Luận văn: Côn trùng ký sinh sâu hại chính trên rau họ hoa thập tự tại TP. Vinh

Tổng hợp các loài côn trùng ký sinh trên sâu hại chính của rau họ hoa thập tự tại TP. Vinh. Phân tích vai trò và đặc điểm của các loài thiên địch.

Trường đại học

Không có thông tin

Chuyên ngành

Nông nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn

2010

90
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về côn trùng ký sinh sâu hại rau họ hoa thập tự tại Vinh

Rau họ hoa thập tự (Crucifereae) là nhóm cây thực phẩm quan trọng được trồng rộng rãi tại Vinh và các vùng lân cận. Những loại rau này như cải xanh, cải bẹ, cải ngọt, su hào, cải bắp và súp lơ có giá trị kinh tế cao, mang lại nguồn thu nhập đáng kể cho người sản xuất. Tuy nhiên, rau họ hoa thập tự thường bị tấn công bởi nhiều loại sâu hại chính từ đầu vụ đến cuối vụ, gây nên những tổn thất đáng kể. Trong số đó, sâu tơsâu xanh bướm trắng được coi là hai loài sâu cánh vảy gây hại đặc biệt nghiêm trọng. Việc nghiên cứu côn trùng ký sinh sâu hại rau họ hoa thập tự tại Vinh là cần thiết để tìm ra các giải pháp bảo vệ thực vật hiệu quả và bền vững.

1.1. Tầm quan trọng của rau họ hoa thập tự

Rau họ hoa thập tự là nhóm cây thực phẩm có giá trị kinh tế cao tại Vinh. Các loại rau này được trồng chủ yếu vào vụ rau Đông Xuân từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau. Với diện tích trồng ngày càng lớn và sự chuyên canh cao, sâu hại rau họ hoa thập tự đã trở thành một vấn đề cấp bách cần được giải quyết một cách khoa học và bền vững.

1.2. Các loài sâu hại chính

Những loài sâu hại chính tấn công rau họ hoa thập tự tại Vinh bao gồm sâu tơ, sâu xanh bướm trắng (SXBT), rệp, sâu đo, và bọ nhảy. Trong đó, sâu tơ và SXBT là hai loài sâu cánh vảy gây hại đặc biệt nghiêm trọng, tác động lớn đến năng suất và chất lượng sản phẩm rau.

II. Thành phần và đa dạng sinh học của côn trùng ký sinh

Nghiên cứu tại Vinh cho thấy có nhiều loài côn trùng ký sinh khác nhau trên các loài sâu hại rau họ hoa thập tự. Các côn trùng ký sinh sâu hại được phân loại dựa trên các loài sâu chủ mà chúng ký sinh như sâu tơ, SXBT, sâu đo và rệp. Thành phần côn trùng ký sinh bao gồm nhiều họ ong và ruồi có khả năng điều tiết tự nhiên các quần thể sâu hại. Chỉ số đa dạng sinh học của tập hợp ký sinh trên sinh quần ruộng rau họ hoa thập tự tại Vinh được xác định và đánh giá thông qua các chỉ số sinh học. Sự đa dạng này cho thấy tiềm năng lớn trong việc ứng dụng quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) để kiểm soát sâu hại một cách bền vững.

2.1. Thành phần loài ký sinh trên sâu tơ

Các loài côn trùng ký sinh sâu tơ tại Vinh bao gồm nhiều loài ong ký sinh từ các họ khác nhau. Những ký sinh sâu tơ này có khả năng ký sinh vào ấu trùng, sâu non và nhộng của sâu tơ. Nghiên cứu xác định rằng Diadromus collaris là một trong những loài ký sinh nhộng sâu tơ quan trọng, giúp giảm đáng kể quần thể sâu hại.

2.2. Loài ký sinh sâu xanh bướm trắng SXBT

Sâu xanh bướm trắng (SXBT) tại Vinh bị ký sinh bởi nhiều loài ong nội ký sinh từ các họ như Pteromalidae, Eulophidae và Ichneumon. Các loài ký sinh SXBT này có tiềm năng cao trong việc kiểm soát tự nhiên quần thể SXBT, đóng góp vào quản lý dịch hại tổng hợp hiệu quả.

III. Côn trùng bắt mồi sâu hại rau họ hoa thập tự

Ngoài các côn trùng ký sinh, các côn trùng bắt mồi sâu hại cũng đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát quần thể sâu hại rau họ hoa thập tự tại Vinh. Thành phần côn trùng và nhện lớn bắt mồi sâu hại rau họ hoa thập tự rất đa dạng, bao gồm các loài bọ rùa, ruồi ăn rệp, nhện và nhiều côn trùng ăn thịt khác. Các loài côn trùng bắt mồi này có khả năng săn lùng sâu hại một cách hiệu quả, giúp duy trì cân bằng sinh thái trong ruộng rau. Sự kết hợp giữa côn trùng ký sinhcôn trùng bắt mồi tạo nên một hệ thống kiểm soát tự nhiên mạnh mẽ, giảm nhu cầu sử dụng thuốc bảo vệ thực vật.

3.1. Ruồi ăn rệp và bọ rùa

Ruồi ăn rệp là những côn trùng bắt mồi hiệu quả, đặc biệt tại Vinh. Cả ấu trùng và trưởng thành của ruồi ăn rệp đều có khả năng ăn rệp trên các loại rau họ hoa thập tự. Bọ rùa chữ nhân cũng là một loài côn trùng bắt mồi quan trọng, có thể ăn được nhiều rệp và sâu nhỏ, góp phần kiểm soát sâu hại rau họ hoa thập tự.

3.2. Nhện và các côn trùng ăn thịt khác

Các loài nhện tại Vinh là những côn trùng bắt mồi hiệu quả trong ruộng rau họ hoa thập tự. Chúng có khả năng bắt giữ nhiều loại sâu hại rau họ hoa thập tự khác nhau. Các côn trùng ăn thịt khác như bọ sáu chân, ong bắt mồi cũng đóng góp vào việc kiểm soát dịch hại bền vững.

IV. Ứng dụng quản lý dịch hại tổng hợp IPM cho rau họ hoa thập tự

Dựa trên nghiên cứu về côn trùng ký sinhcôn trùng bắt mồi sâu hại rau họ hoa thập tự tại Vinh, quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) được xem là giải pháp hiệu quả và bền vững. Thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào các biện pháp hóa học, người nông dân có thể kết hợp nhiều biện pháp như bảo vệ các côn trùng ký sinh tự nhiên, bảo vệ côn trùng bắt mồi, sử dụng các biện pháp canh tác bền vững, và chỉ sử dụng thuốc khi cần thiết. Việc giám sát đều đặn quần thể sâu hại rau họ hoa thập tự và các kẻ thù tự nhiên của chúng là yếu tố then chốt. Những năm gần đây, việc ứng dụng IPM trong sản xuất rau tại Vinh đã mang lại hiệu quả tốt, giảm chi phí sản xuất, giảm tác động hại đến môi trường và nâng cao chất lượng sản phẩm.

4.1. Nguyên tắc và lợi ích của IPM

Quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) là một cách tiếp cận khoa học kết hợp nhiều biện pháp để kiểm soát sâu hại rau họ hoa thập tự một cách hiệu quả. Các nguyên tắc IPM bao gồm giám sát dịch hại, sử dụng các kẻ thù tự nhiên, áp dụng các biện pháp canh tác bền vững, và sử dụng hóa chất khi cần thiết. Lợi ích của IPM là giảm chi phí, giảm ô nhiễm và nâng cao chất lượng rau.

4.2. Thực hiện IPM tại Vinh

Tại Vinh, các hộ trồng rau họ hoa thập tự đã bắt đầu áp dụng IPM với những kết quả tích cực. Việc bảo vệ côn trùng ký sinhcôn trùng bắt mồi tự nhiên, kết hợp với giám sát thường xuyên quần thể sâu hại, đã giúp giảm đáng kể nhu cầu sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, mang lại lợi ích kinh tế và môi trường lâu dài.

22/12/2025
Côn trùng ký sinh của một số loài sâu hại chính trên rau họ hoa thập tự ở thành phố vinh

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU 1. Tầm quan trọng của việc nghiên cứu đề tài Rau họ hoa thập tự (Crucifereae) là nhóm cây thực phẩm quan trọng được trồng rộng rãi ở Việt Nam. Do có giá trị kinh tế cao, rau là nguồn thu nhập quan trọng đối với người sản xuất, rau xuất khẩu mang lại nhiều nguồn ngoại tệ đáng kể (Hoàng Anh Cung & cs, 1995) [20]. Có tới 12 loại rau thuộc họ thập tự.

Ở Nghệ An, rau họ hoa thập tự được trồng chủ yếu là cải xanh, cải bẹ, cải ngọt, su hào, cải bắp, súp lơ,. và chủ yếu được trồng vào vụ rau Đông Xuân (từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau). Nhóm cây trồng này thường bị một số loại sâu hại chính tấn công từ đầu vụ đến cuối vụ, gây nên những tổn thất đáng kể cho nghề trồng rau như sâu tơ, sâu xanh bướm trắng, rệp, bọ nhảy,. Trong đó có hai loài sâu cánh vảy gây hại đặc biệt nghiêm trọng là sâu tơ và sâu xanh bướm trắng.

Chính vì sự gia tăng về diện tích trồng cũng như sự chuyên canh ngày càng cao đã và đang làm cho các loài sâu hại ngày càng phát triển. Để phòng trừ sâu hại rau họ hoa thập tự nói chung, cho đến nay người nông dân chủ yếu dựa vào biện pháp hoá học trong đó có những loại thuốc rất độc (Hoàng Anh Cung, 1997) [21]. Ở các vùng chuyên canh rau, thuốc bảo vệ thực vật được sử dụng nhiều và liên tục đã gây tác hại nghiêm trọng như phá vỡ cân bằng sinh thái , tạo nên tính chống thuốc của một số loài dịch hại ngày càng tăng ở nhiều nơi trên thế giới. Thuốc trừ sâu gây ô nhiễm môi trường, mất an toàn vệ sinh thực phẩm, ảnh hưởng đến sức khoẻ con người.

Theo khảo sát của Liên hợp quốc, trên thế giới mỗi năm có khoảng 3 triệu ca nhiễm độc nghiêm trọng liên quan đến hoá chất bảo vệ thực vật (HCBVTV), gây ra 220.000 ca tử vong. Năm 1990, một thống kê quý của Tổ chức y tế thế giới (WHO) cho thấy có khoảng 25 triệu lao động trong ngành nông nghiệp bị nhiễm độc HCBVTV/ năm. Năm 2000, Bộ y tế Braxin ước tính trong một năm nước này có 300.000 ca nhiễm độc và 5.000 ca tử vong do HCBVTV. Ở Việt Nam, trong 2 năm 1997- 1998 có trên 3000 vụ ngộ dộc thức ăn trong đó có nhiều vụ do hoá chất BVTV (Nguyễn Duy Trang, 1999) [36].

Theo Nguyễn Văn Hải (2001) [23], dư lượng thuốc trừ sâu trên mức cho phép là 17,5% (năm 1996) và 16,67% (năm 1997). Theo thống kê, mỗi năm Việt Nam có từ 250- 500 vụ ngộ độc thực phẩm với 7000- 10000 nạm nhân và 100- 200 ca tử vong. 27% số vụ ngộ độc là do ăn phải thực phẩm còn tồn đọng hoá chất. Từ năm 2000- 2006 đã có 677 vụ ngộ độc thực phẩm do rau quả, hoá chất BVTV (Trần Mạnh Hà, 2008) [43].

Theo điều tra của Cục quản lý chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP) năm 2004 thì các vụ ngộ độc vì hoá chất trừ sâu đang có xu hướng tăng lên. Tỷ lệ ngộ độc thuốc trừ sâu ở năm 2002 là 22% và > 30% ở năm 2003. Trong 6 tháng đầu năm 2009, tồn dư hoá chất BVTV trong rau vẫn chiếm từ 11,6- 13%. Hiện nay ở Nghệ An, biện pháp phòng trừ các loài sâu và rệp hại rau được sử dụng chủ yếu là thuốc hóa học trừ dịch hại.

Do thời gian sinh trưởng của cây rau ngắn, thời tiết thuận lợi cho sâu hại sinh sôi phát triển, nên người dân trồng rau ở Nghệ An đã phun thuốc hoá học từ 9 - 15 lần/1 vụ rau. Vì vậy đã để lại rất nhiều hậu quả cho người tiêu dùng, vật nuôi, côn trùng có ích, đa dạng sinh học và môi trường ở nơi đây. Cùng song song tồn tại với sâu hại là các loài kẻ thù tự nhiên của chúng. Vai trò của các loài kẻ thù tự nhiên đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu (Chua T.

Frodsham, 1993; Nguyễn Công Thuật, 1996 [29]; Lê Thị Kim Oanh, 1997 [32]; Phạm Văn Lầm, 1999 [34]; Hồ Thị Thu Giang, 2002 [4]). Mục tiêu của chúng ta hiện nay là xây dựng một nền nông nghiệp bền vững, đảm bảo cho hệ sinh thái ổn định lâu dài. Đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm , đặc biệt đối với rau xanh đang là vấn đề bức xúc hiện nay. Do vậy, xu hướng chính trong Bảo vệ thực vật hiện nay trên thế giới là Quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) và chủ yếu sử dụng biện pháp sinh học thay thế biện pháp sử dụng thuốc trừ sâu hoá học.

Hướng sử dụng thiên địch là bảo vệ thiên địch tự nhiên và nhân thả ký sinh, bắt mồi ăn thịt phòng trừ dịch hại cây trồng. Tính đa dạng thành phần loài côn trùng ký sinh và côn trùng bắt mồi ăn thịt là yếu tố rất quan trọng trong bảo đảm cân bằng mối quan hệ giữa sâu hại và thiên địch. Biện pháp sinh học phòng trừ sâu hại rau dựa trên nguyên tắc sinh thái và tính đa dạng sinh học của côn trùng ký sinh và sâu hại. Vì vậy việc nghiên cứu côn trùng ký sinh sâu hại rau là một việc làm có tính cấp thiết hiện nay.

Trước hết, cần điều tra, phát hiện các loài côn trùng ký sinh, trên cơ sở đó nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật bảo vệ và sử dụng thiên địch nhằm giảm thiểu sự bùng phát sâu hại. Quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) sâu bệnh hại rau họ hoa thập tự trên cơ sở đa dạng sinh học và côn trùng ký sinh có ý nghĩa khoa học và thực tiễn. Những điểm nêu trên là cơ sở để chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài “Côn trùng ký sinh của một số loài sâu hại chính trên rau họ hoa thập tự ở Thành phố Vinh”. Mục đích nghiên cứu của đề tài Trên cơ sở nghiên cứu đa dạng sinh học côn trùng ký sinh sâu cánh vảy và côn trùng ký sinh rệp hại rau họ hoa thập tự nhằm cung cấp các dẫn liệu về đa dạng thành phần loài côn trùng ký sinh, côn trùng bắt mồi ăn thịt, mối quan hệ giữa côn trùng ký sinh với sâu hại bộ cánh vảy và rệp (bộ cánh đều), đánh giá khả năng sử dụng 1 - 2 loài ký sinh chính phòng trừ sâu tơ và rệp hại rau họ hoa thập tự ở Thành phố Vinh, Nghệ An.

Phạm vi và nội dung nghiên cứu 3. Phạm vi nghiên cứu Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái của 2 loài ong ký sinh chính trên sâu tơ và rệp. Nội dung nghiên cứu - Điều tra thành phần sâu hại rau họ Hoa thập tự, côn trùng ký sinh, côn trùng bắt mồi ăn thịt của chúng ở một số vùng trồng rau trên địa bàn thành phố Vinh. Xác định loài côn trùng ký sinh chính.

- Điều tra mức độ gây hại, diễn biến số lượng của sâu cánh vảy và rệp trên sinh quần ruộng rau ở thành phố Vinh. - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái của một số loài côn trùng ký sinh chính trên sâu tơ và rệp như: Loài Cotesia plutellae (Kurdjumov) ký sinh sâu non sâu tơ, loài Diaeretiella rapae M. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 4. Ý nghĩa khoa học Đã điều tra thống kê một cách đầy đủ hơn thành phần các loài côn trùng ký sinh, côn trùng bắt mồi ăn thịt trong sinh quần ruộng rau họ Hoa thập tự tại một số vùng chuyên canh rau trên địa bàn Thành phố Vinh.

Mối quan hệ giữa cây rau, sâu hại chính và các loài thiên địch. Trên cơ sở đó đánh giá vai trò hữu ích của một số loài, góp phần xây dựng biện pháp sinh học trong hệ thống quản lý dịch hại tổng hợp sâu hại rau họ Hoa thập tự. Cung cấp dẫn liệu khoa học về đặc điểm, tập tính sinh sản, phát triển của loài ong Diaeretiella rapae M’Intosh ký sinh rệp và ong Cotesia plutellae (Kurdjumov) ký sinh sâu non sâu tơ, làm cơ sở cho việc tiến hành các biện pháp bảo vệ, duy trì và khích lệ sự phát triển, tiến tới lợi dụng chúng để phòng chống rệp, sâu xanh bướm trắng và sâu tơ đạt hiệu quả kinh tế cao. Ý nghĩa thực tiễn Các dẫn liệu được trình bày trong luận văn góp phần vào việc áp dụng có hiệu quả biện pháp IPM sâu hại trên rau họ Hoa thập tự.

Nhằm sử dụng thuốc hoá học ở mức thấp nhất, tránh những tác hại không tốt đến thiên địch, môi trường và sức khoẻ con người. CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài nghiên cứu 1. Cân bằng sinh học trong tự nhiên Các quần thể sinh vật sống trong từng khu vực, trong từng hệ sinh thái đều có liên hệ thích ứng với nhau, tác động tương hỗ với nhau thông qua những mối quan hệ dinh dưỡng và sự tác động của những nhân tố sinh thái, sinh học khác.

Trong quá trình phát triển, tiến hoá, những mối liên hệ tác động tương hỗ đó dần dần thiết lập nên thế cân bằng động gọi là cân bằng sinh học. Trạng thái tự nhiên mà ở đó mỗi thành viên của sinh quần đều giữ được tương quan số lượng tương đối điển hình, phù hợp với nhu cầu sinh tồn của loài mình, đảm bảo sự ổn định, hài hoà chung của cả sinh quần được gọi là sự cân bằng sinh học Cân bằng sinh học cũng luôn luôn giao động và được điều chỉnh trong một biên độ nào đó, trước hết là do điều kiện môi trường thường xuyên biến đổi. Mặt khác, bản thân các quần thể cũng luôn luôn có những biến động đặc thù riêng của mình. Trong quá trình thích ứng để tồn tại, mỗi quần xã có một phương thức đặc trưng, nhằm duy trì sự cân bằng sinh học với độ ổn định tương đối.

Ở các HST đồng ruộng, khi đạt được cân bằng sinh học thì số lượng sâu hại không lớn nên tổn thất mùa màng do chúng gây ra không đáng kể. Vì vậy, phấn đấu để đạt được trạng thái cân bằng sinh học trên đồng ruộng là mục tiêu theo đuổi của công tác BVTV hiện đại và tiến bộ. Hiện tượng mật độ của quần thể được duy trì trong một phạm vi giới hạn và biến động tương đối trong suốt cả thời gian bằng tác động của các yếu tố sinh học và vật lý của môi trường được gọi là điều chỉnh tự nhiên. Giới hạn trên và giới hạn dưới của mật độ trung bình thường ít biến đổi rõ rệt.

Chỉ khi nào bản thân những yếu tố điều chỉnh thay đổi hoặc xuất hiện một nhân tố mới (như loài ký sinh, loài ăn thịt) thì giới hạn trên và giới hạn dưới đó mới thay đổi.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ