Chương 1: Khái quát về xuất khẩu và Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương CPTPP. Chương 2: Thực trạng xuất khẩu thủy sản của Việt Nam nói chung và sang thị trường Anh nói riêng. Chương 3: Đánh giá ảnh hưởng của việc anh gia nhập CPTPP đến việc xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang Anh. Chương 4: Giải pháp và kiến nghị thúc đẩy hoạt động xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị trường Anh.
10 CHƢƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ XUẤT KHẨU VÀ HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC TOÀN DIỆN VÀ TIẾN BỘ XUYÊN THÁI BÌNH DƢƠNG (CPTPP) 1. Lý thuyết về xuất khẩu 1. Khái niệm Xuất khẩu hàng hoá là hoạt động đưa hàng hoá ra khỏi một nước (từ quốc gia này sang quốc gia khác) để bán trên cơ sở dùng tiền làm phương tiện thanh toán hoặc trao đổi lấy một hàng hoá khác có giá trị tương đương (Belay S. Nói một cách khái quát, xuất khẩu hàng hoá là việc đưa hàng hoá ra nước ngoài để thực hiện giá trị sử dụng và giá trị của hàng hoá.
Xuất khẩu tăng trưởng cao là sự gia tăng về kim ngạch, giá trị xuất khẩu. Ngô Thị Mỹ & Trần Nhuận Kiên (2016) cho rằng xuất khẩu là hoạt động trao đổi hàng hóa và dịch vụ của một quốc gia với phần còn lại của thế giới dưới hình thức mua bán thông qua quan hệ thị trường nhằm mục đích khai thác lợi thế của đất nước trong phân công lao động quốc tế để đem lại lợi ích cho quốc gia. Xuất khẩu thủy sản là hoạt động trao đổi thủy sản của một quốc gia với các nước khác trên thế giới dưới hình thức mua bán thông qua quan hệ thị trường nhằm mục đích khai thác lợi thế sẵn có của đất nước trong phân công lao động quốc tế nhằm đem lại lợi ích cho quốc gia. Theo khoản 1, Điều 28, Chương 2 Luật Thương mại Việt Nam (2005), xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật.
Hiểu theo cách khái quát, xuất khẩu là một hình thức bán hàng cho nước ngoài để thu về lợi nhuận cho doanh nghiệp và quốc gia. Có nhiều khái niệm khác nhau về xuất khẩu, dưới góc độ tiếp cận của bài nghiên cứu, xuất khẩu là hoạt động trao đổi hàng hóa và dịch vụ của một quốc gia với phần còn lại của thế giới dưới hình thức mua bán thông qua quan hệ thị trường nhằm mục đích khai thác lợi thế của đất nước trong phân công lao động quốc tế để đem lại lợi ích cho quốc gia. Đặc điểm Xuất khẩu là một trong những hoạt động cơ bản cấu thành nên hoạt động ngoại thương với nhiều phương thức vận hành phức tạp. Về cơ bản, xuất khẩu có những đặc điểm sau: - Xuất khẩu là hoạt động kinh tế có tính đối ngoại.
Trong hoạt động xuất khẩu, hàng hóa và dịch vụ xuất khẩu được bán ra cho người tiêu dùng ở nước ngoài, giao dịch giữa hai bên tham gia được thực hiện bằng ngoại tệ. - Xuất khẩu là hoạt động mua bán hàng hóa và dịch vụ, trong đó hàng hóa và dịch vụ được trao đổi với nhau bằng tiền, điều này thể hiện rõ tính thương mại 11 của hoạt động. Giao dịch xuất khẩu được thực hiện theo các quy tắc thương mại quốc tế, khi đó hàng hóa và dịch vụ xuất khẩu được mua bán giữa hai bên với giá cả được thỏa thuận. - Xuất khẩu chịu sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau như môi trường kinh tế, chính trị, luật pháp… của các quốc gia khác nhau.
Thanh toán bằng đồng tiền ngoại tệ, hàng hoá được vận chuyển qua biên giới quốc gia, phải tuân theo những tập quán buôn bán quốc tế. - Xuất khẩu đòi hỏi doanh nghiệp phải thực hiện nhiều thủ tục và quy định phức tạp, chẳng hạn như thủ tục hải quan, thủ tục thanh toán, thủ tục kiểm dịch. Chính vì vậy, doanh nghiệp phải có kiến thức và kinh nghiệm về thị trường quốc tế - một thị trường rộng lớn và rất khó kiểm soát. Vai trò Hoạt động xuất khẩu là một hệ thống những quan hệ mua bán từ trong ra ngoài nhằm mục đích đẩy mạnh sản xuất hàng hóa, chuyển dịch cơ cấu cũng như thành phần kinh tế.
Do đó, xuất khẩu là hoạt động kinh tế đối ngoại dễ mang lại những hiệu quả đột biến cao. Trong nền kinh tế thị trường, xuất khẩu nói riêng và hoạt động xuất - nhập khẩu nói chung ngày càng đóng vai trò quan trọng, tác động đến nhiều chủ thể: nông dân, doanh nghiệp xuất khẩu, các trung gian và toàn bộ nền kinh tế của một quốc gia. Đối với doanh nghiệp Thông qua hoạt động xuất khẩu, doanh nghiệp thực hiện được mục tiêu cơ bản của mình đó là lợi nhuận. Lợi nhuận là mục tiêu đầu tiên cũng như mục tiêu quan trọng nhất của doanh nghiệp, nó quyết định và chi phối các hoạt động khác như: nghiên cứu, tìm kiếm thị trường mới; thu mua và tạo nguồn hàng; tiến hành các hoạt động dự trữ, dịch vụ… Xuất khẩu giúp các doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh: Do phải chịu sức ép cạnh tranh của các doanh nghiệp trong và ngoài nước để đứng vững được, các doanh nghiệp phải đổi mới trang thiết bị, đào tạo lại đội ngũ cán bộ, công nhân viên nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh.
Khi tham gia vào kinh doanh quốc tế tất yếu sẽ đặt các doanh nghiệp vào một môi trường cạnh tranh khốc liệt mà ở đó nếu muốn tồn tại và phát triển được thì đòi hỏi các doanh nghiệp phải không ngừng nâng cao chất lượng, cải tiến mẫu mã, hạ giá thành sản phẩm. Xuất khẩu kết hợp với nhập khẩu trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần sẽ góp phần đẩy mạnh liên doanh liên kết giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước một cách tự giác, mở rộng quan hệ kinh doanh, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực hiện có, giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, nó 12 làm tăng thêm thu nhập của họ đồng thời cũng phát huy được sự sáng tạo của người lao động. Đối với nền kinh tế quốc dân Xuất khẩu tạo ra những tiền đề kinh tế, kỹ thuật nhằm cải tạo và nâng cao năng lực sản xuất, là một phương tiện truyền dẫn quan trọng để tạo ra vốn, kỹ thuật và công nghệ từ thế giới bên ngoài vào Việt Nam nhằm thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Thông qua xuất khẩu, hàng hoá của nước ta sẽ phải tham gia vào cuộc cạnh tranh trên thị trường thế giới cả về chất lượng cũng như giá cả.
Cuộc cạnh tranh này đòi hỏi chúng ta phải tổ chức lại sản xuất, hình thành cơ cấu sản xuất để có thể thích nghi được với thị trường. Khi xuất khẩu phát triển tức là quy mô sản xuất đã được mở rộng điều đó đi đôi với việc sẽ giảm được rất nhiều chi phí mỗi khi sản lượng của nó tăng lên. Việc giảm chi phí này có ý nghĩa to lớn đối với mỗi quốc gia vì nó nâng cao được sức cạnh tranh của hàng hóa nước mình thông qua việc điều chỉnh giá bán hợp lý. Bên cạnh đó, xuất khẩu có tác động tích cực đến việc giải quyết công ăn việc làm và cải thiện đời sống của nhân dân.
Sản xuất hàng hoá xuất khẩu là nơi thu hút hàng triệu lao động vào làm việc và có mức thu nhập ổn định. Xuất khẩu còn tạo ra nguồn vốn để nhập khẩu vật phẩm tiêu dùng thiết yếu phục vụ đời sống và đáp ứng ngày một phong phú hơn nhu cầu tiêu dùng của cá nhân. Những người lao động nhờ có thu nhập cao mà cải thiện nâng cao được đời sống của mình. Xuất khẩu góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế, cải kiện cán cân thanh toán, ổn định kinh tế vĩ mô.
Ở đây có thể nhìn nhận tác động của xuất khẩu đối với sản xuất và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo 2 cách. Một là, xuất khẩu chỉ là việc tiêu thụ những sản phẩm thừa do sản xuất vượt quá nhu cầu nội địa. Hai là, hướng quan trọng để tổ chức sản xuất là thị trường, đặc biệt là thị trường quốc tế. Quan điểm này xuất phát từ nhu cầu của thị trường thế giới, bởi thị trường định hướng cho sản xuất và tổ chức sản xuất.
Mọi hoạt động của các doanh nghiệp đều thực hiện hoạt động nghiên cứu thị trường. Từ đó định hướng cho hoạt động của mình. Đồng thời xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ sẽ thu được nhiều ngoại tệ về cho đất nước, giúp thu hẹp dần khoảng cách thu và chi; từ đó tạo giảm thâm hụt cán cân thanh toán quốc tế. Lý thuyết về Hiệp định Thƣơng mại tự do CPTPP 1.
Khái niệm Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương gọi tắt là Hiệp định CPTPP, tiền thân là Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), là một hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới, gồm 11 nước thành viên là: Australia, Brunei, Canada, Chile, Nhật Bản, Malaysia, Mexico, New Zealand, Peru, Singapore và Việt Nam. Và hiện tại đã có 12 nước thành viên khi Anh chính thức ký kết hiệp định, gia nhập CPTPP ngày 16/7/2023 mới đây. 13 Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương trước đó có tên gọi tắt là TPP. Sau khi Hoa Kỳ đã chính thức tuyên bố rút khỏi Hiệp định vào ngày 30/01/2017, tháng 11/2017, tại Đà Nẵng, Việt Nam, 11 nước còn lại đã thống nhất đổi tên Hiệp định TPP thành Hiệp định CPTPP (Comprehensive and Progressive Agreement for Trans-Pacific Partnership”).
Trong đó, hai chữ bổ sung “C” có nghĩa là Comprehensive (Toàn Diện) và “P” có nghĩa là Progressive (Cấp Tiến). Từ “Toàn Diện” có nghĩa là làm cho hiệp định cởi mở hơn với các lĩnh vực và doanh nghiệp khác nhau. Các yếu tố toàn diện được thể hiện trong chương về SME và trong chương về doanh nghiệp nhà nước. Việc bổ sung từ “Cấp Tiến” được thể hiện trong các chương về quyền lao động và môi trường – cả hai chương đều có quy trình giải quyết tranh chấp để đảm bảo sự tuân thủ.
Đặc điểm Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương - CPTPP có một số đặc điểm nổi bật sau: Cắt giảm thuế quan: CPTPP cam kết xóa bỏ hoàn toàn thuế nhập khẩu đối với 99% số dòng thuế hàng hóa giữa các nước thành viên.