Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. THỰC TRẠNG CUNG CẤP VÀ sử DỤNG DỊCH vụ Y TÊ THÔN Ở VIỆT NAM 1. Tình hình chung về hệ thông y tế Việt Nam Hệ thống y tế Việt Nam dược xây dựng và quản lý dựa trên các nguyên tắc cơ bản sau đây [10]: + Bảo đảm phục vụ nhân dân kịp thời, có hiệu quả cao, đáp ứng được nhu cầu của người dân khi cần là có sẵn thầy, sẩn thuốc. + Xây dựng theo hướng y tê' dự phòng bản chất của nền y tế XHCN + Phù hợp với tình hình kinh tế của mỗi địa phương + Phù hợp với trình độ khoa học kỹ thuật và khả năng quàn lý của ngành y tế.
+ Đảm bảo không ngừng nâng cao chất lượng phục vụ. Trên cơ sở của các nguyên tắc đó, hệ thống y tế ở nước ta hiên nay được chia theo 4 tuyên, tuyên Trung ương, tuyến tỉnh thành phô' (61), tuyến huyện, tuyến xã. Nếu dựa theo khu vực thì chia hệ thống y tế làm 2 khu vực, khu vực chuyên sâu và khu vực phổ cập. Khu vực phổ cập dược tính từ tuyến tỉnh trở xuống đến y tế cơ sở.
Y tế cơ sở bao gồm tuyến huyện và tuyến xã, trong đó có y tế thôn bản ở miền núi (YTTB) và y tô' thôn ở miền xuôi (YTT). Y tế cơ sở đóng vai trò quan trọng trong công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân, là bộ phận chuyển tải và trực tiếp triển khai có hiệu quả các nội dung CSSKBĐ [6], [19], [22]. Việt Nam là một nước nông nghiệp lạc hậu, khoảng 80% dân sô' làm nông nghiệp, sống ở nông thôn, do đó đặc trưng y tế của nước ta là y tế nông thôn, mô hình bệnh tạt của nước ta là mô hình bộnh lật của một nước chậm phát triển thuộc vùng nhiệt đới nóng ẩm, vì vậy đối tượng phục vụ y tế là nông dân (chú ý các vùng khó khăn). Hiện nay, nền kinh tế đang chuyển sang kinh tế thị trường, dã xuất hiện sự phân hoá giàu nghèo (đặc biệt ở nông thôn), những người có thu nhập cao thường có xu hướng tìm kiếm dịch vụ KCB chất lượng cao, vượt tuyến lên tuyên y lô' cao hơn.
Còn những người nghèo hoàn cảnh kinh tô' khó khăn thường xuyên sử dụng dịch vụ y tế ở tuyến y tế cơ sở [20], [25]. 5 Đế hạn chế tình trạng mất công bằng trong việc cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, cách tốt nhất là chúng ta phát triển mạng lưới y tế cơ sở trên tất cả các mặt, trong đó đặc biệt chú ý tới y tế xã và YTT, như vậy chúng ta sẽ đảm bảo được sự công bằng trong CSSK cho người dân và đáp ứng được nhiều hơn cho các đối tượng nghèo, vùng nghèo, vùng cao, vùng sâu, vùng xa, vùng gặp nhiều khó khăn [25], [29], [30], [34]. Trong những năm qua, sự quan tâm chỉ đạo công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoe nhân dân của Đảng và Nhà nước ta đã thể hiện qua các Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI, VII, VIII và IX, đặc biệt từ khi có Hội nghị lần thứ IV Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VII đã ra Nghị quyết về “những vấn đề cấp bách trong công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân”. Quốc hội đã ban hành luật bảo vệ sức khoẻ nhân dân.
Chính phủ đã ban hành nhiều chỉ thị, quyết định để thể chế hoá các chủ trương của Đảng, đặc biệt gần đây có chỉ thị số 06-CT/TW ngày 22/10/2002 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về việc củng cố và hoàn thiện mạng lưới y tê' cơ sở. Quyết định sô' 35/2001/QĐ-TTg ngày 19/3/2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt chiến lược chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân giai đoạn 2001 - 2010. Ngành y tê' có rất nhiều cô' gắng trong việc tổ chức triển khai thực hiện các chủ trương và chính sách của Đảng, Nhà nước nên công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân đã đạt được những thành tựu quan trọng [1], [2], [11], [12], [15], [16], [27]. Mục tiêu lâu dài của mạng lưới y tê' cơ sở là “cùng với các ngành khác đảm bảo ngày một đầy đủ nhất các yêu cầu về phòng bệnh, chữa bệnh, bảo vệ sức khoẻ, nâng cao sức khỏe, kéo dài tuổi thọ, nâng cao chất lượng cuộc sống”.
Mạng lưới y tê' cơ sở phải xuất phát từ nông thôn, đào tạo nhân lực y tế, ưu tiên người tại địa phương để sau này họ về phục vụ nhân dân tại địa phương, COI phát triển của mạng lưới y lê cư sở là một mặt của phát triển kinh tê' - xã hội của cơ sở [15], [29]. Mò hình tổ chức của ngành y tê Việt Nam [10]: Như mô hình trên thì YTT là tuyến cuối cùng, gần dân nhất, là “cánh tay nối dài” của trạm y tế xã[19]. Quá trình phát triển của mạng lưới y tế thôn/ bản Trong lịch sử ngành y tế Việt Nam, mạng lưới YTT đã được hình thành từ sau cách mạng tháng 8 với những tên gọi khác nhau như: Vệ sinh viên (ở nông thôn), cứu thương (quân đội). Trong nen kinh te tập trung bao cấp trước khoán 10 trong nông nghiệp YTT gắn liền với hợp tác xã và đội sản xuất, do hợp tác xã trả phụ cấp bằng công điểm, cấp ruộng để tự thu hoạch, trong thời kỳ này hoạt động của YTT tương đối có nề nếp, nhiệm vụ của họ là thực hiện công tác tuyên truyền vệ sinh phòng bệnh, hoạt động gắn liền với phong trào.
Sau khoán 10, mô hình sản xuất hợp tác xã hầu như tan rã và YTT cũng tan rã theo. YTT không hoạt động, không có ai quản lý và không được trả phụ cấp. Từ sau Đại hội Đảng VIII, sau 4 năm triển khai Thông tư Liên bộ sô' 08/ TTLB hướng dẫn thực hiện quyết định 58/TTg và Quyết định 131/TTg của Chính phủ quy định một số vấn đề về tổ chức và chế độ chính sách với y tế cơ sở, theo đó ít nhất mỗi thôn, làng, bản, buôn (liên bản buôn) có một cán bộ y tế hoặc nhân viên y tế cộng đồng hoạt động, phụ cấp do xã, phường trả theo công việc [1], [2], [12], [15], [16], [27]. 7 Theo Quyết định 37/CP, phấn đấu đến năm 2000, 100% thôn, bản có nhân viên y tế thôn hoạt động.
Theo Quyết định 35/TTg, phấn đấu đến năm 2010, thường xuyên 100% thôn bản có NVYT có trình độ sơ học trở nôn. Phát triển đội ngũ tình nguyên viên y tê' tại các thôn/ ấp miền đồng bằng. Cùng với sự Ổn định và phát triển của hệ thống y tế cơ sở, YTT cũng dần dược ổn định và phát triển. Mạng lưới YTT đã được kiện toàn và phát triển rộng khắp trên toàn quớc và có hiệu quả, đặc biệt một số tỉnh đã có cơ chế chính sách cụ thổ cho YTT như tỉnh Hà Tây, Sơn La, Hải Dương, Bình Định và 9 tỉnh miền núi có dự án nhà YTT [14], [26], [35], [36], [37], [38], [39], Tinh Bình Định đã triển khai có hiệu quả đề án “xây dựng mạng lưới y tế thôn bàn’’.
Tỉnh Bình Định đã cụ thổ hoá và bổ xung một sô' chức nãng nhiệm vụ cho YTT, không những mỗi thôn có 1 NVYTT mà những thôn đông dân có thể bô' trí 2 hoặc 3 NVYTT. Tiền thù lao tinh đã cấp từ kinh phí sự nghiệp y tế và trả cho mỗi NVYTT 1 lO.OOOđ/ tháng. Mô hình này đã được Bộ Y tế nhất trí cao và coi là mô hình điổn hình đề nghị các linh tham kháo vận dụng [12], [35], [36]. Thực trạng về tổ chức YTT hiện nay: Theo thống kê của vụ Tổ chức - Bộ Y tế, tính đến 30/12/2002: Sô' thôn, bản, ấp có NVYTT: 85784/ 120459 (71,2%) Số tổ dân phố, thôn (khu vực xã, thị trấn) có NVYTT: 77452/ 86815 (89,8%) Tính theo cả nước chúng ta có 78,75% thôn bản có NVYTT.
Một sô đánh giá về hoạt động YTT NVYTT là người cung cấp dịch vụ y tê' thích hợp nhất ở tuyến thôn, bản với vai trò quan trọng trong việc mở rộng các dịch vụ y tế đến người nghèo, vùng xa xôi, hèo lánh và dân tộc ít người. Tuy mạng lưới y tê' bao phủ rộng khắp với dịch vụ y tế xuống tân thôn, bân liếp cân gàn dân nhất, song lình hình cải thiện sức khoẻ cho người dân cũng còn nhiều hạn chế, chất lượng thấp dặc biệt là những vùng khó khăn [8], [11 ], [14], [19]. Có thổ thấy bằng những nỗ lực to lớn của hộ thống chăm sóc sức khoẻ cùa Nhà nước đã đem lại những thành tựu đáng kể về y tê' cho toàn thể nhân dân, đặc biệt từ những nãm đổi mới lại dây. Nhìn vồ toàn diện, hệ thống chăm sóc sức khoẻ 8 công cộng đã được hình thành từ lâu và hoạt động trên phạm vi rộng trên toàn quốc, đơn vị TYT xã đã xuất hiện, tổn tại và vận hành có hiệu quả, đây là mạng lưới y tế cơ sở quan trọng trong việc CSSKBĐ cho người dân ở địa phương.
Nhờ vào hệ thống này mà trong một thời gian dài Việt Nam đã triển khai được một cách có hiệu quả các hoạt động chăm sóc sức khoẻ trong những điều kiện kinh tế đất nước còn hết sức khó khăn. Sự hoạt động của mạng lưới này đã góp phần nâng cao sức khoẻ cho nhân dân và làm giảm nhanh mức chết chung cũng như chết trẻ sơ sinh trôn phạm vi toàn quốc, trong những năm qua tỷ lệ mắc và chết của các bệnh truyền nhiễm, suy dinh dưỡng trẽ em, tỷ lệ chết giảm đáng kể. Điều kiện địa lý và cư trú của các dân tộc khác nhau cũng là điều rất cần phải lưu ý đến. Nếu như khu vực miền xuôi, nơi các dân cư sống tập trung đông đúc, thì TYT có thổ là cấp y tế cơ sở cuối cùng, đối với khu vực miền núi, vùng cao dân cư sống phân tán, địa hình phức tạp, rộng thì TYT không thể nào là cấp y tế cơ sở cuối cùng dược, mà lại là YTTB theo mô hình “Nhà y tế bản”, có đội ngũ NVYTB được đào tạo - là cầu nối giữa người dân với TYT [22], [31], [33], [34].