Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI TRẺ EM CÓ HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT 1. Về một số khái niệm * Công tác xã hội với trẻ em Công tác xã hội với trẻ em là một phần trong các lĩnh vực chuyên biệt của ngành công tác xã hội với mục tiêu đem lại sự hỗ trợ cho TECHCĐB, giúp bảo vệ trẻ em và góp phần vào nền an sinh cho trẻ em. Công tác xã hội với trẻ em là sử dụng các kỹ năng chuyên nghiệp để nhằm hỗ trợ, giúp đỡ những trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, khó khăn, mang lại cho trẻ em niềm tin vào cuộc sống; để các em có thể phát triển một cách đầy đủ [1, tr. * Trẻ em Hiện nay, khái niệm “Trẻ em” không đồng nhất tại nhiều quốc gia trên thế giới.
Ở Australia và Anh, trẻ em được quy định là dưới 18. Tại Singapore, trẻ em là người dưới 14 tuổi. Trong khi đó ở Hồng Kông, trẻ em là nhóm người dưới 16 tuổi. Sở dĩ có sự khác nhau này là do có sự khác biệt về điều kiện lịch sử, kinh tế, văn hóa, xã hội.
Một lập luận khác để giải thích về sự khác biệt đó là khả năng của nền kinh tế của mỗi quốc gia, bởi vì việc quy định về độ tuổi trẻ em bao giờ gắn liền với trách nhiệm đảm bảo các quyền của trẻ em, ngoài ra còn đảm bảo quyền công dân, quyền con người nói chung ở mỗi quốc gia. Theo quan điểm của một số tổ chức quốc tế trực thuộc Liên Hiệp Quốc như Quỹ Dân số (UNFPA), Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa (UNESCO) xác định trẻ em là người dưới 15 tuổi. Theo Điều 1 Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em quy định: “Trẻ em có nghĩa là mọi người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn”. Theo Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em số 25/2004/QH11 của Việt Nam: “Trẻ em quy định trong Luật này là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi” [1, tr.
17 * Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt Theo Khoản 1, Điều 3 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em thì trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt là những trẻ em có hoàn cảnh không bình thường (về cá nhân và môi trường chăm sóc) bao gồm: trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi; trẻ lang thang; trẻ em lao động trong điều kiện nặng nhọc độc hại, nguy hiểm, tiếp xúc với chất độc hại; trẻ em khuyết tật, tàn tật; trẻ em làm việc xa gia đình; trẻ em bị ảnh hưởng chất độc hoá học; trẻ em bị nhiễm hoặc bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS; trẻ em bị xâm hại tình dục; trẻ em nghiện ma tuý; trẻ em vi phạm pháp luật [1, tr. * Nhu cầu cơ bản của trẻ em Nhu cầu là yếu tố tất yếu, cần thiết để đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của cá nhân. Nếu nhu cầu được thỏa mãn thì sẽ tạo nên cảm giác thoải mái và an toàn cho sự phát triển và ngược lại, nếu không được đáp ứng thì sẽ gây nên sự căng thẳng và có thể dẫn tới hậu quả nhất định. Theo nghĩa từ, nhu là cần thiết, cầu là đòi hỏi, mong muốn.
Như vậy, “Nhu cầu là một yếu tố cần thiết, tất yếu để đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của cá nhân”. Là con người nên trẻ em và người lớn phần lớn đều có những nhu cầu giống nhau về vật chất (ăn, mặc, ở, học tập, lao động), nhu cầu về tinh thần (vui chơi, giải trí) và cần sự yêu thương đùm bọc của người thân. Song do trẻ chưa phát triển đầy đủ về thể chất, tâm lý, tình cảm, thiếu kinh nghiệm sống nên chúng còn phải phụ thuộc nhiều vào người lớn – vào sự chăm sóc, nuôi nấng dạy dỗ của người lớn.Vì vậy nhu cầu của trẻ em bao gồm: nhu cầu vật chất; nhu cầu về mái ấm gia đình; nhu cầu được vui chơi, học hành, được phát triển trí tuệ; nhu cầu được thừa nhận được tôn trọng [2]. * Bảo vệ trẻ em Theo tài liệu về thuật ngữ bảo vệ trẻ em do Bộ LĐ-TB&XH và Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc xuất bản năm 2009 thì BVTE có năm nội dung chính: (i) phòng ngừa, ngăn chặn tổn hại xảy ra đối với trẻ em, (ii) giảm thiểu hoặc loại trừ những yếu tố dẫn đến việc trẻ em bị tổn hại, (iii) trợ giúp, phục hồi cho những trẻ em đã bị tổn hại, (iv) hỗ trợ gia đình và cộng đồng trong việc chăm sóc cho trẻ em bị tổn hại, 18 (v) trợ giúp phục hồi cho các gia đình và cộng đồng có trẻ em đã hoặc có nguy cơ bị tổn hại.
Công ước của Liên Hợp quốc về Quyền trẻ em yêu cầu “các quốc gia thành viên phải thực hiện tất cả các biện pháp lập pháp, hành pháp, tư pháp, xã hội và giáo dục thích hợp để BVTE khỏi tất cả các hình thức bạo lực về thể chất hoặc tinh thần, bị tổn thương hoặc lạm dụng, bị bỏ mặc hoặc đối xử sao nhãng, bị ngược đãi hoặc bóc lột, kể cả lạm dụng tình dục, trong khi trẻ em vẫn nằm trong sự chăm sóc của cha mẹ, người giám hộ hoặc của bất kỳ người nào khác được giao trách nhiệm chăm sóc trẻ em” (Điều 19 Công ước Liên hợp quốc về Quyền trẻ em) [2], [3], [6]. * Nhân viên xã hội/nhân viên công tác xã hội Theo Zastrow (1996), Nhân viên xã hội là người được đào tạo về CTXH. Họ sử dụng kiến thức và kỹ năng để cung cấp các dịch vụ xã hội cho các cá nhân, gia đình, nhóm, cộng đồng, tổ chức, xã hội. Nhân viên xã hội giúp đỡ con người tăng cường năng lực đối phó và giải quyết vấn đề, tìm kiếm các nguồn lực cần thiết, tạo điều kiện cho sự tương tác giữa các cá nhân và giữa con người với môi trường, thúc đẩy trách nhiệm của xã hội với con người, và tác động đến các chính sách xã hội.
DuBois and Miley (2005) lại nhận định NVXH là những nhà chuyên nghiệp, có nền tảng kiến thức chuyên môn, có kỹ năng cần thiết, tuân thủ những tiêu chuẩn và đạo đức của nghề CTXH. Từ NVXH dịch từ tiếng Anh (Social Worker), có trình độ từ cử nhân trở lên. Nội dung công tác xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt 1. Các cách tiếp cận trong dịch vụ công tác xã hội với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt * Tiếp cận theo nhu cầu Tiếp cận theo nhu cầu của trẻ là cách tiếp cận dựa trên việc đáp ứng tốt nhất của các dịch vụ CTXH đối với các nhu cầu của trẻ em.
Trước tiên là nhu cầu đảm bảo cho sự phát triển thể chất của trẻ như được ăn uống, được mặc đủ ấm và vệ sinh.Tiếp theo là nhu cầu cần được bảo vệ an toàn, ngăn ngừa những nguy cơ gây 19 tổn thương cho trẻ cả về thể chất, tinh thần và tình cảm. Nhu cầu thứ ba là nhu cầu được vui chơi, giải trí và học tập. Thông qua những hoạt động này, trẻ em sẽ được phát triển, được hòa mình vào xã hội được gắn bó và dần tự khẳng định mình. Nhu cầu thứ tư là nhu cầu được tôn trọng và nhu cầu cuối cùng là nhu cầu được phát triển và khẳng định bản thân.
Đây là nhu cầu có một số người hiểu sai cho là không quan trọng khi làm việc với trẻ. Khi làm việc với trẻ em NVXH cần phải xác định rõ nhu cầu nào của trẻ là ưu tiên và cấp bách nhất của trẻ em. Tiếp cận theo nhu cầu sẽ giúp NVXH tránh được việc “đánh đồng” và “Chủ quan” khi cung cấp các dịch vụ hỗ trợ cho trẻ em. Thay vào đó NVXH cần tìm kiếm những nhu cầu thực mà trẻ em đang mong muốn được đáp ứng.
Trẻ và nhu cầu của trẻ cần được đặt vào vị trí trung tâm, chứ không phải ý muốn chủ quan của cơ quan hỗ trợ hay của NVXH. Cung cấp đúng các dịch vụ mà trẻ mong muốn cũng như các hỗ trợ cần thiết để giải quyết đúng và hiệu quả vấn đề của trẻ. Tiếp cận theo nhu cầu là cách tiếp cận mang tính nhân văn. Tính nhân văn thể hiện ở việc coi trọng con người và những nhu cầu của chính bản thân họ.
Tiếp cận theo nhu cầu đặt con người và những đặc điểm riêng có của họ vào vị trí trung tâm. Tiếp cận theo nhu cầu giúp NVXH loại bỏ tính chủ quan khi tiếp cận với trẻ. Điều này rất quan trọng vì nhiều trường hợp mọi người luôn nghĩ trẻ còn ít tuổi, không biết gì, chưa có đủ nhận thức nên không quan tâm nhiều đến suy nghĩ cũng như nhu cầu của trẻ. Từ đó dẫn đến việc quyết định thay và làm theo những gì mà chủ quan người lớn cho là đúng.
Điều này là không tốt vì về lâu dài làm cho trẻ không cảm thấy được tôn trọng và lệ thuộc vào sự giúp đỡ của NVXH. Hơn nữa nếu cung cấp không đúng với nhu cầu của trẻ sẽ khiến trẻ chán nản và không tin tưởng vào NVXH. Như vậy, tiến trình giúp đỡ sẽ không hiệu quả. NVXH cần phải lắng nghe để cảm thông một cách sâu sắc với những mong muốn của trẻ [1, tr.
* Tiếp cận dựa trên quyền trẻ em Tiếp cận dựa trên đảm bảo các quyền của trẻ em là cách tiếp cận cung cấp các dịch vụ đảm bảo trẻ được thực hiện đầy đủ các nhóm quyền của trẻ em. Trong Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em thì quyền trẻ em bao gồm 10 nhóm quyền cơ bản: Quyền được khai sinh và có quốc tịch; Quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng; 20 Quyền sống chung với cha mẹ; Quyền được tôn trọng, bảo vệ tính mạng, thân thể, nhân phẩm và danh dự; Quyền được chăm sóc sức khỏe; Quyền được học tập; Quyền được vui chơi, giải trí, hoạt động văn hóa nghệ thuật, thể dục thể thao, du lịch; Quyền được phát triển năng khiếu; Quyền được có tài sản; Quyền được tiếp nhận thông tin, bày tỏ ý kiến và tham gia hoạt động xã hội. Theo công ước của Liên Hiệp Quốc thì QTE được chia làm 4 nhóm quyền cơ bản là: Quyền được sinh tồn (Quyền sống còn); Quyền được bảo vệ; Quyền được phát triển; Quyền được tham gia. Tiếp cận theo QTE sẽ giúp: hiểu trẻ em là một cá nhân độc lập với đầy đủ các quyền công bằng như những người khác trong xã hội.