Chương 1: Công nhân Bình Định từ năm 1897 đến năm 1929. - Chương 2: Công nhân Bình Định từ năm 1930 đến năm 1945. - Chương 3: Đặc điểm, vai trò của công nhân Bình Định thời kỳ 1897 - 1945. CÔNG NHÂN BÌNH ĐỊNH TỪ NĂM 1897 ĐẾN NĂM 1929 1.
Quá trình hình thành đội ngũ công nhân Bình Định 1. Điều kiện lịch sử cho sự hình thành đội ngũ công nhân Bình Định Từ những năm 70 của thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản các nước đã chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa. Cùng với quá trình phát triển đó, các nước tư bản Âu - Mỹ tìm mọi cách tiến hành các hoạt động xâm lược, phân chia hệ thống thuộc địa, thị trường. Cuối cùng, chủ nghĩa tư bản phương Tây đã hoàn thành việc xác lập hệ thống thuộc địa của mình trên toàn thế giới.
Hệ quả của quá trình này đã đưa số phận các dân tộc độc lập trở thành nước thuộc địa hoặc phụ thuộc. Chính sự xuất hiện của chủ nghĩa thực dân cùng sự xâm thực với cường độ lớn của chủ nghĩa tư bản phương Tây đã dẫn đến sự chuyển biến trong cơ cấu và cơ chế vận hành của nền kinh tế bản địa. Đối với các dân tộc châu Á, đây là hành động xâm lược, bành trướng, áp bức bóc lột của giới tư bản Âu - Mỹ. Tuy nhiên, với việc tạo ra khối lượng vật chất khổng lồ, một trật tự xã hội mới công bằng hơn và một nền văn minh khai phóng của chủ nghĩa tư bản, mô hình phát triển này sẽ giải thoát và khai phóng cho những nhân tố tư bản chủ nghĩa vốn đã nảy sinh nhưng bị xã hội phong kiến phương Đông kìm hãm.
Đồng thời, chính sách thống trị của thực dân phương Tây đã vô hình trung tạo ra một xung lực khách quan tác động mạnh mẽ tới cấu trúc và cơ chế vận hành của nền kinh tế - xã hội bản địa. Đó chính là điều kiện, khuynh hướng để xã hội phương Đông hội nhập vào xã hội hiện đại và trên một khía cạnh nào đó đã buộc các nước thuộc địa dù muốn hay không vẫn phải hội nhập vào quá trình phát triển của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, hòa nhập vào nền kinh tế thế giới. Đó cũng là điều kiện cơ bản để công nhân ở các nước thuộc địa ra đời cùng với quá trình khai thác, bóc lột các thuộc địa của tư bản thực dân Âu - Mỹ. Từ nửa sau thế kỷ XIX, hầu hết các nước Đông Á và Đông Nam Á đã lần lượt trở thành thuộc địa và phụ thuộc của các nước tư bản thực dân phương Tây, trừ Nhật Bản và Xiêm.
Tại các nước này, tư bản phương Tây đã tiến hành đầu tư vốn xây dựng cơ sở hạ tầng, tiến hành khai thác, bóc lột nền kinh tế. Những chính sách cai trị và bóc lột của tư bản phương Tây đã làm chuyển biến mạnh mẽ về cơ cấu kinh tế - xã hội ở các quốc gia thuộc địa. Đó là cơ sở tiền đề để hình thành giai cấp mới của xã hội hiện đại, đặc biệt là sự ra đời của giai cấp công nhân thuộc địa. Sau khi hoàn thành căn bản công cuộc bình định Việt Nam về mặt quân sự, bắt đầu từ năm 1897, thực dân Pháp tiến hành cuộc khai thác thuộc địa để vơ vét sức người, nguyên vật liệu ở thuộc địa phục vụ cho chính quốc Pháp.
Dưới tác động 7 khách quan của cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1897 - 1914), nền kinh tế Việt Nam mặc dù bị cản trở sự phát triển, nhưng ít nhiều cũng có sự chuyển biến hơn so với trước đây. Bước tiến đó biểu hiện rõ trong việc mở rộng nền sản xuất hàng hóa theo lối tư bản chủ nghĩa, ra đời ngành công - nông nghiệp thuộc địa với sự xuất hiện của nhiều nhà máy, xí nghiệp, công trường, đồn điền, xưởng sản xuất,. Cùng với đó là hệ thống giao thông, cảng biển phát triển khắp cả nước. Với việc đẩy mạnh cuộc khai thác thuộc địa trên quy mô lớn từ đầu thế kỷ XX đã làm cho xã hội Việt Nam có sự chuyển biến khá nhanh.
Nhân dân lao động bị bần cùng hóa, xã hội bị phân hóa ngày càng sâu sắc, nông thôn và thành thị Việt Nam đều có sự chuyển mình rõ rệt. Cùng với sự tồn tại của giai cấp và tầng lớp cũ, do tác động của cuộc khai thác thuộc địa đã dẫn đến sự xuất hiện của giai cấp, tầng lớp mới trong xã hội Việt Nam. Sự phát triển công - thương nghiệp thuộc địa đã đưa đến sự xuất hiện một bộ phận người lao động làm thuê ăn lương trong các đồn điền, nhà máy, công trường. trong đó một số đã trở thành những người vô sản hiện đại.
Hơn nữa, sau khi hoàn thành “sự nghiệp chinh phục Việt Nam”, Toàn quyền Đông Dương ban hành nhiều Nghị định để áp dụng quyền sở hữu cá nhân ruộng đất. Điều khoản trên mở đường cho người Pháp chiếm đoạt ruộng đất của nông dân. Bên cạnh đó, một bộ phận địa chủ Việt Nam cũng lợi dụng sự dung dưỡng của thực dân, ra sức thâu tóm ruộng đất, mở rộng diện tích canh tác ở những vùng đất hoang và trở thành những đại địa chủ. Tình trạng cướp đoạt ruộng đất cùng với chính sách độc chiếm thị trường, bóc lột của đế quốc Pháp và giai cấp địa chủ làm cho đời sống của nhiều nông dân và thợ thủ công lâm vào tình trạng phá sản.
Hệ quả là số lượng nông dân và thợ thủ công bị bần cùng hóa, thất nghiệp tăng cao. Cuộc khai thác của tư bản Pháp càng đẩy mạnh bao nhiêu thì quá trình bần cùng hóa và phá sản của nông dân và thợ thủ công càng nhanh bấy nhiêu. Đây là điều kiện khách quan thuận lợi cho chủ nghĩa tư bản ở Việt Nam phát triển, và là cơ sở xã hội quan trọng cho sự ra đời của giai cấp công nhân Việt Nam. Chính sự xuất hiện và phát triển của chủ nghĩa tư bản đã tạo điều kiện cho sự ra đời của giai cấp công nhân.
Tuy nhiên, ở mỗi nước, do những hoàn cảnh lịch sử khác nhau mà quy luật trên diễn ra với nhịp độ, hình thức khác nhau, do đó sự ra đời của giai cấp công nhân ở các nước cũng khác nhau. Ở Việt Nam, sự xuất hiện của giai cấp công nhân ngoài những điều kiện tác động từ bên ngoài còn có những điều kiện từ bên trong. Những điều kiện có tính chất nội sinh đã tạo tiền đề cho sự ra đời của giai cấp công nhân Việt Nam, trong đó có công nhân Bình Định. 8 Bằng sức mạnh quân sự, ngày 15/3/1874, triều đình Huế ký với đại diện Chính phủ Pháp bản Hiệp ước Giáp Tuất gồm 22 điều.
Trong đó, điều khoản 11 của Hiệp ước ghi rõ: “Triều đình cam kết mở cửa Thị Nại (Quy Nhơn), cửa Ninh Hải (Hải Phòng), tỉnh lỵ Hà Nội, sông Hồng và tùy theo tình hình về sau sẽ mở thêm nhiều nơi khác nữa cho người ngoại quốc vào buôn bán” [59, tr. Tiếp đó, ngày 31/8/1874, triều đình Huế ký với thực dân Pháp bản thương ước với 29 khoản, xác lập đặc quyền kinh tế của Pháp trên khắp Việt Nam. Trong đó, việc thuế quan ở các cảng từ nay do Pháp nắm, mọi sự xuất nhập đều do Pháp kiểm soát và có toàn quyền cho hay không cho phép tàu của các nước ra vào cảng. Tàu chiến Pháp có quyền tự do ra vào và quân Pháp có quyền đóng ở các cửa cảng [59, tr.
Dựa vào điều khoản này, tháng 11/1876, thực dân Pháp chiếm khoảng 5 ha đất ở cảng Quy Nhơn làm khu nhượng địa, đặt lãnh sự quán ở đây và xây dựng nhà thu thuế hải quan, kiểm tra, đánh giá tất cả các tàu ra vào buôn bán ở cảng Quy Nhơn. Cũng chính từ đây, quyền lợi thu thuế hải quan ở cảng Quy Nhơn đã thuộc về thực dân Pháp. Mặt khác, khu nhượng địa ở cảng Quy Nhơn cũng trở thành pháo đài của thực dân Pháp. Thực dân Pháp tiến hành những cuộc đàn áp phong trào kháng chiến chống Pháp của nhân dân địa phương.
Đến cuối tháng 8/1885, dưới sự chỉ huy của tướng Roussel de Courcy, đội quân xâm lược của Pháp đổ bộ lên cảng Quy Nhơn và mở cuộc phản công lên thành Bình Định để đàn áp phong trào kháng chiến của nhân dân Bình Định đang diễn ra rầm rộ ở đây. Sau khi đàn áp phong trào Cần vương trên bình diện cả nước nói chung và Bình Định nói riêng, thực dân Pháp đã cơ bản hoàn thành sự nghiệp chinh phục tỉnh Bình Định. Và một năm sau (1897) cùng với cả nước, thực dân Pháp đã tiến hành thực hiện cuộc khai thác thuộc địa ở tỉnh Bình Định. Với mục đích vơ vét sức người, nguyên vật liệu ở thuộc địa để làm giàu cho chính quốc Pháp.
Tư bản Pháp đã tăng cường đầu tư vốn xây dựng mạng lưới giao thông vận tải để phục vụ cho mục đích khai thác và đàn áp quân sự. Pháp tiến hành khai thông, nâng cấp cảng Quy Nhơn và xây dựng một số tuyến giao thông trong tỉnh. Do đó, hệ thống giao thông đường thủy và đường bộ ở Bình Định ngày càng được mở rộng và xây dựng thêm nhiều tuyến mới. Cùng với đó, để tận dụng nguồn nguyên liệu sẵn có ở Bình Định, tư bản Pháp còn đầu tư số vốn khá lớn để phát triển một số ngành công nghiệp ở đây.
Vì vậy, nhiều nhà máy, xí nghiệp của tư bản Pháp được thành lập ở Bình Định. Tiêu biểu 9 như sự ra đời của nhà máy dệt Delignon, nhà máy Đèn, SADCA, FIARD, SITA. Chính sự ra đời của các nhà máy, xí nghiệp này làm cho ngành công nghiệp Bình Định có bước phát triển và mang dáng dấp của nền kinh tế hiện đại. Bên cạnh đó, ngay sau khi đặt chân đến Bình Định, tư bản Pháp còn tăng cường chiếm đoạt ruộng đất của nông dân để lập đồn điền nông nghiệp.
Một hệ thống đồn điền lớn, nhỏ của tư bản Pháp ở Bình Định được lập ra. Trong đó phải kể đến những đồn điền có diện tích lớn như Puris, Pérignon, Delignon, Mathey, Demontpezat, Marvoie. Trong những đồn điền này, tư sản Pháp tập trung chủ yếu trồng mía, dừa, chè. Như vậy, chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp đã đưa đến sự xuất hiện của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa trong nền kinh tế Bình Dịnh, làm cho nền kinh tế Bình Định có những chuyển biến rõ rệt.
Bên cạnh một nền kinh tế phong kiến vẫn còn tồn tại, xuất hiện thêm một số ngành kinh tế hiện đại, có tính chất tư bản chủ nghĩa.