hiệu quả. Bao gồm bảo vệ môi trường sống tự nhiên của kiến. Hạn chế các hoạt động gây ô nhiễm môi trường. Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục về vai trò của kiến. Khuyến khích người dân tham gia vào công tác bảo tồn.

5.2. Phát Triển Du Lịch Sinh Thái Gắn Liền Với Nghiên Cứu Kiến

Du lịch sinh thái có thể gắn liền với nghiên cứu kiến. Du khách có thể tham gia các tour du lịch khám phá thế giới kiến. Các trung tâm nghiên cứu kiến có thể mở cửa đón du khách. Cần có sự hợp tác giữa các nhà khoa học và các công ty du lịch. Điều này giúp nâng cao nhận thức về vai trò của kiến.

VI. Kết Luận Hướng Nghiên Cứu Về Kiến Tại Hòn Bà Tương Lai

Nghiên cứu về đa dạng kiến Hòn Bà đã đạt được những kết quả quan trọng. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề cần được nghiên cứu sâu hơn. Cần có các nghiên cứu về sinh thái học và hành vi của kiến. Nghiên cứu về tác động của biến đổi khí hậu đến quần thể kiến. Nghiên cứu về vai trò của kiến trong hệ sinh thái. Các nghiên cứu này sẽ giúp hiểu rõ hơn về thế giới kiến và đóng góp vào công tác bảo tồn.

6.1. Tổng Kết Các Phát Hiện Chính Về Đa Dạng Kiến

Nghiên cứu đã phát hiện sự đa dạng về thành phần loài và giống kiến. Sự phân bố của kiến khác nhau theo độ cao và nhóm chức năng. Kiến đóng vai trò quan trọng trong hệ sinh thái Hòn Bà. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học cho công tác bảo tồn.

6.2. Đề Xuất Hướng Nghiên Cứu Mới Về Kiến Hệ Sinh Thái

Cần có các nghiên cứu về sinh thái học và hành vi của kiến. Nghiên cứu về tác động của biến đổi khí hậu đến quần thể kiến. Nghiên cứu về vai trò của kiến trong hệ sinh thái. Các nghiên cứu này sẽ giúp hiểu rõ hơn về thế giới kiến và đóng góp vào công tác bảo tồn. Cần có sự hợp tác giữa các nhà khoa học trong và ngoài nước.

08/06/2025
Luận văn thạc sĩ một số dẫn liệu về đa dạng kiến insecta hymenoptera formicidae ở khu bảo tồn thiên nhiên hòn bà tỉnh khánh hòa

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Kiến thuộc lớp Côn trùng (Insecta), bộ Cánh màng (Hymenoptera), họ Kiến (Formicidae),là một trong những nhóm động vật đất chiếm ƣu thế nhất trong các vùng nhiệt đới (Bolton, 1997) [14]. Mặc dù kiến chỉ chiếm 1,5% số loài côn trùng đã biết, nhƣng chúng lại chiếm tới hơn 10% tổng sinh khối của các loài động vật trong các khu rừng nhiệt đới, đồng cỏ và có lẽ trong cả các sinh cảnh khác (Agosti et al.Chúng đồng thời là những động vật ăn thịt, là con mồi và là sinh vật phân giải các chất hữu cơ trong hệ sinh thái (Bolton, 2003) [15].Việc nghiên cứu sinh học và sinh thái của các loài kiến nhiệt đới sẽ có ý nghĩa quan trọng trong nghiên cứu các hệ sinh thái, song kiến thức của chúng ta về kiến còn nhiều hạn chế. Thậm chí việc phân loại kiến, cơ sở nghiên cứu của nhiều lĩnh vực sinh học, đang còn phải trong quá trình tiến tới hoàn thiện (Ito et al. Đặc biệt trong vùng Đông Phƣơng (Oriental region), trong đó có Việt Nam, khu hệ kiến vẫn ít đƣợc điều tra khám phá sau các công trình tiên phong vào cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 của một số tác giả phƣơng Tây:Frederick Smith, Carlo Emery, Auguste Forel, William Morton Wheeler (Radchenko, 2001) [36].

Bên cạnh vai trò chức năng quan trong trọng hệ sinh thái, kiến đang đƣợc xem nhƣ là những vật chỉ thị đánh giá đa dạng sinh học (Ito et al. Một số loài kiến đang đƣợc ứng dụng trong phòng trừ sinh học các loài sâu hại bảo vệ cây trồng, một số loài kiến có thể khai thác và nhân nuôi dùng làm thực phẩm và thuốc chữa bệnh cho con ngƣời (Nguyễn Đắc Đại và nnk, 2015)[2]. Bên cạnh những mặt có lợi phục vụ phát triển kinh tế và đời sống con ngƣời, kiến còn có một số mặt tiêu cực, chẳng hạn nhƣ một số loài kiến sống trong các khu dân cƣ và thƣờng kéo theo bầy đàn với số lƣợng lớn, chúng trở thành đối tƣợng gây phiền toái cho con ngƣời. Sự xuất hiện của kiến trong thức ăn, đồ uống đã gây nên sự kinh hãi cho nhiều ngƣời.

Một số loài khi cắn Viên sinh thái và Tài nguyên Sinh vật 1 Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn c Luận văn thạc sỹ Nguyễn Thị Thu Hường hoặc đốt gây ra những mụn ngứa hoặc bỏng rộp cho con ngƣời. Một số loài kiến làm tổ trong gỗ gây hại các cấu kiện của gỗ. Kiến cũng là một trong những vectơ truyền nhiều loại bệnh cho ngƣời và gia súc (Vũ Quang Mạnh, 2000) [5]. Vì vậy nghiên cứu kiến cũng có ý nghĩa chỉ ra thành phần loài kiến có hại, tạo cơ sở cho việc phòng trừ chúng.

Để góp phần xây dựng cơ sở dữ liệu cho việc đánh giá tính đa dạng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, đồng thời bổ sung dẫn liệu về đa dạng kiến Việt Nam thêm phong phú, chúng tôi tiến hành nghiên cứu và đƣa ra “Một số dẫn liệu về đa dạng kiến (Insecta: Hymenoptera: Formicidae) ởKhu Bảo tồn Thiên nhiên Hòn Bà, tỉnh Khánh Hòa”. Mục tiêu của đề tài - Nghiên cứu sự đa dạng của các phân họ và các giống kiến tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà. - Nghiên cứu giá sự đa dạng của các giống kiến trong các nhóm chức năng. - Nghiên cứu thành phần loài kiến ở các đới độ cao khác nhau tạiKhu Bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà.

Nội dung của đề tài - Thống kê thành phần loài và các giống kiến tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà. - Xác định sự phân bố của các loài kiến trong các nhóm chức năng. - Xây dựng khóa phân loại các phân họ kiến tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà, mô tả đặc trƣng hình thái các phân họ kiến tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà. Ý nghĩa của đề tài Đề tài cung cấp một số dẫn liệu về đa dạng kiến (Insecta: Hymenoptera: Formicidae) ở Khu Bảo tồn Thiên nhiên Hòn Bà, tỉnh Khánh Hòa nói riêng và khu hệ kiến Việt Nam nói chung.

TỔNG QUAN TÀI LIỆU Viên sinh thái và Tài nguyên Sinh vật 2 Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn c Luận văn thạc sỹ Nguyễn Thị Thu Hường 1. Vai trò quan trọng của kiến Kiến (Hymenoptera: Formicidae) là một trong những nhóm côn trùng xã hội cánh màng có vai trò quan trọng trong các hệ sinh thái (Nguyễn Đắc Đại và nnk, 2015) [2], chúng có mặt ở khắp mọi nơi, những khoảng không có sẵn đều có thể trở thành nơi cƣ trú của kiến, chúng giữ vai trò quan trọng trong hệ sinh thái. Trong thực tế,ở một vài nơi kiến phát triển với số lƣợng cực lớn và có thể tạo ra sinh khối rất lớn. Ở Tây Phi, Lamotte (1947) đã xác nhận kiến chiếm 27% số lƣợng động vật không xƣơng sống và 4% sinh khối.

Ở vùng đồng cỏ Bắc Mỹ kiến bắt mồi chiếm 1-15% tổng sinh khối của động vật không xƣơng sống dƣới mặt đất. Trong nhiều sa mạc, kiến là vật tiêu thụ chủ yếu hạt của các cây hàng năm và thƣờng gây áp lực đối với tỷ lệ tăng trƣởng quần thể của loài chuột, vì cả hai đều có chung một loại thức ăn (Vũ Quang Mạnh, 2000) [5]. Khi xâm nhập vào nhà cửa, các loài kiến thuộc giống Eciton ở châu Mỹ và các loài của giống Dorylus ở châu Âu và châu Á, đã tiêu diệt tất cả các côn trùng gây hại khác chẳng hạn nhƣ gián, rệp … Một điều rất kỳ lạ là dọc theo những cột di chuyển của kiến, ngƣời ta không thấy có sâu và chuột gây hại (Bùi Công Hiển và nnk, 2014)[3]. Ở đa số những nơi cƣ trú, kiến dẫn đầu những vật ăn thịt trong số các loài côn trùng và các loài động vật không xƣơng sống nhỏ bé sống trong đất (Jeanne, 1979; Willson, 1971) [31, 42].

Trong rừng ôn đới ở New York, kiến có tác dụng phát tán gần 1/3 số loài cây hòa thảo, các loài cây này đã sản xuất đến 40% sinh khối trên mặt đất (Handel et al. Kiến còn vận chuyển phân tán các hạt cây rừng lên Viên sinh thái và Tài nguyên Sinh vật 3 Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn c Luận văn thạc sỹ Nguyễn Thị Thu Hường các tảng đá trần trụi ở Phần Lan (Oinonen, 1956) [32].Những vùng có tổ kiến thƣờng có lƣợng carbon, nitrogen và phospho cao. Nồng độ nitrogen thƣờng phân bố không đồng đều trên mặt đất do đó tạo ra sự phân bố không đồng đều của thảm thực vật (Briese, 1982) [17].Thành phần dinh dƣỡng trong các tổ kiến khác với thành phần dinh dƣỡng vùng đất xung quanh tổ kiến. Hiệu quả dinh dƣỡng trong tổ kiến duy trì đƣợc trong thời gian dài, đôi khi trong suốt năm sau khi tách chúng ra khỏi các tổ (Vũ Quang Mạnh, 2000) [5].Nói chung cây trồng thƣờng phát triển tốt hơn trên đất của các tổ kiến cũ.

Kiến đặc biệt thích hợp với các chƣơng trình đánh giá và kiểm soát môi trƣờng, vì tính đa dạng và sự phong phú của chúng ở hầu hết các nơi cƣ trú. Đã có rất nhiều nghiên cứu sử dụng kiến trong đánh giá và kiểm soát môi trƣờng, ví dụ nhƣ nghiên cứu sự đa dạng của kiến theo độ cao địa hình ở Madagascar (Fisher, 1996), kết quả đã thu đƣợc 148 loài kiến thuộc 28 giống, thành phần loài kiến thay đổi theo độ cao từ 785-825m tới 1275-1680m, từ vùng đất thấp tới vùng đất cao. Andersen (1992) đã sử dụng kiến để đánh giá khả năng phục hồi môi trƣờng sau khi khai mỏ tại đất rừng savan Australia. Kết quả cho thấy thành phần loài kiến tăng theo thời gian sau 8 năm, tuy nhiên mức độ tăng vẫn chƣa đạt số lƣợng loài so với công thức đối chứng (Bolton, 1995) [13].

Kiến là một trong những nhóm côn trùng có ý nghĩa quan trọng trong đời sống kinh tế và nghiên cứu khoa học, đặc biệt nhƣ khả năng thông tin trong các quần thể kiến, sự phản ứng của chúng với những thay đổi của môi trƣờng luôn thu hút sự nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trên thế giới. Tình hình nghiên cứu kiến trên thế giới Hệ thống phân loại kiến mà chúng ta tiếp thu đƣợc ngày nay là thành tựu hơn một thế kỷ tích lũy công sức của nhiều nhà khoa học. Các tác giả đầu tiên nhƣ Nylander (1846a, 1846b, 1849), Smith (1858), Mayr (1861, 1863) và Viên sinh thái và Tài nguyên Sinh vật 4 Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn c Luận văn thạc sỹ Nguyễn Thị Thu Hường Roger (1863b) đã tiến hành nghiên cứu tập hợp tên các taxon ở mức độ giống và loài, song họ chƣa quan tâm nhiều đến việc sắp xếp các taxon trên thành hệ thống phân loại chuẩn theo quy định. Tiếp theo là thế hệ các nhà phân loại kiến thứ hai, bên cạnh việc bổ sung số lƣợng lớn tên vào danh sách các loài kiến đang phát triển nhanh chóng, họ bắt đầu sắp xếp tên vào hệ thống phân loại chuẩn.

Sau đó, Emery (1877a, 1895j, 1896e, 1901a, 1914a, 1915i) và Forel (1878, 1893) đã phát triển thành hệ thống phân loại nhƣ ngày nay. Chính hệ thống này đã đƣợc nhiều tác giả sử dụng, nhƣ Emery sử dụng trong một loạt công trình về các giống côn trùng công bố vào các năm 1910, 1911, 1912, 1921, 1922, 1925 và các công trình của Wheeler (1920, 1925). Kết quả của họ đƣợc gọi là hệ thống phân loại Emery- Wheeler (Brown, 1958g), trong đó hai tác giả đã trình bày khóa phân loại các giống kiến của thế giới và các taxon bậc cao hơn, hệ thống phân loại này đã có ảnh hƣởng to lớn trong việc giải quyết những khó khăn tồn tại trong nhiều năm (Bolton, 1995) [13]. Vào năm 1950, sau một thời gian dài sử dụng, các nhà khoa học đã nhận thấy hệ thống phân loại kiến của Emery-Wheeler xuất hiện những sai sót rất khó có thể khắc phục và đã không đƣợc sử dụng nhiều trong giới khoa học.

Đến năm 1951, Clark và Bernard đề xuất đƣa ra hai hệ thống phân loại đặc trƣng của các phân họ kiến. Hệ thống này đã nhanh chóng đƣợc Brown (1954e) sử dụng, đồng thời đề xuất ra những thay đổi cơ bản trong phƣơng hƣớng phân loại kiến. Những công trình của Brown đã hình thành nền tảng cho các nghiên cứu hiện đại trong cả hai lĩnh vực phân loại và phát sinh loài kiến (Bolton, 1995) [13]. Trong khuôn khổ hệ thống phân loại trên bao gồm các bảng danh lục của Brown (1973b), Snelling (1981), Wheeler (1985), Dlussky và Fedoseeva (1987), Holldobler và Wilson (1990), Bolton (1994).

Về việc nghiên cứu phát sinh loài kiến hoặc những ý định giải thích nguồn gốc của các dạng phân họ kiến đã đƣợc Wheeler khởi thảo từ năm Viên sinh thái và Tài nguyên Sinh vật 5 Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Đa Dạng Kiến Ở Khu Bảo Tồn Thiên Nhiên Hòn Bà, Khánh Hòa" cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự phong phú và đa dạng của các loài kiến trong khu bảo tồn này. Bài viết không chỉ nêu bật các đặc điểm sinh thái của khu vực mà còn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo tồn đa dạng sinh học. Độc giả sẽ nhận được thông tin quý giá về các loài kiến đặc trưng, vai trò của chúng trong hệ sinh thái, cũng như những thách thức mà khu bảo tồn đang phải đối mặt.

Để mở rộng kiến thức về các vấn đề liên quan đến bảo tồn và tác động của biến đổi khí hậu, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn thạc sĩ quản lý tài nguyên và môi trường đánh giá ảnh hưởng của biến đổi khí hậu lên chất lượng nước của lưu vực sông 3s sê kông sê san sêrêpôk. Tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về tác động của biến đổi khí hậu đến các nguồn nước, một yếu tố quan trọng trong bảo tồn sinh thái.

Ngoài ra, bạn cũng có thể tìm hiểu về Luận văn nghiên cứu một số đặc điểm khu hệ thú linh trưởng tại khu bảo tồn thiên nhiên bắc mê tỉnh hà giang, nơi cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự đa dạng của các loài động vật trong các khu bảo tồn khác, từ đó có thể so sánh và rút ra bài học cho khu bảo tồn Hòn Bà.

Cuối cùng, tài liệu Luận văn nghiên cứu đặc điểm cấu trúc và tính đa dạng loài thực vật của một số kiểu rừng tại khu bảo tồn thiên nhiên đakrông sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về sự đa dạng thực vật, một phần không thể thiếu trong hệ sinh thái của các khu bảo tồn.

Những tài liệu này không chỉ mở rộng kiến thức của bạn về bảo tồn thiên nhiên mà còn cung cấp những góc nhìn đa dạng về các vấn đề sinh thái hiện nay.