Đánh giá tiềm năng xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang Anh khi Anh gia nhập CPTPP

Phân tích tiềm năng xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang Anh khi nước này gia nhập CPTPP. Báo cáo chỉ rõ cơ hội, thách thức và giải pháp cho doanh nghiệp.

Trường đại học

Đại học Thương mại

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học

2024

101
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. CPTPP và Anh Bối cảnh gia nhập hiệp định

CPTPP (Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ Xuyên Thái Bình Dương) là một trong những hiệp định thương mại tự do lớn nhất thế giới. Khi Anh gia nhập CPTPP, đây là một bước ngoặt quan trọng trong chính sách thương mại quốc tế của nước này sau khi rời khỏi Liên minh Châu Âu. Hiệp định CPTPP mở ra những cơ hội mới cho các nước thành viên, đặc biệt là trong lĩnh vực nông sản và xuất khẩu thủy sản. Việc Anh gia nhập CPTPP không chỉ giúp Anh mở rộng thị trường mà còn tạo ra những cơ hội lớn cho các nước xuất khẩu như Việt Nam. Thủy sản Việt Nam được kỳ vọng sẽ hưởng lợi đáng kể từ sự giảm tariff và mở rộng tiếp cận thị trường Anh.

1.1. Khái niệm và nội dung CPTPP

CPTPP là hiệp định thương mại liên kết 11 quốc gia tại khu vực Thái Bình Dương. Hiệp định này nhằm giảm rào cản thương mại, tự do hóa dịch vụbảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Nội dung CPTPP bao gồm cam kết về giảm thuế quan, loại bỏ hạn chế về hàng hóatạo điều kiện thương mại công bằng. Với Anh gia nhập, phạm vi hiệp định mở rộng sang khu vực Châu Âu, tạo ra lợi thế cạnh tranh mới cho các mặt hàng xuất khẩu.

1.2. Lợi ích kinh tế khi Anh gia nhập CPTPP

Anh gia nhập CPTPP mang lại lợi ích kinh tế đáng kể cho cả nước này lẫn các thành viên khác. Thị trường Anhsức mua caonhu cầu thủy sản lớn, tạo cơ hội cho xuất khẩu thủy sản Việt Nam. Giảm thuế quan theo CPTPP giúp thủy sản Việtgiá cạnh tranh tốt hơn. Bên cạnh đó, thị trường Anh yêu cầu tiêu chuẩn chất lượng cao, điều này thúc đẩy các doanh nghiệp thủy sản Việt Nam nâng cao chất lượng sản phẩmtăng khả năng cạnh tranh.

II. Thực trạng xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang Anh

Thủy sản Việt Nam hiện nay là một trong những mặt hàng xuất khẩu chính của quốc gia. Xuất khẩu thủy sản sang Anh có những khó khăn nhưng cũng tiềm ẩn nhiều cơ hội. Tình hình hiện tại cho thấy kim ngạch xuất khẩu thủy sản từ Việt Nam sang thị trường Anh vẫn chưa phát huy hết tiềm năng. Các chủng loại thủy sản chính mà Việt Nam xuất khẩu bao gồm cá tra, tôm, cua và các sản phẩm thủy sản chế biến. Chất lượng sản phẩm đã được công nhận trên thế giới, nhưng rào cải thuế quan trước đây là trở ngại lớn để thủy sản Việt Nam tiếp cận thị trường Anh hiệu quả hơn.

2.1. Tình hình xuất khẩu hiện nay

Xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang Anh hiện nay còn hạn chế so với các thị trường chính như Mỹ, EU, Nhật Bản. Kim ngạch xuất khẩu từ Việt Nam sang Anh chưa đạt mức kỳ vọng, mặc dù Anh là một nước có nhu cầu thủy sản cao. Nguyên nhân chính là do rào cải thuế quan caoquy định nhập khẩu chặt chẽ. Tuy nhiên, số lượng sản phẩm từ các loài cá, tôm, cua đang tăng dần nhờ nỗ lực của doanh nghiệp.

2.2. Thách thức và rào cải hiện tại

Các thách thức chínhthủy sản Việt Nam phải đối mặt trên thị trường Anh bao gồm tiêu chuẩn chất lượng cao, quy định vệ sinh an toàn thực phẩmrào cải thuế quan. Thị trường Anh yêu cầu sản phẩm phải tuân thủ tiêu chuẩn EUcác quy định truy xuất nguồn gốc. Chi phí tuân thủ các tiêu chuẩn này khá cao, đặc biệt đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ. Cạnh tranh từ các nước khác cũng là áp lực lớn đối với thủy sản Việt Nam.

III. Cơ hội từ CPTPP cho thủy sản Việt Nam tại thị trường Anh

CPTPP mang đến cơ hội rất lớn cho thủy sản Việt Nam. Khi Anh gia nhập CPTPP, thuế quan sẽ giảm đáng kể cho các sản phẩm thủy sản, làm cho giá cạnh tranh của thủy sản Việt tốt hơn trên thị trường Anh. Hiệp định CPTPP cũng loại bỏ nhiều rào cải kỹ thuật, giúp quá trình nhập khẩu trở nên dễ dàng hơn. Cơ hội tăng xuất khẩu được dự báo sẽ tăng từ 20-40% trong 5 năm tới. Thị trường Anh với dân số hơn 67 triệu người và mức sống caothị trường tiềm năng cho thủy sản chất lượng cao. Các doanh nghiệp có thể mở rộng phạm vi kinh doanhtăng cường hợp tác với các nhà nhập khẩu Anh.

3.1. Giảm rào cải thuế quan và kỹ thuật

CPTPP cam kết giảm thuế quan trên thủy sản từ mức hiện tại 10-15% xuống 0-3% trong giai đoạn chuyển tiếp. Hiệp định cũng loại bỏ các quy định kỹ thuật phức tạp, giúp hàng hóa lưu thông nhanh hơn. Lợi thế giá cả này cho phép thủy sản Việt Nam cạnh tranh trực tiếp với các nước khác. Doanh nghiệp thủy sản sẽ tiết kiệm chi phícó lợi nhuận cao hơn.

3.2. Mở rộng tiếp cận thị trường Anh

Thị trường Anh sau khi gia nhập CPTPP sẽ mở cửa rộng hơn cho các sản phẩm thủy sản từ Việt Nam. Nhu cầu về thủy sản ở Anh rất lớn, đặc biệt là các sản phẩm chế biến chất lượng cao. Cơ hội hợp tác với các nhà phân phối, siêu thị lớn ở Anh tăng lên đáng kể. Các doanh nghiệp có thể thiết lập quan hệ đối tác lâu dài, xây dựng nhãn hiệutăng giá trị sản phẩm.

IV. Kiến nghị phát triển xuất khẩu thủy sản Việt Nam

Để tối đa hóa cơ hội từ CPTPP, Việt Nam cần thực hiện nhiều biện pháp đồng bộ. Chính phủ nên hỗ trợ doanh nghiệp trong việc tuân thủ tiêu chuẩn của thị trường Anh. Đầu tư vào cơ sở hạ tầng chế biến thủy sảnxây dựng chuỗi cung ứng hiện đại là ưu tiên hàng đầu. Doanh nghiệp cần nâng cao chất lượng sản phẩm, đạt các tiêu chuẩn quốc tếxây dựng thương hiệu. Hợp tác giữa chính phủ, doanh nghiệp và tổ chức hỗ trợ sẽ tạo điều kiện thuận lợi để thủy sản Việt Nam chiếm lĩnh thị trường Anh một cách bền vững và hiệu quả.

4.1. Kiến nghị đối với chính phủ Việt Nam

Chính phủ Việt Nam cần xây dựng các chính sách hỗ trợ cho doanh nghiệp thủy sản trong quá trình tiếp cận thị trường Anh. Hỗ trợ tài chính, tính thuế, giảm hành chính là những biện pháp cấp bách. Đầu tư vào đào tạo nhân lực, nghiên cứu phát triển sản phẩm mới cũng là yêu cầu thiết yếu. Thúc đẩy sự hợp tác giữa các doanh nghiệp để tạo lợi thế quy môtăng cường vị thế thương mại.

4.2. Đề xuất đối với doanh nghiệp thủy sản

Doanh nghiệp cần đầu tư vào nâng cấp công nghệ sản xuất, đạt các tiêu chuẩn quốc tế như GlobalGAP, ASC, MSC. Xây dựng nhãn hiệu mạnhphát triển sản phẩm có giá trị gia tăng caochiến lược dài hạn. Thiết lập quan hệ với các nhà nhập khẩu Anh, tham gia các hội chợ quốc tếxây dựng mạng lưới phân phối sẽ giúp tăng thương lượngmở rộng thị trường.

18/12/2025
Đánh giá tiềm năng xuất khẩu mặt hàng thủy sản của việt nam sang thị trường anh trong bối cảnh anh gia nhập cptpp

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Khái quát về xuất khẩu và Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương CPTPP. Chương 2: Thực trạng xuất khẩu thủy sản của Việt Nam nói chung và sang thị trường Anh nói riêng. Chương 3: Đánh giá ảnh hưởng của việc anh gia nhập CPTPP đến việc xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang Anh. Chương 4: Giải pháp và kiến nghị thúc đẩy hoạt động xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị trường Anh.

10 CHƢƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ XUẤT KHẨU VÀ HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC TOÀN DIỆN VÀ TIẾN BỘ XUYÊN THÁI BÌNH DƢƠNG (CPTPP) 1. Lý thuyết về xuất khẩu 1. Khái niệm Xuất khẩu hàng hoá là hoạt động đưa hàng hoá ra khỏi một nước (từ quốc gia này sang quốc gia khác) để bán trên cơ sở dùng tiền làm phương tiện thanh toán hoặc trao đổi lấy một hàng hoá khác có giá trị tương đương (Belay S. Nói một cách khái quát, xuất khẩu hàng hoá là việc đưa hàng hoá ra nước ngoài để thực hiện giá trị sử dụng và giá trị của hàng hoá.

Xuất khẩu tăng trưởng cao là sự gia tăng về kim ngạch, giá trị xuất khẩu. Ngô Thị Mỹ & Trần Nhuận Kiên (2016) cho rằng xuất khẩu là hoạt động trao đổi hàng hóa và dịch vụ của một quốc gia với phần còn lại của thế giới dưới hình thức mua bán thông qua quan hệ thị trường nhằm mục đích khai thác lợi thế của đất nước trong phân công lao động quốc tế để đem lại lợi ích cho quốc gia. Xuất khẩu thủy sản là hoạt động trao đổi thủy sản của một quốc gia với các nước khác trên thế giới dưới hình thức mua bán thông qua quan hệ thị trường nhằm mục đích khai thác lợi thế sẵn có của đất nước trong phân công lao động quốc tế nhằm đem lại lợi ích cho quốc gia. Theo khoản 1, Điều 28, Chương 2 Luật Thương mại Việt Nam (2005), xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật.

Hiểu theo cách khái quát, xuất khẩu là một hình thức bán hàng cho nước ngoài để thu về lợi nhuận cho doanh nghiệp và quốc gia. Có nhiều khái niệm khác nhau về xuất khẩu, dưới góc độ tiếp cận của bài nghiên cứu, xuất khẩu là hoạt động trao đổi hàng hóa và dịch vụ của một quốc gia với phần còn lại của thế giới dưới hình thức mua bán thông qua quan hệ thị trường nhằm mục đích khai thác lợi thế của đất nước trong phân công lao động quốc tế để đem lại lợi ích cho quốc gia. Đặc điểm Xuất khẩu là một trong những hoạt động cơ bản cấu thành nên hoạt động ngoại thương với nhiều phương thức vận hành phức tạp. Về cơ bản, xuất khẩu có những đặc điểm sau: - Xuất khẩu là hoạt động kinh tế có tính đối ngoại.

Trong hoạt động xuất khẩu, hàng hóa và dịch vụ xuất khẩu được bán ra cho người tiêu dùng ở nước ngoài, giao dịch giữa hai bên tham gia được thực hiện bằng ngoại tệ. - Xuất khẩu là hoạt động mua bán hàng hóa và dịch vụ, trong đó hàng hóa và dịch vụ được trao đổi với nhau bằng tiền, điều này thể hiện rõ tính thương mại 11 của hoạt động. Giao dịch xuất khẩu được thực hiện theo các quy tắc thương mại quốc tế, khi đó hàng hóa và dịch vụ xuất khẩu được mua bán giữa hai bên với giá cả được thỏa thuận. - Xuất khẩu chịu sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau như môi trường kinh tế, chính trị, luật pháp… của các quốc gia khác nhau.

Thanh toán bằng đồng tiền ngoại tệ, hàng hoá được vận chuyển qua biên giới quốc gia, phải tuân theo những tập quán buôn bán quốc tế. - Xuất khẩu đòi hỏi doanh nghiệp phải thực hiện nhiều thủ tục và quy định phức tạp, chẳng hạn như thủ tục hải quan, thủ tục thanh toán, thủ tục kiểm dịch. Chính vì vậy, doanh nghiệp phải có kiến thức và kinh nghiệm về thị trường quốc tế - một thị trường rộng lớn và rất khó kiểm soát. Vai trò Hoạt động xuất khẩu là một hệ thống những quan hệ mua bán từ trong ra ngoài nhằm mục đích đẩy mạnh sản xuất hàng hóa, chuyển dịch cơ cấu cũng như thành phần kinh tế.

Do đó, xuất khẩu là hoạt động kinh tế đối ngoại dễ mang lại những hiệu quả đột biến cao. Trong nền kinh tế thị trường, xuất khẩu nói riêng và hoạt động xuất - nhập khẩu nói chung ngày càng đóng vai trò quan trọng, tác động đến nhiều chủ thể: nông dân, doanh nghiệp xuất khẩu, các trung gian và toàn bộ nền kinh tế của một quốc gia.  Đối với doanh nghiệp Thông qua hoạt động xuất khẩu, doanh nghiệp thực hiện được mục tiêu cơ bản của mình đó là lợi nhuận. Lợi nhuận là mục tiêu đầu tiên cũng như mục tiêu quan trọng nhất của doanh nghiệp, nó quyết định và chi phối các hoạt động khác như: nghiên cứu, tìm kiếm thị trường mới; thu mua và tạo nguồn hàng; tiến hành các hoạt động dự trữ, dịch vụ… Xuất khẩu giúp các doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh: Do phải chịu sức ép cạnh tranh của các doanh nghiệp trong và ngoài nước để đứng vững được, các doanh nghiệp phải đổi mới trang thiết bị, đào tạo lại đội ngũ cán bộ, công nhân viên nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh.

Khi tham gia vào kinh doanh quốc tế tất yếu sẽ đặt các doanh nghiệp vào một môi trường cạnh tranh khốc liệt mà ở đó nếu muốn tồn tại và phát triển được thì đòi hỏi các doanh nghiệp phải không ngừng nâng cao chất lượng, cải tiến mẫu mã, hạ giá thành sản phẩm. Xuất khẩu kết hợp với nhập khẩu trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần sẽ góp phần đẩy mạnh liên doanh liên kết giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước một cách tự giác, mở rộng quan hệ kinh doanh, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực hiện có, giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, nó 12 làm tăng thêm thu nhập của họ đồng thời cũng phát huy được sự sáng tạo của người lao động.  Đối với nền kinh tế quốc dân Xuất khẩu tạo ra những tiền đề kinh tế, kỹ thuật nhằm cải tạo và nâng cao năng lực sản xuất, là một phương tiện truyền dẫn quan trọng để tạo ra vốn, kỹ thuật và công nghệ từ thế giới bên ngoài vào Việt Nam nhằm thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Thông qua xuất khẩu, hàng hoá của nước ta sẽ phải tham gia vào cuộc cạnh tranh trên thị trường thế giới cả về chất lượng cũng như giá cả.

Cuộc cạnh tranh này đòi hỏi chúng ta phải tổ chức lại sản xuất, hình thành cơ cấu sản xuất để có thể thích nghi được với thị trường. Khi xuất khẩu phát triển tức là quy mô sản xuất đã được mở rộng điều đó đi đôi với việc sẽ giảm được rất nhiều chi phí mỗi khi sản lượng của nó tăng lên. Việc giảm chi phí này có ý nghĩa to lớn đối với mỗi quốc gia vì nó nâng cao được sức cạnh tranh của hàng hóa nước mình thông qua việc điều chỉnh giá bán hợp lý. Bên cạnh đó, xuất khẩu có tác động tích cực đến việc giải quyết công ăn việc làm và cải thiện đời sống của nhân dân.

Sản xuất hàng hoá xuất khẩu là nơi thu hút hàng triệu lao động vào làm việc và có mức thu nhập ổn định. Xuất khẩu còn tạo ra nguồn vốn để nhập khẩu vật phẩm tiêu dùng thiết yếu phục vụ đời sống và đáp ứng ngày một phong phú hơn nhu cầu tiêu dùng của cá nhân. Những người lao động nhờ có thu nhập cao mà cải thiện nâng cao được đời sống của mình. Xuất khẩu góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế, cải kiện cán cân thanh toán, ổn định kinh tế vĩ mô.

Ở đây có thể nhìn nhận tác động của xuất khẩu đối với sản xuất và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo 2 cách. Một là, xuất khẩu chỉ là việc tiêu thụ những sản phẩm thừa do sản xuất vượt quá nhu cầu nội địa. Hai là, hướng quan trọng để tổ chức sản xuất là thị trường, đặc biệt là thị trường quốc tế. Quan điểm này xuất phát từ nhu cầu của thị trường thế giới, bởi thị trường định hướng cho sản xuất và tổ chức sản xuất.

Mọi hoạt động của các doanh nghiệp đều thực hiện hoạt động nghiên cứu thị trường. Từ đó định hướng cho hoạt động của mình. Đồng thời xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ sẽ thu được nhiều ngoại tệ về cho đất nước, giúp thu hẹp dần khoảng cách thu và chi; từ đó tạo giảm thâm hụt cán cân thanh toán quốc tế. Lý thuyết về Hiệp định Thƣơng mại tự do CPTPP 1.

Khái niệm Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương gọi tắt là Hiệp định CPTPP, tiền thân là Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), là một hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới, gồm 11 nước thành viên là: Australia, Brunei, Canada, Chile, Nhật Bản, Malaysia, Mexico, New Zealand, Peru, Singapore và Việt Nam. Và hiện tại đã có 12 nước thành viên khi Anh chính thức ký kết hiệp định, gia nhập CPTPP ngày 16/7/2023 mới đây. 13 Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương trước đó có tên gọi tắt là TPP. Sau khi Hoa Kỳ đã chính thức tuyên bố rút khỏi Hiệp định vào ngày 30/01/2017, tháng 11/2017, tại Đà Nẵng, Việt Nam, 11 nước còn lại đã thống nhất đổi tên Hiệp định TPP thành Hiệp định CPTPP (Comprehensive and Progressive Agreement for Trans-Pacific Partnership”).

Trong đó, hai chữ bổ sung “C” có nghĩa là Comprehensive (Toàn Diện) và “P” có nghĩa là Progressive (Cấp Tiến). Từ “Toàn Diện” có nghĩa là làm cho hiệp định cởi mở hơn với các lĩnh vực và doanh nghiệp khác nhau. Các yếu tố toàn diện được thể hiện trong chương về SME và trong chương về doanh nghiệp nhà nước. Việc bổ sung từ “Cấp Tiến” được thể hiện trong các chương về quyền lao động và môi trường – cả hai chương đều có quy trình giải quyết tranh chấp để đảm bảo sự tuân thủ.

Đặc điểm Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương - CPTPP có một số đặc điểm nổi bật sau: Cắt giảm thuế quan: CPTPP cam kết xóa bỏ hoàn toàn thuế nhập khẩu đối với 99% số dòng thuế hàng hóa giữa các nước thành viên.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ