Chương 1 ĐẢNG BỘ HUYỆN VĂN GIANG LÃNH ĐẠO CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2005 1. Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội và thực trạng nền kinh tế nông nghiệp huyện Văn Giang trước năm 2001 1. Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội huyện Văn Giang 1. Điều kiện tự nhiên Vị trí địa lý: Văn Giang là huyện nằm ở phía tây bắc tỉnh Hưng Yên, phía bắc và tây bắc giáp thành phố Hà Nội, phía nam giáp huyện Khoái Châu, huyện Văn Lâm, phía đông giáp huyện Yên Mỹ, phía tây giáp tỉnh Hà Tây cũ, có 11 đơn vị hành chính, gồm 10 xã và 1 thị trấn với tổng diện tích 71,79 km2.Từ vị trí địa lý thuân lợi này cho thấy Văn Giang là nơi trao đổi kinh tế thương mại dịch vụ giữa thủ đô Hà Nội với các huyện và các tỉnh tiếp giáp Đặc điểm địa hình: Nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc Bộ, huyện có địa hình tương đối bằng phẳng thuận lợi cho phát triển nông nghiệp do được phù sa sông Hồng bồi đắp hàng năm.
Do nằm ở ven sông Hồng, chịu ảnh hưởng của 18 năm liền vỡ đê thời Tự Đức nên độ cao đất đai trong huyện không đồng đều và hình thành các dải cao thấp khác nhau theo dạng hình sóng. Đất có địa hình cao thuộc các xã Xuân Quan, Mễ Sở, Liên Nghĩa, Thắng Lợi, Cửu Cao và thị trấn Văn Giang. Đất có địa hình thấp thuộc các xã Phụng Công, Long Hưng, Tân Tiến, Nghĩa Trụ và Vĩnh Khúc. Với địa hình trên, Văn Giang có lợi thế trong việc phát triển đa dạng các sản phẩm nông nghiệp cung cấp cho thị trường trong và ngoài huyện, đồng thời còn có tiềm năng phát triển đô thị.
Khí hậu: Văn Giang có khí hậu nhiệt đới gió mùa với 4 mùa rõ rệt. Tuy nhiên nền nhiệt giữa các mùa không chênh lệch nhiều (trung bình hàng tháng là 230C). Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, nhiệt độ dao động hàng tháng 9 từ 250-280 .Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, nhiệt độ dao động từ 15 0- 210. Số giờ nắng trung bình hàng năm khoảng 1.450 giờ, lượng mưa trung bình 1.575 mm, độ bốc hơi bình quân 886 mm.
Độ ẩm không khí từ 80-90%. Có thể nói điều kiện khí hậu rất thuận tiện cho Văn Giang phát triển sản xuất nông nghiệp, thâm canh gối vụ, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi Thuỷ văn: Trên địa bàn huyện có sông Hồng, sông Bắc Hưng Hải và các sông nhỏ như: sông Ngưu Giang, sông Đồng Quê, sông Tam Bá Hiển chảy qua rất thuận lợi cho việc cung cấp nguồn nước tưới tiêu phục vụ sản xuất và đời sống của nhân dân toàn huyện. Đất đai: Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện là 71,79 km2 trong đó đất sản xuất nông nghiệp là 50,32 km2 (chiếm 70% diện tích đất tự nhiên); đất chuyên dùng: 12,31km2 (chiếm 17,1%); đất ở: 6,12 km2 (chiếm 8,7%), đất chưa sử dụng: 3,04 km2 (chiếm 4,2%). Tóm lại, điều kiện tự nhiên huyện Văn Giang có nhiều mặt thuận lợi cho phát triển nông nghiệp nhưng cũng có không ít khó khăn, khắc nghiệt, tác động không nhỏ đến quá trình phát triển kinh tế nông nghiệp của huyện.
Điều kiện kinh tế - xã hội Dân số và lao động Huyện Văn Giang gồm 10 xã và 1 thị trấn. Năm 2009, toàn huyện có khoảng 104.397 nhân khẩu, mật độ dân số trung bình 1454 người/km2, tốc độ tăng trưởng dân số tương đối ổn định ở mức 1,0%/năm và đang có chiều hướng giảm dần. Chương trình phổ cập giáo dục và chăm sóc sức khỏe nhân dân được quan tâm, góp phần nâng cao chất lượng dân số. Số người trong độ tuổi lao động ổn định và tăng dần qua các năm.
UBND huyện rất quan tâm đến công tác đào tạo, bồi dưỡng cho lao động, nhất là lao động nông thôn. Năm 2010, tỷ lệ lao động qua đào tạo, bồi dưỡng là 60,7%; lao động làm việc trong ngành nông 10 nghiệp chiếm đa số (43.220 người, chiếm 69%). Còn lại là lao động trong ngành phi nông nghiệp, với các ngành nghề chủ yếu như: May công nghiệp, điện tử, sản xuất vật liệu xây dựng, đồ gỗ, gò hàn,. Do lao động nông nghiệp mang tính chất thời vụ nên số lượng người dư thừa nhàn rỗi thường xuyên sau mùa vụ tương đối nhiều.
Do vậy, thời gian nông nhàn người nông dân về các thành phố, thị xã làm thuê. Đây cũng là bài toán đối với Đảng bộ huyện để giải quyết số lao động dư thừa bằng cách phát triển các ngành nghề, dịch vụ tại địa phương. Văn hóa-xã hội Phong trào xây dựng làng văn hóa, gia đình văn hóa được đẩy mạnh. Nếu như năm 1999 toàn huyện mới có 22 làng văn hóa và 11.050 gia đình văn hóa thì đến năm 2010 đã có 57/79 làng văn hóa, 44/45 cơ quan, đơn vị văn hóa và 20.150 gia đình văn hóa [5, tr.
Các chế độ chính sách đối với các gia đình thương binh, liệt sỹ, người có công với cách mạng, bà mẹ Việt Nam anh hùng, đối tượng hưu trí, mất sức được chi trả kịp thời, đầy đủ. Quy mô giáo dục đào tạo trong huyện được mở rộng, đã hoàn thành phổ cập giáo dục THCS. Đến năm 2010, toàn huyện đã có 18 trường đạt chuẩn quốc gia (chiếm 51,4% tổng số trường) [5, tr. Mạng lưới y tế cơ sở tiếp tục được củng cố và phát triển.
Công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân được coi trọng. Trung tâm y tế huyện được cải tạo nâng cấp đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh và thực hiện các chương trình y tế. Bảo hiểm y tế được mở rộng… Hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội Hệ thống cơ vật chất kĩ thuật, hạ tầng cơ sở của huyện đã và đang được xây dựng ngày một hiện đại. Mạng lưới giao thông được cải thiện tốt hơn.
Hầu hết các tuyến đường giao thông trong huyện đã được trải nhựa, bê tông, đá cấp phối và xây lát gạch nghiêng. Từ khi tái thiết lập huyện, đã đầu tư xây dựng thực hiện các dự án nâng cấp, tái tạo các tuyến đường giao thông như: 205A, 207B, 205B, 11 các dốc đê…đầu tư 3,4 tỷ đồng làm đường giao thông nông thôn, trong đó ngân sách ngân sách huyện 15%, ngân sách xã 53% và nhân dân đóng góp 32%. Triển khai dự án nâng cấp cải tạo đường 207A, 207B và mặt đê sông Hồng. Được tính dầu tư hơn 7 tỷ đồng rải nhựa 7 km đường 205A.
Dự án “403” Trung ương đầu tư 27 tỷ đồng cải tạo, sửa chữa trạm bơm Văn Giang và kiên cố 10km kênh dẫn chính.Tập trung điều tra, khảo sát, xây dựng quy hoạch thủy lợi vùng bãi. Hoàn thành kế hoạch đắp đê, kè, trồng tre chắn sóng. Các xã đã huy động vốn xây dựng 8,1 km kênh mương kiên cố và sửa chữa, nâng cấp 3 trạm bơm. Xây dựng và tu sửa các nghĩa trang liệt sĩ.
Xây mới khoa nội nhi, sửa chữa, cải tạo nhà các khoa và bổ sung trang thiết bị cho trung tâm y tế huyện. Các trạm y tế xã được nâng cấp, đầu tư thiết bị y tế cho phòng sản.Bưu điện huyện và nhiều xã đã xây dựng trạm bưu điện – văn hóa, toàn huyện có 3 tổng đài với 1. Lắp đặt mới thiết bị cho đài truyền thanh huyện.Chuẩn bị xây dựng mới trụ sở làm việc cơ quan Huyện ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân. Tình hình kinh tế Trong những năm qua, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 13,9%.
Cơ cấu kinh tế: nông nghiệp-công nghiệp, xây dựng-thương mại, dịch vụ: 24%-34%- 42%. Giá trị thu trên 1ha đất canh tác: 163,8 triệu đồng. Thu nhập bình quân đầu người: 38,6 triệu đồng [6, tr. Kinh tế nông nghiệp có nhiều biến chuyển tích cực.
Tốc độ tăng trưởng đạt 3,4%/năm. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp tiếp tục chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng ngành chăn nuôi, thủy sản, giảm ngành trồng trọt. Diện tích hoa, cây cảnh, cây ăn quả có giá trị kinh tế cao tăng từ 1. 2]; Quất cảnh Văn Giang được đăng ký bảo hộ độc quyền nhãn hiệu và từng bước khẳng định vị thế trên thị trường sản phẩm cây cảnh; đã hình thành vùng sản xuất hoa chất lượng cao, mô hình trồng hoa ứng dụng công nghệ cao được đầu tư đồng bộ trong nhà lưới, nhà kính.
Chăn nuôi phát triển mạnh. Giá trị chăn nuôi chiếm 65% toàn ngành 12 sản xuất nông nghiệp. Mô hình chăn nuôi theo quy mô trang trại ngày càng phát triển, đem lại hiệu quả kinh tế cao. Hiện nay, toàn huyện có 232 trang trại đạt tiêu chí theo quy định [6, tr.
Các ngành nghề chế biến, dịch vụ nông nghiệp tiếp tục phát triển. Công tác bảo vệ cây trồng, vật nuôi, khuyến nông được cấp uỷ, chính quyền các cấp quan tâm chỉ đạo và đạt kết quả tốt. Công tác phòng, chống lụt, bão, úng, bảo vệ các công trình thuỷ lợi hàng năm được đặc biệt quan tâm; thường xuyên nạo vét, giải tỏa vật cản, khơi thông dòng chảy trước mùa mưa bão; công tác phát hiện và xử lý vi phạm pháp lệnh đê điều, vi phạm công trình thủy lợi được thực hiện nghiêm túc. Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới được các cấp ủy đảng, chính quyền tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, được đông đảo người dân hưởng ứng tích cực.
Sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp của huyện đang trên đà phát triển. Tốc độ tăng trưởng công nghiệp-xây dựng bình quân đạt 16,8%. Toàn huyện khoảng 5.200 lao động hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp [6, tr. Giá trị ngành thương mại - dịch vụ tăng bình quân 18,5%/năm.
Các loại hình dịch vụ phát triển đa dạng, góp phần quan trọng cho tăng trưởng kinh tế và phục vụ đời sống nhân dân. Hiện nay, trên địa bàn huyện có 7 chợ chính và hàng chục chợ nhỏ lẻ, có 3.655 hộ kinh doanh cá thể [6, tr. Hạ tầng kỹ thuật viễn thông tiếp tục được đầu tư nâng cấp. Dịch vụ bưu chính, viễn thông được mở rộng, chất lượng phục vụ được nâng lên đáp ứng nhu cầu sử dụng của người dân.
Dịch vụ Internet, MyTV phát triển nhanh với tổng số 6. Doanh thu dịch vụ bưu chính tăng bình quân 13,65%/năm [6, tr. Tình hình kinh tế nông nghiệp ở huyện Văn Giang trước năm 2001 Quán triệt Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XX, Đảng bộ huyện đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo phát 13 triển kinh tế theo hướng đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trước hết là việc đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp.