phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được 7 kết cấu thành 3 chương: Chương 1: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Chương 2: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh Bò Kẹo, nước Cộng Hòa Dân Chủ Nhân DânLào. Chương 3: Phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Bò Kẹo, nước Cộng Hòa Dân Chủ Nhân DânLào. 8 CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NGÀNH THEO HƢỚNG CÔNG NGHIỆP HÓA HIỆN ĐẠI HÓA 1.
Một số vấn đề lý luận về cơ cấu kinh tế ngànhvà chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành 1. Cơ cấu kinh tế Theo quan điểm triết học duy vật biện chứng thì cơ cấu hay kết cấu là một phạm trù phản ánh cấu trúc bên trong của một đối tượng, là tập hợp những mối liên hệ cơ bản, tương đối ổn định giữa các bộ phận cấu thành nên đối tượng đó trong một thời gian nhất định. Theo quan điểm của Mác, cơ cấu kinh tế của một xã hội là toàn bộ những quan hệ sản xuất phù hợp với quá trình sản xuất nhất định của lực lượng sản xuất vật chất, cơ cấu là một sự phân chia về chất và tỷ lệ số lượng của những quá trình sản xuất xã hội. Các Mác cho rằng: “ Trong sự sản xuất xã hội ra đời sống của mình, con người có những quan hệ nhất định, tất yếu, không phụ thuộc vào ý muốn của họ, tức những quan hệ sản xuất, những quan hệ này phù hợp với trình độ phát triển nhất định của các lực lượng sản xuất vật chất của họ.
Toàn bộ những quan hệ sản xuất ấy cũng hợp thành cơ cấu kinh tế xã hội”(Giáo trình kinh tế chính trị Mác – Lênin) Phát triển kinh tế với tốc độ cao và bền vững là mục tiêu phấn đấu của tất cả các nước. Để thực hiện được mục tiêu đó cần thiết phải xây dựng một cơ cấu kinh tế hợp lý. Trong đó cần phải xác địnhvai trò, tỷ trọng và mối quan hệ hợp thành giữa các ngành kinh tế quốc dân, giữa các vùng, lãnh thổ và giữa các thành phần kinh tế. Các yếu tố hợp thành cơ cấu kinh tế phải được thể hiện cả về mặt số lượng cũng như về mặt chất lượng và được xác định trong những giai đoạn nhất định, phù hợp 9 với những đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội cụ thể của mỗi quốc gia qua từng thời kỳ.
Quan niệm về cơ cấu kinh tế có thể hiểu khái quát: “Cơ cấu kinh tế là một phạm trù kinh tế, nó bao gồm tổng thể các bộ phận cấu thành của nền kinh tế quốc dân trong quá trình tái sản xuất xã hội như các ngành kinh tế (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ), các vùng kinh tế, các thành phần kinh tế. Các bộ phận này gắn bó với nhau, tác động qua lại lẫn nhau và biểu hiện ở các quan hệ tỉ lệ về số lượng, tương quan về chất lượng trong những không gian và thời gian nhất định, phù hợp với những điều kiện kinh tế - xã hội cao. Ở mỗi vùng, mỗi ngành lại có cơ cấu riêng của nó phụ thuộc vào những điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội cụ thể”.TS Phạm Thị Khanh2010) Từ đó có thể rút ra khái niệm cơ cấu kinh tế: Cơ cấu kinh tế là tổng thể các quan hệ kinh tế hay các bộ phận hợp thành nền kinh tế gắn với trình độ công nghệ, quy mô, tỷ trọng tương ứng với tính chất của mối quan hệ tương tác giữa tất cả các bộ phận, gắn với điều kiện kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn phát triển nhất định, nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội đã được xác định trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Cơ cấu kinh tế không phải là một hệ thống tĩnh bất biến mà luôn ở trạng thái vận động, biến đổi không ngừng.
Chính vì vậy, cần phải nghiên cứu các qui luật khách quan, thấy được sự vận động phát triển của lực lượng sản xuất xã hội để xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý, phù hợp với những mục tiêu chiến lược kinh tế xã hội của từng thời kỳ lịch sử nhất định. Cơ cấu kinh tế, xem xét trên cấp độ nền kinh tế quốc dân hay trên một vùng lãnh thổ, về mặt nội dung, là một hệ thống đã cấu hợp thành. Trong đó: Cơ cấu ngành kinh tế: là tập hợp tất cả các ngành hình thành nên nền kinh tế và các mối quan hệ tương đối ổn định giữa chúng. Đây là bộ phận cơ bản nhất của cơ cấu kinh tế, phản ánh trình độ phân công lao động xã hội và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
10 Cơ cấu thành phần kinh tế: được hình thành dựa trên cơ sở chế độ sở hữu. bao gồm nhiều thành phần kinh tế có tác động qua lại với nhau, vừa hợp tác lại vừa cạnh tranh với nhau trên cơ sở bình đẳng trước pháp luật. Cơ cấu thành phần kinh tế đang diễn ra theo chiều hướng phát huy nhiều hình thức sở hữu, nhiều hình thức tổ chức kinh doanh. Cơ cấu lãnh thổ (hay cơ cấu vùng): Nền kinh tế quốc dân là một phát triển không gian thống nhất, được chặt chẽlà sản phẩm của quá trình phân công lao động.
Những khác biệt về điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội, những nguyên nhân lịch sử.đã dẫn đến sự phát triển không giống nhau giữa các vùng. Quan niệm, đặc điểm cơ cấu kinh tế ngành 1. Quan niệmcơ cấu kinh tế ngành Cơ cấu kinh tế ngành là quan hệ gắn bó với nhau theo những tỷ lệ nhất định giữa các ngành sản xuất, trong nội bộ nền kinh tế quốc dân cũng như giữa các ngành nghề và các doanh nghiệp trong các ngành. Cơ cấu kinh tế ngành phản ánh phần nào trình độ phân công lao động xã hội chung của nền kinh tế và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
Phân tích quá trình phân công lao động xã hội, C.Mác nhấn mạnh: ”cơ cấu kinh tế của xã hội là toàn bộ những quan hệ sản xuất phù hợp với một quá trình phát triển nhất định của các lực lượng sản xuất vật chất”. “Do tổ chức quá trình lao động và phát triển kỹ thuật một cách mạnh mẽ làm đảo lộn toàn bộ cơ cấu kinh tế của xã hội”. Mác còn phân tích cơ cấu kinh tế ở cả hai mặt chất lượng và số lượng, “cơ cấu là một sự phân chia về chất lượng và một tỷ lệ về số lượng của những quá trình sản xuất xã hội” Cơ cấu kinh tế ngành là tương quan giữa các ngành trong tổng thể kinh tế, thể hiện mối quan hệ hữu cơ và sự tác động qua lại cả về số lượng và chất lượng giữa các ngành với nhau. Các mối quan hệ này được hình thành trong những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định, luôn luôn vận động và hướng vào những mục tiêu cụ thể.
(Bùi Thanh Tuấn, 2011) Sự phát triển của nền sản xuất xã hội từ kinh tế tự nhiên tới kinh tế hàng hóa 11 cũng có nghĩa là xuất hiện của những ngành sản xuất độc lập nhau, dựa trên những đối tượng sản xuất khác nhau. Đối với nền kinh tế quốc dân, cơ cấu kinh tế ngành là nhân tố cơ bản quyết định sự tồn tại, phát triển kinh tế các nước. Một nền kinh tế muốn tăng trưởng phát triển thì phải hợp lý, tiên tiến, đáp ứng nhu cầu đặt ra của thời đại không một nền kinh tế nào chỉ dựa vào nông nghiệp, công nghiệp hay dịch vụ. Cơ cấu kinh tế ngành hợp lý cho phép khai thông tạo động lực cho việc khai thác có hiệu quả nguồn lực trong ngoài nước.
Cơ cấu kinh tế ngành là bộ phận then chốt trong cơ cấu kinh tế, vì cơ cấu ngành quyết định trạng thái chung và tỷ lệ đầu vào, đầu ra của nền kinh tế quốc dân.Cơ cấu kinh tế ngành là xét nền kinh tế dựa trên cơ sở phân công lao động xã hội và chuyên môn hóa sản xuất thành các ngành nghề khác nhau. Cơ cấu kinh tế ngành là tổng thể các ngành của nền kinh tế quốc dân được hợp thành theo một quan hệ tỷ lệ về lượng, thể hiện mối quan hệ giữa các ngành và phản ánh trình độ phát triển của nền kinh tế. Cơ cấu kinh tế ngành vừachỉ mối quan hệ giữa các ngành vừa đề cập cơ cấu trong nội bộ các ngành kinh tế chủ yếu; biểu hiện cụ thể như cơ cấu tỷ trọng của cácphân ngành: trồng trọt, chăn nuôi… trong ngànhnông nghiệp; Cơ khí, luyện kim, năng lượng… trong công nghiệp v.v…trong một chỉnh thể các ngành và trong toàn bộ nền kinh tế. Nghiên cứu cơ cấu kinh tế ngành là nhằm tìm ra những cách thức duy trì tính hợp lí của chúng và những lĩnh vực cần ưu tiên tập trung các nguồn lực có hạn của quốc gia trong mỗi thời kỳ để thúc đẩy sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế một cách nhanh nhất và hiệu quả nhất.
Trong luận văn, tác giả nghiên cứu: cơ cấu kinh tế ngành là tổng hợp các phân ngành trong một ngành kinh tế có mối quan hệ tác động lẫn nhau trong sự vận động và phát triển của các ngành trong nền kinh tế quốc dân. Nói cách khác, cơ cấu ngành là tỷ trọng các phân ngành trong một ngành kinh tế có quan hệ hữu cơ với nhau. Quan niệm cơ cấu kinh tế ngành có thể được áp dụng cho toàn bộ nền kinh tế hay từng địa phương. Do vậy nghiên cứu cơ cấu kinh tế ngành cũng có thể nghiên cứu trên bình diện tổng thể cả nước, cũng có thể nghiên cứu ở từng vùng, từng địa 12 phương cụ thể nào đó.
Khi đó mối quan hệ giữa các ngành được xem xét trong phạm vi nền kinh tế quốc dân hoặc từng vùng, từng địa phương cụ thể ấy. Đặc điểm cơ cấu kinh tế ngành Một là, cơ cấu kinh tế ngànhmang tính khách quan, số lượng các ngành kinh tế không cốđịnh mà luôn hoàn thiện theo sự phát triển của phân công lao động xã hội. Căn cứ vào tính chất của phân công lao động xã hội biểu hiện qua sự khác nhau về quy trình công nghệ tạo ra sản phẩm vật chất và dịch vụ có thể phân hệ thống kinh tế thành 3 nhóm ngành chínhđó là: Nhóm ngành nông nghiệp (khu vực I): gồm các ngành trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và ngư nghiệp.