Luận Án Tiến Sĩ Về Công Bằng Xã Hội Trong Giáo Dục Phổ Thông Tại Các Tỉnh Miền Núi Phía Bắc Việt Nam

Luận án tiến sĩ giáo dục phân tích thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục phổ thông ở các tỉn miền núi phía bắc việt nam hiện nay, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2022

206
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1. Nhóm công trình khoa học đã công bố có liên quan đến vấn đề lý luận về thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục phổ thông nói chung và giáo dục phổ thông ở các tỉnh miền núi phía Bắc nói riêng

1.2. Nhóm công trình khoa học đã công bố liên quan đến thực trạng về thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục phổ thông nói chung và giáo dục phổ thông ở các tỉnh miền núi phía Bắc nói riêng

1.3. Nhóm công trình khoa học đã công bố liên quan đến giải pháp về thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục phổ thông nói chung và giáo dục phổ thông ở các tỉnh miền núi phía Bắc nói riêng

1.4. Khái quát giá trị các công trình đã tổng quan và những vấn đề của luận án tiếp tục nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI TRONG GIÁO DỤC PHỔ THÔNG Ở CÁC TỈNH MIỀN NÚI PHÍA BẮC VIỆT NAM - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN

2.1. Quan niệm về thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục phổ thông ở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam

2.2. Thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục phổ thông ở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam - Chủ thể, nội dung, phương thức và điều kiện

3. CHƯƠNG 3: THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI TRONG GIÁO DỤC PHỔ THÔNG Ở CÁC TỈNH MIỀN NÚI PHÍA BẮC VIỆT NAM HIỆN NAY - THỰC TRẠNG VÀ NGUYÊN NHÂN

3.1. Chủ thể thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục phổ thông ở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam hiện nay - Thực trạng và nguyên nhân

3.2. Nội dung thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục phổ thông ở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam hiện nay - Thực trạng và nguyên nhân

3.3. Phương thức thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục phổ thông ở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam hiện nay - Thực trạng và nguyên nhân

4. CHƯƠNG 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU GÓP PHẦN THỰC HIỆN TỐT CÔNG BẰNG XÃ HỘI TRONG GIÁO DỤC PHỔ THÔNG Ở CÁC TỈNH MIỀN NÚI PHÍA BẮC VIỆT NAM NHỮNG NĂM TIẾP THEO

4.1. Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các chủ thể trong thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục phổ thông ở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam

4.2. Hoàn thiện cơ chế, chính sách để bảo đảm thực hiện tốt nội dung công bằng xã hội trong giáo dục phổ thông ở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam

4.3. Gắn kết chặt chẽ phát triển kinh tế - xã hội với đổi mới các phương thức thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục phổ thông ở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam

KẾT LUẬN

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Giới thiệu về công bằng xã hội trong giáo dục phổ thông

Công bằng xã hội (CBXH) trong giáo dục phổ thông (GDPT) là một vấn đề quan trọng trong chính sách giáo dục của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Việc thực hiện CBXH không chỉ giúp thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền mà còn tạo cơ hội cho mọi người được học tập và phát triển. Trong bối cảnh miền núi phía Bắc (MNPB), nơi có nhiều khó khăn về kinh tế và xã hội, việc thực hiện CBXH trong GDPT càng trở nên cấp thiết. Theo thống kê, tỷ lệ trẻ em đến trường ở các cấp học tại MNPB vẫn còn thấp, đặc biệt là ở cấp trung học phổ thông (THPT). Điều này cho thấy sự cần thiết phải có những chính sách và giải pháp cụ thể nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và đảm bảo CBXH cho tất cả học sinh.

1.1. Tình hình giáo dục phổ thông ở miền núi phía Bắc

Tình hình giáo dục ở MNPB hiện nay cho thấy nhiều thách thức. Cơ sở vật chất còn thiếu thốn, nhiều trường học vẫn sử dụng phòng học tạm bợ. Chất lượng giáo dục chưa đồng đều giữa các vùng, dẫn đến sự chênh lệch trong cơ hội học tập giữa học sinh các dân tộc thiểu số (DTTS) và học sinh người Kinh. Theo số liệu, tỷ lệ học sinh hoàn thành cấp tiểu học đạt 98,1%, nhưng ở cấp THPT chỉ đạt 65,1%. Điều này phản ánh rõ ràng sự bất bình đẳng trong tiếp cận giáo dục, cần có những giải pháp cụ thể để cải thiện tình hình này.

II. Các yếu tố ảnh hưởng đến công bằng xã hội trong giáo dục

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện CBXH trong GDPTMNPB. Đầu tiên, sự phân bổ nguồn lực cho giáo dục chưa hợp lý, dẫn đến tình trạng thiếu thốn về cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học. Thứ hai, đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục còn hạn chế về năng lực và trình độ, ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy. Thứ ba, chính sách giáo dục chưa thực sự phù hợp với đặc thù của vùng miền, đặc biệt là đối với các DTTS. Việc thiếu các chính sách đặc thù cho giáo dục miền núi đã hạn chế sự phát triển giáo dục tại đây.

2.1. Chính sách giáo dục và công bằng xã hội

Chính sách giáo dục hiện tại cần được điều chỉnh để đảm bảo CBXH trong GDPT. Cần có những chính sách đặc thù nhằm hỗ trợ học sinh DTTS, tạo điều kiện cho họ tiếp cận giáo dục một cách công bằng. Việc miễn giảm học phí, cung cấp học bổng cho học sinh nghèo, và đầu tư vào cơ sở hạ tầng giáo dục là những giải pháp cần thiết. Hơn nữa, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp chính quyền và cộng đồng để nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của giáo dục trong việc phát triển kinh tế - xã hội.

III. Giải pháp thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục phổ thông

Để thực hiện tốt CBXH trong GDPTMNPB, cần có một số giải pháp chủ yếu. Đầu tiên, nâng cao nhận thức của cộng đồng về giáo dục và CBXH. Thứ hai, hoàn thiện cơ chế, chính sách để bảo đảm thực hiện tốt nội dung CBXH trong giáo dục. Thứ ba, gắn kết phát triển kinh tế - xã hội với đổi mới phương thức thực hiện CBXH trong giáo dục. Việc này không chỉ giúp nâng cao chất lượng giáo dục mà còn tạo ra môi trường học tập tốt hơn cho học sinh.

3.1. Nâng cao nhận thức và trách nhiệm

Nâng cao nhận thức về CBXH trong giáo dục là một trong những giải pháp quan trọng. Cần tổ chức các chương trình tuyên truyền, giáo dục cho phụ huynh và học sinh về quyền lợi và nghĩa vụ trong việc học tập. Đồng thời, cần khuyến khích sự tham gia của cộng đồng trong việc giám sát và hỗ trợ giáo dục. Sự tham gia của cộng đồng sẽ tạo ra một môi trường học tập tích cực, giúp học sinh có động lực hơn trong việc học tập.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. NHÓM CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI TRONG GIÁO DỤC PHỔ THÔNG NÓI CHUNG VÀ GIÁO DỤC PHỔ THÔNG Ở CÁC TỈNH MIỀN NÚI PHÍA BẮC NÓI RIÊNG 1. Nhóm công trình khoa học đã công bố có liên quan đến vấn đề lý luận về công bằng xã hội và thực hiện công bằng xã hội Trong tác phẩm “Justice and the Politics of Difference” [157] (Công bằng và khía cạnh chính trị của sự khác biệt) của Iris Marion Young (1990) xuất phát từ sự phân tích những quan điểm về chuẩn mực của CBXH với nguyên tắc phân chia quyền và nghĩa vụ của J.Rawls và cả quan điểm về phương thức phân phối của C.Mác trong Phê phán Cương lĩnh Gôta để đưa ra quan điểm của mình về CBXH. Marion Young cho rằng “nhiều lý thuyết phân phối công bằng tin rằng, công bằng là khái niệm chuẩn mực cơ bản để xác định mọi hình thức của thể chế xã hội, nhưng đồng thời nó cũng xác định phạm vi phân phối công bằng” [tr.

Tuy nhiên, do quá nhấn mạnh đến việc đòi hỏi phải có sự đối xử tôn trọng như nhau với các điều kiện riêng về quyền tự chủ và văn hóa như những thế mạnh riêng của mỗi nhóm xã hội khác nhau, mà không thấy thực chất của sự khác biệt xã hội ấy giữa những nhóm cộng đồng dân cư khác nhau trong xã hội nước Mỹ, cho nên đây chính là hạn chế của ông cho việc thực hiện những mong muốn về một xã hội công bằng thực sự. Cuốn sách là tài liệu gợi mở cho chúng tôi trong quá trình nghiên cứu lý luận về CBXH. Vấn đề công bằng và bình đẳng đã được J.Rawls (2001) nghiên cứu một cách có hệ thống mang tính lý thuyết thuần túy trong công trình “A theory of justice” [158] (Lý thuyết về công bằng), đối tượng của công bằng đã được ông xác định: đó chính là “thể chế xã hội nói chung, cái quyết định cho sự lựa chọn nguyên tắc phân chia quyền lợi và nghĩa vụ cơ bản, hay đó là phương thức phân phối lợi ích có được từ hoạt động hợp tác xã hội của mỗi cá nhân” [tr.Rawls, một thể chế xã hội được gọi là công bằng khi có sự phân chia quyền lợi và nghĩa vụ phù hợp đối với lợi luan an 8 ích của mỗi cá nhân; hay khi con người tự nguyện cùng tham dự vào hợp tác xã hội để làm sao cho mỗi cá nhân giành được lợi ích nhiều hơn so với khi họ sống đơn lẻ thì sẽ tạo ra công bằng.Rawls đã đi đến phân chia hai nguyên tắc khác biệt của công lý với tính cách là công bằng. Công trình này là nguồn tài liệu tham khảo quý giá cho chúng tôi khi tiếp cận khái niệm CBXH và các chuẩn mực của công bằng.

Tác giả Nguyễn Minh Hoàn (2009) trong công trình “Công bằng xã hội trong tiến bộ xã hội” [54] đã đề cập đến hai khái niệm CBXH và tiến bộ xã hội. “Công bằng xã hội là phạm trù giữ vai trò chi phối quan hệ giữa người và người trong các lĩnh vực xã hội nói chung để đảm bảo có sự tương xứng giữa vai trò thực sự của các cá nhân hay các nhóm xã hội với địa vị mà họ nắm giữ, giữa nghĩa vụ và quyền lợi, giữa lao động và sự trả công, giữa hành vi mà một người nào đó đã thực hiện và sự đền đáp, giữa tội phạm và sự trừng phạt, giữa phẩm giá con người và sự thừa nhận đối với những phẩm giá đó v.v… Công bằng xã hội được hiểu là sự bình đẳng giữa người và người trong mối quan hệ giữa cống hiến và hưởng thụ theo nguyên tắc cống hiến ngang nhau thì hưởng thụ ngang nhau, trong đó khái niệm cống hiến và hưởng thụ tích cực cũng như tiêu cực” [tr. Trên cơ sở chỉ ra vị trí, vai trò của CBXH trong tiến bộ xã hội (TBXH) và đi đến khái quát CBXH với tư cách là động lực của TBXH và CBXH với tư cách là thước đo về mặt xã hội của TBXH, tác giả đã chỉ ra những chủ trương lớn của Đảng Cộng sản Việt Nam nhằm thực hiện CBXH. Đồng thời, một số vấn đề trong việc thực hiện CBXH ở nước ta hiện nay như: thái độ ứng xử của chúng ta trước thực trạng gia tăng phân hóa giàu nghèo và bất bình đẳng, vấn đề công bằng về cơ hội, vấn đề thực hiện CBXH trong phân phối tư liệu sản xuất, vấn đề CBXH trong lĩnh vực y tế và chăm sóc sức khỏe nhân dân, vấn đề CBXH trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo đã được đề cập đến.

Đây là nguồn tư liệu để chúng tôi kế thừa khi đưa ra các quan điểm về CBXH nói chung và CBXH trong giáo dục nói riêng. Công trình “Những vấn đề lý luận cơ bản về công bằng xã hội trong điều kiện nước ta hiện nay” của Phạm Thị Ngọc Trầm (2009) [140] trình bày các quan niệm khác nhau về CBXH của các tác giả trong và ngoài nước, từ cổ đại đến cận, hiện đại và phân tích việc thực hiện CBXH ở một số nước trên thế giới (Trung Quốc, các nước Đông Nam Á, Thụy Điển). CBXH là vấn đề đã được đặt ra và quan tâm từ rất sớm luan an 9 trong lịch sử xã hội, tuy nhiên cho đến nay nó vẫn là vấn đề mang tính thời sự cấp bách. Ở Việt Nam, CBXH được nghiên cứu trên phương diện lý luận cũng như thực tiễn thông qua vận dụng các nguyên tắc và phương pháp luận biện chứng duy vật cơ bản.

Từ đó, tác giả phân tích các nội dung cơ bản của CBXH (các quan niệm, nguyên tắc phân phối công bằng, các điều kiện, tiền đề cần thiết để thực hiện có hiệu quả CBXH v.) và đề xuất một số giải pháp thực hiện CBXH ở Việt Nam. Công trình là cơ sở cho chúng tôi kế thừa các quan niệm trước Mác về CBXH, những nội dung và phương thức để thực hiện CBXH. Trong công trình “Công bằng trong phân phối, cơ sở phát triển bền vững” [33], tác giả Bùi Đại Dũng (2012) đã có sự phân tích về vai trò, ý nghĩa của CBXH trong việc đảm bảo không chỉ lợi ích của các cá nhân, các nhóm xã hội mà còn là lợi ích chung của toàn xã hội trong sự phát triển trung và dài hạn. Nói cách khác CBXH luôn được nhìn nhận với tính cách là mục tiêu, động lực của sự phát triển xã hội, bởi vì các tiêu chí cơ bản của công bằng là lợi ích cá nhân phải phù hợp với lợi ích xã hội trong dài hạn.

Lợi ích cá nhân có thể được đo bằng thu nhập cá nhân, và lợi ích xã hội là tổng phúc lợi xã hội trong dài hạn. Thể chế xã hội là những nhân tố chi phối quan hệ này, trong đó quan trọng nhất là các công cụ như: thuế, trợ cấp, tôn vinh, trừng phạt v. mà xã hội cần xác định cụ thể và thực hiện nghiêm minh. Trong công trình này, tác giả đã đưa ra những phương thức tiếp cận với những nội dung mới xung quanh vấn đề công bằng xã hội, từ sự đúc rút lý thuyết và kinh nghiệm thực tiễn của các nước châu Âu hiện đại.

Công trình cũng gợi mở nghiên cứu vấn đề phân bổ nguồn lực xã hội và hạn chế bất công vì phát triển hài hòa, bền vững. Bài viết “Công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay” [50] của Lương Việt Hải (2004) đã luận bàn về CBXH. CBXH không đơn thuần thể hiện quan hệ cá nhân - xã hội, mà còn thể hiện quan hệ giữa các nhóm, cộng đồng, giai cấp và cá nhân với nhau. CBXH ở đây đặt trong sự so sánh tỷ lệ.

Cụ thể: tỷ lệ giữa phần mà cá nhân hay nhóm xã hội nào đó đóng góp và phần mà họ nhận được tương đương tỷ lệ ấy ở những người hay nhóm xã hội khác thì đó mới là công bằng, còn nếu các tỷ lệ đó không có sự tương đương thì đương nhiên sẽ là bất công. Việc thực hiện CBXH là một trong những ước mơ lâu đời của nhân dân lao động, một nội luan an 10 dung quan trọng của lý tưởng cộng sản chủ nghĩa. Việc xác định một trong những mục tiêu của sự nghiệp cách mạng là xây dựng xã hội công bằng đã thể hiện đúng nguyện vọng của nhân dân, được nhân dân đồng tình và ủng hộ. Tác giả đồng thời cũng khẳng định kinh tế thị trường đã bao hàm việc thực CBXH.

Tuy nhiên, kinh tế thị trường không thể thực hiện triệt để và rộng khắp, đầy đủ và toàn diện sự CBXH. Việc thực hiện CBXH cũng phải được tiến hành bằng nhiều hình thức phân phối khác nhau, cả bên ngoài và bên trong nội dung kinh tế thuần tuý. CBXH là một động lực phát triển kinh tế - xã hội, ngay cả trong điều kiện kinh tế thị trường. Với việc xây dựng một nền kinh tế thị trường định hướng XHCN có sự quản lý của Nhà nước, yêu cầu thực hiện CBXH là một tất yếu, vì đó vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển xã hội.

Bài viết cung cấp cho chúng tôi những tư liệu để khái quát quan niệm về CBXH và phương thức thực hiện CBXH. Tác giả Lê Hữu Tầng (2008) trong bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn xung quanh việc thực hiện công bằng xã hội ở Việt Nam hiện nay” [120] nêu lên và phân tích hàng loạt những vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách xoay quanh chủ đề CBXH. Trước hết tác giả đã chỉ ra tính thống nhất và khác biệt giữa CBXH và bình đẳng xã hội, bình đẳng xã hội là “sự ngang bằng nhau giữa người và người về một phương diện xã hội nào đấy, chẳng hạn như về kinh tế, chính trị, văn hóa v. Trong khi đó, CBXH chỉ là một dạng của bình đẳng xã hội, đó là sự bình đẳng trong phương diện quan hệ giữa cống hiến và hưởng thụ theo nguyên tắc cống hiến ngang nhau thì hưởng thụ ngang nhau, ở đây khái niệm CBXH và bình đẳng xã hội đã được phân tích khá thấu đáo trong sự so sánh tương tác của các khái niệm, tạo cơ sở đi sâu, làm rõ hơn nội hàm của các khái niệm.

Khái niệm CBXH, cống hiến và hưởng thụ phải được hiểu theo nghĩa rộng: chúng không chỉ bao hàm những khía cạnh tích cực như chúng ta vẫn quen dùng, mà cả khía cạnh tiêu cực như công, tội, thưởng, phạt.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Công Bằng Xã Hội Trong Giáo Dục Phổ Thông Tại Các Tỉnh Miền Núi Phía Bắc Việt Nam" của tác giả Đỗ Thị Thu Hương, được thực hiện tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh vào năm 2022, tập trung vào việc phân tích và đánh giá tình hình công bằng xã hội trong giáo dục phổ thông ở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam. Bài viết không chỉ nêu rõ những thách thức mà hệ thống giáo dục đang đối mặt mà còn đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao tính công bằng trong tiếp cận giáo dục cho học sinh ở khu vực này. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin quý giá về tình hình giáo dục, các yếu tố ảnh hưởng đến công bằng xã hội và những khuyến nghị thiết thực cho các nhà quản lý giáo dục.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan đến giáo dục và sức khỏe tâm thần của học sinh, bạn có thể tham khảo bài viết "Thực Trạng Sức Khỏe Tâm Thần Và Yếu Tố Liên Quan Của Học Sinh Trường Trung Học Phổ Thông Tại Nam Định Năm 2021", nơi đề cập đến sức khỏe tâm thần của học sinh, một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng học tập và sự phát triển của các em.

Ngoài ra, bài viết "Sáng kiến áp dụng phương pháp dạy học tích cực vào môn GDKT Pháp luật 10" cũng sẽ cung cấp cho bạn những phương pháp dạy học hiện đại nhằm phát huy tính tích cực của học sinh, từ đó góp phần vào việc nâng cao chất lượng giáo dục và công bằng xã hội trong giáo dục phổ thông.

Cuối cùng, bài viết "Năng lực hợp tác giải quyết vấn đề của học sinh trung học cơ sở: Nghiên cứu và phân tích" sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về năng lực hợp tác và giải quyết vấn đề của học sinh, một yếu tố quan trọng trong việc xây dựng môi trường học tập công bằng và hiệu quả.

Những tài liệu này không chỉ mở rộng kiến thức của bạn về giáo dục mà còn cung cấp những góc nhìn đa dạng về các vấn đề liên quan đến công bằng xã hội trong giáo dục.