Mở đầu: khái quát vấn đề nghiên cứu với các nội dung chủ yếu: lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tƣợng & khách thể nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi, ý nghĩa của nghiên cứu,thuận lợi và khó khăn của vấn đề nghiên cứu, cùng kết cấu của luận văn. 10 Nội dung: gồm 3 chƣơng Chƣơng 1: đề cập đến cơ sở lý luận và phƣơng pháp luận:tổng quan nghiên cứu, thao tác hóa một số khái niệm có liên quan, các cách tiếp cận, lý thuyết sử dụng trong đề tài, giả thuyết nghiên cứu, và khung phân tích. Chƣơng 2: tìm hiểu thực trạng đời sống của những ngƣ hộ với các thành tố nhƣ: sinh hoạt lao động, vật chất, đời sống chính trị-xã hội và văn hóa tinh thần. Chƣơng 3: phân tích các yếu tố ảnh hƣởng đến đời sống của ngƣ hộ, và tìm ra những yếu tố giúp họ có đời sống tốt, ổn định hơn.
Kết luận: nêu lên những kết luận mà phần nội dung thể hiện, góp phần kiểm định những giả thuyết. Nghiên cứu đề xuất những khuyến nghị cụ thể nhƣ nêu lên một số giải pháp,góp phần giảm bớt khó khăn thách thức trong đời sống của ngƣ hộ ở Phú Quốc, giúp họ nâng cao hơn về đời sống vật chất-xã hội-tinh thần. Tài liệu tham khảo Phụ lục 11 PHẦN NỘI DUNG 12 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP LUẬN 1. Khái quát những nghiên cứu về đời sống, và ngƣ dân Phần tổng quan sẽ đi từ các nghiên cứu về đời sống nói chung, đến các nghiên cứu về biển, đảo và ngƣ dân;nhằm nêu bật những kết quả đạt đƣợc từ những nghiên cứu trƣớc liên quan đến chủ đề.
Việc tổng quan, tìm hiểu các nghiên cứu liên quan giúp ngƣời nghiên cứu có cái nhìn rõ hơn về vấn đề nghiên cứu, kế thừa, mở rộng, đi sâu, dựa trên các mục tiêu nghiên cứu đã đề ra. Lý luận, thực nghiệmliên quan đến đời sống Với sự phát triển kinh tế-xã hội, chất lƣợng cuộc sống con ngƣời ngày càng đƣợc chú trọng. Các quốc gia không chỉ chú ý đến việc tăng trƣởng GDP, mà còn chú ý đến chỉ số phát triển con ngƣời (HDI). Tổ chức WHO cho rằng chất lƣợng sống của dân cƣ đƣợc đo bằng các yếu tố: tiêu chuẩn sống, mức độ hạnh phúc; sự tự do và an toàn môi trƣờng (Lê 2013:203).Việc đánh giá mức độ phát triển quốc gia cần kết hợpchỉ số tổng sản lƣợng nội địa (GDP) với chỉ số hạnh phúc quốc gia (GNH)4.
Nguyên tắc thứ nhấttrong Những nguyên tắc chính của Định hƣớng chiến lƣợc phát triển bền vững ở Việt Namcũng đề cập: “Con ngƣời là trung tâm của phát triển bền vững. Đáp ứng ngày càng đầy đủ hơn nhu cầu vật chất và tinh thần của mọi tầng lớp nhân dân” (Định hƣớng chiến lƣợc phát triển bền vững ở Việt Nam 2004). “Phát triển phải mang lại sự cải thiện điều kiện sống cho con ngƣời. Do đó, phát triển phải đảm bảo đáp ứng những nhu cầu cơ bản của tất cả mọi ngƣời: không chỉ cơm ăn, áo mặc mà cả mái ấm, y tế và giáo dục” (Eric Hershberg & Christy Thornton 2006:17).
Vì vậy, để thúc đẩy quá trình vận động của xã hội theo hƣớng tiến bộ, các vấn đề liên quan đến đời sống con ngƣời thời gian qua đƣợc các học giả quan tâm tìm hiểu. Lê Hữu Tầng (1997) nhận định rằng bên cạnh lợi ích kinh tế, cần phải xác định đƣợc những yếu tố, động lực quan trọng khác để khi tác động vào đó, ngƣời ta có thể khơi dậy đƣợc tính tích cực của cá nhân và cộng đồng. Tác giả này chỉ ra rằng con ngƣời là vai trò, động lực của sự phát triển kinh tế-xã hộibền vững. Khai thác và sử 4 Theo đức vua Bhutan jigme Singye Wangchuck (1972), chỉ số GNH có 4 tiêu chí đánh giá: 1/Khuyến khích phát triển mô hình kinh tế - xã hội bền vững và công bằng; 2/Bảo tồn và cổ súy giá trị văn hóa; 3/Giữ gìn môi trƣờng thiên nhiên; 4/Thiết lập cơ chế quản lý hiệu quả.
13 dụngvai trò ấycó hiệu quả, nhằm thúc đẩy quá trình vận động của xã hội theo chiều mà chúng ta mong muốn là điều cần quan tâm nghiêncứu sâu và toàn diện. Vì vậy, các nghiên cứu khoa học xã hội vềđời sống con ngƣời rất hữu ích và thiết thực. Trịnh Duy Luân(2006)đã sử dụng lý thuyết xung đột và thuyết hệ thống Macxit lý giải về biến đổi xã hội ở nƣớc ta. Ông cho rằng khả năng của con ngƣời có thể ảnh hƣởng tới đời sống riêng của họ qua hành động chính trị, vì một số chính sách mới của Chính phủ có thể dẫn đến những thay đổi trong xã hội.
Những yếu tố tác động đến biến đổi xã hội nhƣ: xã hội phát triển thông qua sự phát triển tri thức của loài ngƣời, tạo nên những sản phẩm công nghệ: tivi, internet, điệnthoại, video, máy tính… Sự tác động của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nền kinh tế phát triển theo hƣớng đi lên, hệ thống chính trị-văn hóa-xã hội cũng biến đổi. Khái niệm biến đổi xã hội có nhiều yếu tố: phát triển xã hội, phát triển con ngƣời đến những thay đổi trong cơ cấu xã hội, trong hệ thống giá trị, những khuôn mẫu hành vi, lối sống của các nhóm xã hội khác nhau. Nghiên cứu giúp đã cho thấy thực trạng và xu hƣớng biến đổi của các nhóm xã hội đặc thù. Phƣơng pháp nghiên cứu trong phạm vi từng nhómxã hội, từng lĩnh vực, từng giai đoạn cho thấy những biến đổi xã hội mang tính bộ phận,hoạt động một cách đơn lẻ trong một hệ thống xã hội lớn.
Với cách tiếp cận văn hóa và các nguồn lực, tác giả chỉ ra rằng những cá nhân và gia đình ở nông thôn đang cấu trúc lại chiến lƣợc sống của họ, để đảm bảo đời sống trong điều kiện mới.Ảnh hƣởng của biến đổi xã hội vừa là cơ hội, vừa là thách thức lớn, và nguy cơ gặp các rủi ro đối với ngƣời lao động có học vấn thấp trong đời sống hiện đại. Cách tiếp cận, các khái niệm, và chỉ báo trong nghiên cứucủa Trịnh Duy Luân là nền tảng lý thuyết quan trọng cho các nghiên cứu xã hội học liên quan đến đời sống và các yếu tố ảnh hƣởng đến đời sống dân cƣ trong xã hội hiện đại. Mạng lưới xã hội trong đời sống cá nhân, nhóm, cộng đồng Khi tìm hiểu về đời sống của các nhóm xã hội, các nghiên cứu thƣờng quan tâm đến mạng lƣới xã hội mà cá nhân tận dụng trong cuộc sống. Mạng lƣới xã hội có vai trò rất lớn trong đời sống của con ngƣời, là một dạng của vốn xã hội.Các tác giả của thuyết mạng lƣới xã hội thƣờng nghiên cứu cấu trúc bên trong của các mối liên hệ, tƣơng tác và quan hệ xã hội của các cá nhân, nhóm.
Nghiên cứu quan tâm đến sự khác nhau về giới trong việc sử dụng mạng lƣới xã hội, cho thấy hiệu quả của việc tận dụng mạng lƣới xã hội trong mỗi giới cũng khác nhau: phụ nữ có xu hƣớng có mối quan hệ mạnh với hàng xóm, ngƣời thân, thƣờng có bạn tâm giao với những ngƣời cùng tầng lớp. Nam giới thƣờng có mạng lƣới xã hội với những ngƣời không cùng tầng lớp,để tìm việc hay trao đổi các lợi ích khác nhau. Nam giới tận dụng các mạng lƣới phi chính thức thƣờng có đƣợc việc làm tốt hơn, còn phụ nữ có đƣợc việc làm có tính phân biệt giới và tiền lƣơng thấp hơn. Nghiên cứu phát hiện về vai trò của mối quan hệ mạnh-yếu trong đời sống cá nhân tùy thuộc vào từng giai đoạn phát triển của xã hội: khi nền kinh tế kém phát triển ngƣời ta thƣờng dựa vào các mối quan hệ mạnh; kinh tế phát triển hơn thì mạng lƣới xã hội của cá nhân linh hoạt hơn, dễ thay đổi, không cố định.
Lúc này các mối quan hệ yếu xuất hiện nhiều hơn, nhƣng không đóng vai trò quan trọng, vì cá nhân ít có sƣ liên hệ vớicác mối quan hệ đó. Các mối quan hệ mạnh-yếu tùy vào các giai đoạn tuổi tác: khi còn nhỏ cá nhân thƣờng phụ thuộc vào các quan hệ mạnh, nhƣng khi lớn tuổi hơn, họ có xu hƣớng có thêm nhiều mối quan hệ yếu. Để hiểu rõ hơn về mạng lƣới xã hội trong đời sống của cá nhân và nhóm xã hội, nhiều tác giả tìm hiểu về vốn xã hội. Vì vốn xã hội không chỉ có chức năng kinh tế mà còn có chức năng xã hội (Lê 2008:45).
Nhƣng vốn xã hội có ý nghĩa tích cực hoặc tiêu cực trong những mối liên hệ giữa ngƣời với ngƣời trong cộng đồng, xã hội. Những mối liên hệ này chịu sự chi phối bởi các giá trị, chuẩn mực, và những định chế tồn tại trong đó, biểu hiện thành những điềuchúng ta cóthể nhận thấy, nhƣ mức tin cậy lẫn nhau, việc tham gia các đoàn thể và các mạng lƣới xã hội trong cộng đồng. Khi nghiên cứu về vốn xã hội, nhà nghiên cứu nên tìm hiểu môi trƣờng văn hóa xã hội, và các định chế trong đó vốn xã hội hình thành, tồn tại (Trần 2006). 15 Những nghiên cứu nêu trên phần nào giúp chúng tôi hiểu rõ hơn về lý luận, lý thuyết trong nghiên cứu thực nghiệm về mạng lƣới xã hội đối với đời sống của cá nhân, nhóm.Dựa trên các nghiên cứu về lý luận, các nghiên cứu thực nghiệm ra đời.
Lê Ngọc Hùng (2008) đã có những phát hiện về vốn xã hội, vốn con ngƣời và những mạng lƣới xã hội điển hình ở Việt Nam: 1)mạng lƣới xã hội của ngƣời bán hàng rong và lao động tự do; 2)mạng thông tin của doanh nghiệp; 3)mạng lƣới di cƣ (các mối liên hệ giữa các cá nhân và các nhóm ngƣời di cƣ); 4)vai trò của các loại vốn trong xóa đói giảm nghèo; 5)mạng lƣới tìm kiếm việc làm của sinh viên; 6)vai trò của vốn xã hội trong giao dịch kinh tế; 7)cách thức sử dụng vốn xã hội của nông dân. Ông cho rằng ngƣời Việt quan tâm xây dựng vốn xã hội và duy trì các quan hệ xã hội trong mọi mặt (buôn bán, xây dựng, di cƣ, giảm nghèo, khởi nghiệp, vận hành doanh nghiệp). Thƣờng đầu tƣ phát triển vốn xã hội trong nhóm và cộng đồng nhỏkhiếnhọkhó thích ứng với yêu cầu sản xuất công nghiệp theo cơ chế thị trƣờng. Với sự nghèo nàn về vốn vật chất, vốn kinh tế, vốn tự nhiên, yếu kém về vốn ngƣời và hạn chế của vốn xã hội có khả năng làm tăng nguy cơ đói nghèo, thúc đẩy việc sử dụng chiến lƣợc sinh kế (trẻ em bỏ học tham gia lao động), gây tổn hại đối với phát triển biền vững.