CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ XUẤT KHẨU THỦY SẢN VÀ GIỚI THIỆU VỀ HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO VIỆT NAM – LIÊN MINH CHÂU ÂU (EVFTA) 1. Khái quát về mặt hàng thủy sản và xuất khẩu thủy sản 1. Khái quát về mặt hàng thủy sản 1. Khái niệm về mặt hàng thủy sản Thủy sản là một thuật ngữ chỉ chung về những nguồn lợi, sản vật đem lại cho con người từ môi trường nước và được con người khai thác, nuôi trồng, thu hoạch sử dụng làm thực phẩm, nguyên liệu hoặc trao đổi mua bán.
Gần 90% sản lượng của ngành thủy sản trên thế giới thu được từ biển và đại dương, còn lại là sản lượng thu được từ các vùng nước nội địa. Sự phân loại các mặt hàng thủy sản được dựa theo đặc điểm cấu tạo loài, tính ăn và môi trường sống, bao gồm: - Nhóm cá (fish): Là những động vật nuôi có đặc điểm cá rõ rệt, chúng có thể là cá nước ngọt hay cá nước lợ. Ví dụ: cá tra, cá ngừ, cá chình… - Nhóm giáp xác (crustaceans): Phổ biến nhất là nhóm giáp xác mười chân, trong đó tôm và cua là các đối tượng nuôi quan trọng. Ví dụ: Tôm càng xanh, tôm sú, tôm thẻ chân trắng, tôm đất, cua biển, ghẹ xanh… - Nhóm động vật thân mềm (molluscs): Gồm các loài có vỏ vôi, nhiều nhất là nhóm hai mảnh vỏ và đa số sống ở biển (nghêu, sò huyết, hàu, ốc hương.) và một số ít sống ở nước ngọt (trai, hến).
- Nhóm động vật thủy sinh không xương sống (aquatic invertebrates): Là những loài động vật không có xương sống, sinh trưởng và phát triển trong môi trường nước. Ví dụ: hải sâm, nhím biển, sứa, san hô, thủy tức. - Nhóm rong (seaweeds): Là các loài thực vật bậc thấp, đơn bào, đa bào, là các loài thực vật bậc thấp, đơn bào hay đa bào. Ví dụ: Rong salad, rong nho, rong sụn, rong mứt.
- Nhóm bò sát (reptiles) và lưỡng cư (amphibians): Bò sát là các động vật bốn chân có màng ối, lưỡng cư là những loài có thể sống cả trên cạn lẫn dưới nước. Ví dụ: Vẩy đồi mồi, da cá sấu, da và thịt ếch. Đặc điểm mặt hàng thủy sản Mặt hàng thủy sản phong phú đa dạng: Mặt hàng thủy sản vô cùng đa dạng và phong phú, với nhiều chủng loại khác nhau nhưng đều được kinh doanh dưới các dạng chính gồm: Sản phẩm tươi sống hoặc ướp lạnh do sản phẩm thủy sản dễ bị thối hỏng nên cần được bảo quản trong môi trường nước thích hợp hoặc ướp lạnh để đảm bảo độ tươi. Ngày nay, các sản phẩm thủy sản tươi sống, điển hình là con giống, có thể được vận chuyển quãng đường xa bằng đường hàng không.
Sản phẩm đông lạnh: Là các sản phẩm được làm lạnh tới -18oC sau khi đã ổn định nhiệt độ như tôm đông lạnh, cá đông lạnh… Sản phẩm đã qua chế biến hoặc bảo quản (còn gọi là chế phẩm): Là các sản phẩm được phơi khô, muối hoặc ngâm nước muối, hun khói, đóng hộp. Chúng có thể được để nguyên con, cắt miếng hay nghiền nhỏ và có thể trộn thêm một số nguyên liệu khác để tạo ra giá trị gia tăng nhưng phải chứa trên 20% tính theo trọng lượng là thủy sản. Ví dụ như cá khô, tôm khô, mực khô, nori, surimi. Thủy sản là loại hàng hóa mang nặng tính thời vụ, phụ thuộc nhiều vào điều kiện thời tiết ngư trường: Tính thời vụ là đặc trưng của việc nuôi trồng thuỷ sản, bởi nước ta nằm trong vành đai nhiệt đới Bắc bán cầu và chịu ảnh hưởng của gió mùa châu Á, nên về mùa đông, nhiệt độ trung bình tháng lạnh nhất ở Bắc Bộ từ 13 – 17oC, ở Nam Bộ nhiệt độ từ 25 – 27oC.
Ngược lại trong thời kỳ gió mùa xích đạo, nhiệt độ cao và phân bổ đồng đều trong cả nước. Biên độ nhiệt trong năm chênh lệch nhiều giữa hai miền Nam - Bắc, ảnh hưởng nhiều đến việc nuôi trồng thuỷ sản và đánh bắt thuỷ hải sản. Vì thế mùa đông lạnh của miền Bắc không thể nuôi trồng thuỷ sản nên hàng trái vụ thì giá cao còn hàng chính vụ không tiêu thụ được do đặc điểm của khâu chế biến thuỷ sản đánh bắt được phải chế biến nhanh. Hàng thuỷ sản được ưa chuộng trên thị trường Việt Nam và thế giới: Đối với thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, thuỷ sản là một trong những mặt hàng thực phẩm được ưa thích tiêu dùng.
Ngành thuỷ sản cung cấp những sản phẩm quý cho tiêu dùng dân cư, là nguyên liệu để phát triển các ngành khác như công nghiệp chế biến. Mặt khác, theo kết quả nghiên cứu của các chuyên gia đã khẳng định: Hầu hết các loại sản phẩm thuỷ sản đều là các loại thực phẩm dễ tiêu hoá, giàu chất đạm, phù hợp với mọi lứa tuổi, ít gây bệnh về tim mạch, béo phì và ung thư. Về thành phần 8 dinh dưỡng, so với các loại sản phẩm hàng thuỷ sản có ít chất mỡ, nhiều chất khoáng và chất đạm cũng cao. Bổ sung cá và thủy sản trong bữa ăn hàng ngày là cần thiết, bởi chúng chứa nhiều hợp chất dinh dưỡng tốt cho sức khỏe và có thể giúp cơ thể phòng ngừa được bệnh ung thư.
Hợp chất chống oxy hóa coenzyme Q10 giúp loại bỏ những yếu tố gây ung thư, axit béo omega-3 giúp cơ thể ngăn ngừa ung thư vú, ung thư thận, ung thư ruột, các bệnh về tim mạch, suy giảm trí nhớ. Hàng thuỷ sản có giá trị xuất khẩu cao: Các mặt hàng thuỷ sản, đặc biệt là sản phẩm đã được chế biến có giá bán cao hơn hàng tươi sống và sơ chế, đem lại giá trị gia tăng cho các nhà xuất khẩu nhờ vào chất lượng cao và phù hợp với thị hiếu đa dạng, phong phú của người tiêu dùng trong nước cũng như thế giới, có ưu thế là giải quyết được nhiều vấn đề về việc làm, đồng thời thu được nguồn ngoại tệ đáng kể cho đất nước, đặc biệt đối với các nước có khí hậu nhiệt đới ẩm với mạng lưới sông ngòi dày đặc như Việt Nam. Như vậy, thúc đẩy xuất khẩu hàng thuỷ sản sẽ có những đóng góp quan trọng vào sự tăng trưởng của toàn ngành nông, ngư nghiệp. Quá trình sản xuất hàng thuỷ sản phải gắn liền với khâu chế biến và hàng tiêu thụ: Thuỷ sản là hàng tươi sống tính chất mau hư hỏng và ươn thối, sản phẩm thủy sản khi đưa ra thị trường đã phải trải qua quá trình từ tươi sống, đông lạnh, rã đông và đem bán tại quầy.
Như vậy, thủy sản được cần bảo quản tốt ngay cả khâu việc sơ chế và khâu chế biến. Ngay từ khâu đánh bắt và sơ chế, các thuyền đánh bắt xa bờ phải trang bị công nghệ hiện đại phù hợp với hàng thuỷ sản để đảm bảo độ tươi của hàng thuỷ sản thực sự là vấn đề cấp bách để hàng thuỷ sản có đủ điều kiện xuất khẩu, đảm bảo chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm cho hàng xuất khẩu. Tại khâu sản xuất và bảo quản, việc cấp đông đặc biệt quan trọng để ngăn ngừa sự ươn hỏng vì tốc độ ươn hỏng ở thủy sản cao hơn hai lần so với các loại Protein khác như thịt gà, thịt bò hay thịt lợn, thậm chí giá trị thủy sản giảm rất nhanh, có khi giảm chất lượng và giá thành chỉ trong vài giờ nếu nhiệt độ bảo quản tăng lên trên 0oC. Để khắc phục điều này đòi hỏi các cơ sở chế biến thủy sản xuất khẩu phải có hệ thống kho lạnh trữ lạnh nguyên liệu lâu dài đáp ứng cho nhu cầu nhập khẩu của thị trường nước ngoài.
Xuất khẩu thủy sản 1. Khái niệm về xuất khẩu thủy sản “Xuất khẩu thủy sản là việc bán những sản phẩm thủy sản trong nước ra nước ngoài nhằm thu ngoại tệ, thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, tăng tích lũy cho ngân sách nhà nước. Xuất khẩu thủy sản là việc kinh doanh chủ yếu dựa vào nguyên liệu từ khai thác và nuôi trồng thủy sản trong nước. Như vậy, hoạt động xuất khẩu nói chung và xuất khẩu thủy sản nói riêng không chỉ đơn thuần mang lại lợi nhuận cho một hay một vài chủ thể tham gia vào hoạt động này mà còn có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia.
Hoạt động xuất khẩu thủy sản mang lại nguồn thu ngoại tệ, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, nâng cao năng lực sản xuất trong nước, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu thủy sản của quốc gia a. Các yếu tố bên trong: Nguồn lực thủy sản Để có thể sản xuất xuất khẩu, yếu tố đầu vào là nguồn lực thủy sản trong nước được xem là một trong những nhân tố chủ chốt mang tính chất quyết định, ảnh hưởng nhiều tới hoạt động xuất khẩu của một quốc gia. Nguồn lực thủy sản có dồi dào, phong phú thì mới có thể sản xuất được các mặt hàng đa dạng, thỏa mãn được nhu cầu của khách hàng và phù hợp được với nhiều nhóm khách hàng ở nước nhập khẩu. Nguồn lực thủy sản trong nước bao gồm: Thủy sản khai thác, đánh bắt và thủy sản nuôi trồng.
Yếu tố địa lý, khí hậu Thủy sản chịu ảnh hưởng từ các điều kiện về khí hậu như: Gió, nhiệt độ, không khí, môi trường nước, chế độ mưa, độ mặn tác động đến sự sinh trưởng và phát triển của sinh vật kéo theo sản lượng đánh bắt cá sẽ bị thay đổi. Ngoài ra, các trận lũ lụt, bão cũng có ảnh hưởng lớn đến hệ thống nuôi trồng thủy sản tạo bất lợi cho việc nuôi trồng tôm cua cá nước lợ do bờ đê đạp bị phá vỡ, trực tiếp ảnh hưởng đến nguồn cung thủy sản phục vụ cho hoạt động xuất khẩu. Thêm vào đó, thủy sản là mặt hàng có đặc điểm là khó bảo quản sau khi đánh bắt. Thời tiết xấu dẫn đến thời gian tươi sống các mặt hàng giảm đi nhanh chóng, dẫn đến việc xuất khẩu các sản phẩm tươi gặp nhiều 10 khó khăn.
Do đó, các yếu tố tự nhiên có tác động vô cùng lớn đến hoạt động sản xuất nuôi trồng thủy sản cũng như hoạt động xuất khẩu thủy sản. Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật Khoa học công nghệ và kỹ thuật được đưa vào hoạt động và ứng dụng thực tế sẽ đem lại hiệu quả cao trong công tác nuôi trồng và chế biến thủy sản, từ đó góp phần cải thiện về cả số lượng và chất lượng cho mặt hàng thủy sản, giúp cho xuất khẩu thủy sản thuận lợi hơn.