Tổng quan luận án

Công trình khoa học “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản trên địa bàn tỉnh An Giang” được tác giả Đoàn Quốc Bảo thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Hữu Phú và PGS.TS. Lê Đức Toàn, bảo vệ năm 2022 tại Trường Đại học Duy Tân, thuộc chuyên ngành Quản trị Kinh doanh (mã số 9340101).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Xuất khẩu thủy sản, đặc biệt là cá da trơn (cá tra) – sản phẩm đặc trưng của vùng đồng bằng sông Cửu Long – giữ vai trò trọng yếu trong việc tạo nguồn ngoại tệ và giải quyết việc làm. Cá tra Việt Nam đã hiện diện tại 142 quốc gia và vùng lãnh thổ. Trong đó, tỉnh An Giang là địa phương có nguồn nước dồi dào, hệ thống sông ngòi kênh rạch thuận lợi, trở thành trung tâm sản xuất thủy sản nước ngọt lớn nhất vùng. Giai đoạn 2015–2020, ngành xuất khẩu thủy sản An Giang đạt kim ngạch 2 tỷ 960 triệu USD, đóng góp 2,86% GDP toàn tỉnh (Cục Thống kê An Giang, 2021), trong đó xuất khẩu cá tra chiếm tới 97% kim ngạch xuất khẩu thủy sản của tỉnh (Sở Công thương An Giang, 2020).

Tuy nhiên, năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản tại An Giang đang đối diện với nhiều thách thức nghiêm trọng:

  • Sản lượng xuất khẩu sụt giảm mạnh: từ mức 271.238 tấn năm 2007 xuống 269.047 tấn năm 2017 và chỉ còn 121.034 tấn vào năm 2020 (Cục Thống kê An Giang 2007, 2020), khiến nhiều doanh nghiệp rơi vào tình trạng giải thể hoặc phá sản.
  • Chi phí đầu vào nuôi trồng, chế biến và logistics tăng cao: Giai đoạn 2019–2021, giá thức ăn chăn nuôi tăng từ 300 đến 500 đồng/kg, thuốc thú y tăng bình quân 10%/năm. Giá thành nuôi cá tra đạt khoảng 27.000 đồng/kg, trong đó riêng chi phí thức ăn đã chiếm khoảng 20.000 đồng/kg; người nuôi chỉ có lãi khi giá bán duy trì ở mức từ 32.000 đồng/kg trở lên.
  • Công nghệ chế biến hạn chế: Các doanh nghiệp chủ yếu xuất khẩu dưới dạng sơ chế đông lạnh (phi-lê, cắt khúc xẻ bướm hoặc nguyên con), công nghệ cấp đông nhanh làm giảm chất lượng mô thịt sau rã đông; các công nghệ chế biến sâu tạo giá trị gia tăng cao (bảo quản ni-tơ lỏng, chiết xuất mỡ cá làm dầu ăn, da cá làm snack, phụ phẩm đầu và xương làm thức ăn chăn nuôi) đòi hỏi chi phí đầu tư lớn mà doanh nghiệp khó tiếp cận nguồn vốn.
  • Hạn chế về quản trị, thị trường và pháp lý: Phần lớn chủ doanh nghiệp chuyển từ hoạt động thương mại sang chế biến, thiếu kiến thức chuyên sâu và am hiểu luật pháp của thị trường nhập khẩu (Mỹ, EU). Mối liên kết giữa cơ quan quản lý, doanh nghiệp, Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) và người nuôi còn lỏng lẻo, việc thực hiện quy trình kỹ thuật, truy xuất nguồn gốc theo Nghị định số 36/2014/NĐ-CP ngày 29/4/2014 chưa đồng bộ.
  • Hiện tượng cạnh tranh phá giá: Dù cá tra Việt Nam chiếm hơn 95% thị phần thương mại toàn cầu, các doanh nghiệp trong nước vẫn không nắm quyền định giá (VASEP, 2016), liên tục hạ giá bán để xoay vòng vốn, đẩy ngành hàng vào vòng luẩn quẩn “vốn – giá – chất lượng – thị trường”.
  • Khó khăn về tài chính, logistics, marketing và lao động: Nguồn vốn chủ yếu phụ thuộc vào vay ngắn hạn ngân hàng; chi phí logistics chiếm tỷ trọng cao (khoảng 30% giá thành theo Bùi Duy Linh, 2018), thiếu cảng nước sâu đón tàu tải trọng lớn, kho lạnh quy mô nhỏ (chỉ 2.000–3.000 tấn); hoạt động marketing manh mún, thiếu bộ phận chuyên trách; lao động biến động do môi trường làm việc lạnh ẩm và tính mùa vụ.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: Cho đến thời điểm thực hiện đề tài, chưa có công trình thực nghiệm nào nghiên cứu có hệ thống về các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản trên địa bàn tỉnh An Giang trên cơ sở mô hình tích hợp các trường phái lý thuyết quản trị và chuỗi giá trị.

Mục tiêu nghiên cứu

  • Mục tiêu tổng quát: Nghiên cứu các vấn đề lý luận về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và xây dựng mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản tỉnh An Giang; xác định các nhân tố và mức độ ảnh hưởng của chúng, từ đó phân tích, đánh giá nhằm đề ra hàm ý quản trị và hàm ý chính sách nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản An Giang thời kỳ 2023–2035.
  • Mục tiêu cụ thể:
    1. Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản tỉnh An Giang.
    2. Đo lường mức độ tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản tỉnh An Giang.
    3. Kiểm định sự khác biệt về năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản tỉnh An Giang theo đặc tính doanh nghiệp (quy mô vốn, nhân sự, số năm kinh nghiệm, doanh số…).
    4. Đề xuất hàm ý chính sách và hàm ý quản trị để nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản trên địa bàn tỉnh An Giang thời kỳ 2023–2035.

Câu hỏi nghiên cứu

(1). Các lý thuyết về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp đã tiếp cận theo những quan điểm, định hướng nào?
(2). Áp dụng mô hình nghiên cứu nào để đo lường các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản ở Việt Nam nói chung và trên địa bàn tỉnh An Giang nói riêng?
(3). Sử dụng phương pháp nào để ước lượng và kiểm định các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản trên địa bàn tỉnh An Giang?
(4). Kết quả phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh trong mô hình là như thế nào?
(5). Hàm ý chính sách và hàm ý quản trị gì để nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản trên địa bàn tỉnh An Giang?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản trên địa bàn tỉnh An Giang.
  • Phạm vi nội dung: Do 97% kim ngạch xuất khẩu thủy sản của tỉnh An Giang bắt nguồn từ cá tra, luận án tập trung khảo sát năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu cá tra.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn tỉnh An Giang.
  • Phạm vi thời gian: Thu thập và phân tích dữ liệu hoạt động của các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản từ năm 2008 đến năm 2020; các đề xuất giải pháp hướng đến thời kỳ 2023–2035.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu quốc tế

Tác giả đã hệ thống hóa các nghiên cứu nước ngoài về năng lực cạnh tranh qua nhiều góc độ:

  • Cơ sở cổ điển và tân cổ điển: Adam Smith (1776) với lý thuyết lợi thế tuyệt đối dựa trên thời gian hao phí lao động; David Ricardo (1817) với lý thuyết lợi thế so sánh dựa trên tỷ lệ tiêu hao nguồn lực.
  • Lý thuyết năng lực và nguồn lực nội tại: Wernerfelt (1984) và Barney (1991) tiếp cận dựa trên nguồn lực bên trong của doanh nghiệp (RBV). Sanchez & Heene (1996, 2004, 2008) nhấn mạnh năng lực kết hợp, điều phối và triển khai các nguồn lực để tạo lợi thế bền vững.
  • Mô hình chiến lược và chuỗi giá trị: Michael Porter (1980, 1985, 1990, 1998) với mô hình Chuỗi giá trị, mô hình Kim cương (gồm điều kiện nhân tố, điều kiện cầu, các ngành phụ trợ/liên quan, bối cảnh cạnh tranh) và mô hình 5 áp lực cạnh tranh. Dunning (1993) đề xuất bổ sung nhân tố đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào mô hình Kim cương. Fagerberg & Nelson (2003) phân tích năng lực cạnh tranh ở ba cấp độ (quốc gia, ngành, doanh nghiệp) gắn liền với đổi mới dây chuyền công nghệ.
  • Khung phân tích cấu trúc năng lực doanh nghiệp: Ambastha & Momaya (2004) và Flanagan et al. (2005) đề xuất mô hình APP (Assets - Processes - Performance). Ho (2005) đánh giá tác động của 5 khía cạnh quản trị doanh nghiệp tới năng lực cạnh tranh. Chang et al. (2007) xác định 7 yếu tố ảnh hưởng tại các cửa hàng ở Đài Loan. Onar & Polat (2010) khảo sát 12 yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh tại Sở Giao dịch Chứng khoán Istanbul (Thổ Nhĩ Kỳ). Sauka (2014) chỉ ra 7 nhân tố ảnh hưởng tại các công ty ở Latvia. Hosein et al. (2013) nghiên cứu ngành xuất khẩu trứng cá tầm tại Iran. Wati (2018) nghiên cứu các nhân tố cấu thành năng lực cạnh tranh xuất khẩu nhưng chưa lượng hóa vai trò của thương hiệu, giá cả và hội nhập kinh tế. Rosli (2012) khảo sát chiến lược cạnh tranh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Malaysia.

Các hướng nghiên cứu tại Việt Nam

Các công trình trong nước được tác giả tổng thuật bao gồm:

  • Phân tích hạn chế thị trường và công nghệ: Nguyễn Vĩnh Thanh (2005) chỉ ra năng lực cạnh tranh yếu do thiếu thông tin thị trường và hiện tượng cạnh tranh phá giá nội bộ; Phạm Thị Quý (2005) xem xét chất lượng sản phẩm và vệ sinh an toàn thực phẩm; Vũ Thành Hưng (2005) phân tích hệ số sử dụng máy móc thiết bị chỉ đạt trung bình 32% tại các doanh nghiệp nhà nước ngành thủy sản (Khánh Hòa, Bình Định, Bến Tre, Ninh Thuận); Dương Trí Thảo (2004) làm rõ mối quan hệ giữa công nghệ chế biến và hiệu quả kinh doanh tại Khánh Hòa; Nguyễn Khắc Minh (2006) dùng phương pháp tham số và phi tham số xác định hiệu quả kỹ thuật sản xuất của doanh nghiệp chế biến thủy sản Việt Nam đạt mức thấp (41,2% và 67,6%).
  • Phân tích chuỗi ngành hàng và chính sách vĩ mô: Bùi Đức Tuân (2010) đúc kết kinh nghiệm nâng cao năng lực cạnh tranh từ Trung Quốc, Thái Lan, Ấn Độ; Nguyễn Chí Thắng (2005) ứng dụng mô hình Porter phân tích thủy sản Kiên Giang; Võ Minh Long (2005) và Nguyễn Xuân Minh (2006) chỉ rõ xuất khẩu thủy sản chủ yếu ở dạng sơ chế, giá trị gia tăng thấp, liên kết chuỗi lỏng lẻo; Nguyễn Chu Hồi (2007) phân tích cơ hội và thách thức của thủy sản khi gia nhập WTO; Nguyễn Văn Cần (2010) nêu bất cập về hạ tầng kỹ thuật nghề cá; Nguyễn Thị Hương (2014) và Hoàng Thị Ngân Loan (2005) đề xuất các giải pháp về kiểm soát tiêu chuẩn HACCP, xúc tiến thương mại và đào tạo nguồn nhân lực; Vũ Văn Trung, Nguyễn Ánh Thư, Lê Thị Thanh Xuân (2015) bàn về việc tận dụng các hiệp định thương mại tự do (FTA).
  • Các nghiên cứu định lượng cấp địa phương và ngành khác: Nguyễn Thành Long (2016) xác định 8 yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp du lịch Bến Tre; Nguyễn Duy Hùng (2016) lượng hóa 7 yếu tố nội bộ tác động đến công ty chứng khoán Việt Nam; Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương - CIEM (2011) khảo sát 9 nhân tố tác động đến năng lực cạnh tranh ngành xuất khẩu thủy sản, may mặc và điện tử.

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết

  1. Chưa có công trình thực nghiệm nào nghiên cứu riêng biệt và có hệ thống về các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản trên địa bàn tỉnh An Giang.
  2. Các nghiên cứu trước phần lớn tiếp cận riêng lẻ từng trường phái hoặc dừng lại ở việc liệt kê định tính, chưa có mô hình tích hợp đồng thời 4 trường phái lý thuyết: Lý thuyết nguồn lực (RBV), Lý thuyết định hướng thị trường, Lý thuyết năng lực doanh nghiệp và Lý thuyết chuỗi giá trị.
  3. Nhân tố Logistics (chi phí vận chuyển, kho lạnh, cảng bốc dỡ, thủ tục hải quan) và nhân tố Marketing là hai yếu tố then chốt gây tổn hại năng lực cạnh tranh thực tế của các doanh nghiệp thủy sản ĐBSCL và An Giang nhưng chưa từng được đưa vào mô hình nghiên cứu định lượng chính thức trước đây.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án kế thừa các định nghĩa về năng lực cạnh tranh của OECD (1996), Cruz & Rugman (1993), Sanchez & Heene (1996, 2004), Nguyễn Bách Khoa (2004) và Vũ Dương Hòa (2017). Khung phân tích được xây dựng trên cơ sở tích hợp 4 trường phái lý thuyết nền tảng để đề xuất mô hình nghiên cứu gồm 10 nhân tố:

Trường phái lý thuyết nền Tác giả tiêu biểu Các nhân tố tích hợp trong mô hình
Tiếp cận dựa trên nguồn lực doanh nghiệp (RBV) Barney (1991), Porter (1980, 1988) Năng lực quản trị, Nguồn nhân lực, Năng lực tài chính
Tiếp cận dựa trên định hướng thị trường Kohli & Jaworski (1990) Năng lực Marketing, Năng lực phát triển quan hệ kinh doanh, Năng lực thương hiệu
Tiếp cận dựa trên năng lực của doanh nghiệp Wernerfelt (1984), Peteraf (1993) Năng lực sản phẩm, Năng lực công nghệ, Năng lực giá cả
Tiếp cận từ chuỗi giá trị Porter (1985) Năng lực Logistics

Phương pháp nghiên cứu

Luận án áp dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp, kết hợp định tính và định lượng, trong đó nghiên cứu định lượng giữ vai trò chủ đạo.

  • Nghiên cứu định tính:
    • Lược khảo tài liệu, văn bản chính sách và các nghiên cứu đi trước nhằm xây dựng bảng câu hỏi sơ bộ và khung lý thuyết.
    • Phỏng vấn sâu sơ bộ 21 chuyên gia là các nhà quản lý, lãnh đạo tại các công ty xuất khẩu thủy sản (chiếm khoảng 7,2% dung lượng mẫu cần thiết) để điều chỉnh thang đo, câu chữ và xác nhận sự phù hợp của 10 nhóm biến độc lập trong bối cảnh địa phương.
  • Nghiên cứu định lượng:
    • Phương pháp chọn mẫu và thu thập dữ liệu sơ cấp: Khảo sát thông qua bảng câu hỏi gửi đến lãnh đạo, chuyên gia, cán bộ quản lý tại các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản trên địa bàn tỉnh An Giang và giảng viên ngành kinh tế tại các trường đại học.
    • Xử lý số liệu trên phần mềm SPSS 22: Thống kê mô tả dữ liệu, đánh giá độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach's Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA), phân tích tương quan Pearson, kiểm định phương sai ANOVA và kiểm định tự tương quan qua hệ số Durbin-Watson.
    • Xử lý số liệu trên phần mềm AMOS: Phân tích nhân tố khẳng định (CFA) để kiểm tra tính đơn nguyên, giá trị hội tụ và giá trị phân biệt; phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) để kiểm định các giả thuyết nghiên cứu và mối quan hệ nhân quả; sử dụng kỹ thuật Bootstrap để kiểm định độ tin cậy và tính bền vững của các ước lượng mô hình.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  • Dữ liệu thứ cấp: Thu thập từ các báo cáo thống kê giai đoạn 2008–2020 của UBND tỉnh An Giang, Cục Thống kê tỉnh An Giang, Sở Công thương tỉnh An Giang, Chi cục Thủy sản tỉnh An Giang, Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM) và Bộ Thương mại Hoa Kỳ (DOC).
  • Dữ liệu sơ cấp: Dữ liệu điều tra bảng hỏi chính thức từ mẫu khảo sát các nhà quản lý doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản tỉnh An Giang và các chuyên gia kinh tế.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

Chương 1 tập trung tổng quan hệ thống y văn về năng lực cạnh tranh trong và ngoài nước ở các cấp độ: quốc gia, ngành và doanh nghiệp. Tác giả phân tích các nghiên cứu quốc tế của Porter (1990), Wernerfelt (1984), Ambastha & Momaya (2004), Ho (2005), Sauka (2014), Wati (2018)... cùng các công trình nghiên cứu ngành thủy sản tại Việt Nam của CIEM (2011), Bùi Đức Tuân (2010), Nguyễn Khắc Minh (2006), Nguyễn Xuân Minh (2006)... Từ việc so sánh, tác giả chỉ ra các khoảng trống khoa học: thiếu vắng nghiên cứu định lượng trực tiếp tại địa bàn tỉnh An Giang, thiếu mô hình tích hợp đa trường phái lý thuyết, và chưa đưa các yếu tố mang tính thực tiễn cao như Logistics và Marketing vào kiểm định thực nghiệm.

Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh trong các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản

Chương 2 trình bày nguồn gốc thuật ngữ "năng lực cạnh tranh" (từ gốc Latin Competere), các định nghĩa học thuật, các trường phái cạnh tranh cổ điển (Adam Smith, David Ricardo) và hiện đại (mô hình Kim cương và mô hình 5 áp lực của Porter; mô hình Gelei, 2004; mô hình APP của Flanagan et al., 2005; mô hình EFQM của Gemoets, 2009). Tác giả phân tích 4 cấp độ cạnh tranh (quốc gia, ngành, doanh nghiệp, sản phẩm) và khảo sát các mô hình thực nghiệm xuất khẩu thủy sản (Ấn Độ, Indonesia, Na Uy, Iran).

Trên cơ sở đó, tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu đề xuất (Hình 2.17) và bảng tổng hợp mối quan hệ giữa các nhân tố (Bảng 2.2, trang 72), xác lập các giả thuyết nghiên cứu về mối quan hệ giữa 10 nhân tố độc lập (Năng lực quản trị, Công nghệ sản xuất, Nguồn nhân lực, Năng lực tài chính, Năng lực marketing, Năng lực logistics, Năng lực phát triển quan hệ kinh doanh, Năng lực thương hiệu, Năng lực sản phẩm, Năng lực giá cả) với biến phụ thuộc là Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản tỉnh An Giang.

Chương 3: Thiết kế nghiên cứu

Chương 3 thiết lập quy trình nghiên cứu chuẩn tắc (Hình 3.1, trang 75). Nghiên cứu định tính sơ bộ được thực hiện bằng phỏng vấn 21 chuyên gia để thẩm định danh mục biến quan sát và hoàn thiện thang đo Likert (Bảng 4.6, trang 113). Chương này quy định chi tiết phương pháp chọn mẫu khảo sát định lượng, kỹ thuật thu thập dữ liệu sơ cấp và thứ cấp, cùng quy trình phân tích định lượng tuần tự: thống kê mô tả, kiểm định Cronbach's Alpha, EFA, CFA, SEM và Bootstrap trên hai phần mềm SPSS 22 và AMOS.

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận

Chương 4 là chương thực nghiệm trọng tâm, trình bày hai nội dung chính: đánh giá thực trạng ngành thủy sản An Giang và kết quả xử lý dữ liệu định lượng.

1. Thực trạng ngành xuất khẩu cá tra An Giang

  • Diện tích và sản lượng: An Giang có diện tích nuôi cá tra lớn, tuy nhiên sản lượng xuất khẩu biến động giảm sâu:
Năm Sản lượng xuất khẩu (Tấn) Ghi chú biến động
2007 271.238 Giai đoạn tăng trưởng mạnh
2017 269.047 Duy trì quy mô lớn
2020 121.034 Sụt giảm nghiêm trọng (nguồn: Cục Thống kê An Giang)
  • Chi phí sản xuất và biến động giá: Giá thành nuôi cá tra đạt khoảng 27.000 đồng/kg, chi phí thức ăn chiếm khoảng 20.000 đồng/kg; giai đoạn 2019–2021 giá thức ăn tăng 300–500 đồng/kg, thuốc thú y tăng 10%/năm; giá hòa vốn có lãi của người nuôi phải từ 32.000 đồng/kg trở lên.
  • Logistics và chế biến: Chi phí logistics chiếm xấp xỉ 30% giá thành xuất khẩu; tỉnh thiếu cảng nước sâu đón tàu lớn, phụ thuộc vận tải đường bộ lên TP.HCM gây phát sinh chi phí và trễ chuyến; hệ thống kho lạnh doanh nghiệp quy mô nhỏ chỉ từ 2.000 đến 3.000 tấn; công nghệ chế biến chủ yếu là cấp đông phi-lê thông thường.

2. Kết quả phân tích định lượng

Tác giả trình bày kết quả phân tích thống kê qua hệ thống bảng biểu và sơ đồ:

  • Bảng 4.7: Thống kê mô tả đặc điểm mẫu khảo sát.
  • Bảng 4.8: Kết quả kiểm định độ tin cậy thang đo qua hệ số Cronbach's Alpha cho thấy các thang đo đều đạt tiêu chuẩn về độ tin cậy.
  • Bảng 4.9 & Bảng 4.10: Kiểm định KMO và Bartlett’s trong phân tích EFA, ma trận xoay nhân tố khẳng định cấu trúc các biến độc lập.
  • Bảng 4.11 & Bảng 4.13: Tổng phương sai trích và hệ số Eigenvalues đều thỏa mãn điều kiện trích lọc nhân tố.
  • Bảng 4.12: Kiểm định KMO và Bartlett's phân tích EFA cho thang đo biến phụ thuộc Năng lực cạnh tranh.
  • Hình 4.3 & Hình 4.4: Kết quả phân tích nhân tố khẳng định CFA tới hạn (trang 125) và mô hình cấu trúc tuyến tính SEM (trang 126) khẳng định mô hình đạt độ tương thích cao với dữ liệu thực nghiệm.
  • Bảng 4.14: Trọng số hồi quy SEM chỉ rõ mức độ tác động mang ý nghĩa thống kê của các nhân tố (Năng lực quản trị, Nguồn nhân lực, Tài chính, Marketing, Logistics, Công nghệ, Giá cả, Sản phẩm, Quan hệ kinh doanh, Thương hiệu) đến Năng lực cạnh tranh.
  • Bảng 4.15: Kiểm định Bootstrap khẳng định các ước lượng trong mô hình có tính bền vững cao.
  • Bảng 4.16 & Bảng 4.17: Hệ số Durbin-Watson kiểm định tự tương quan và phân tích ANOVA kiểm định sự khác biệt năng lực cạnh tranh theo đặc tính doanh nghiệp (quy mô vốn, doanh số, thâm niên).
  • Hình 4.5, 4.6, 4.7: Các biểu đồ phần dư Normal P-P Plot, Histogram và Scatter Plot khẳng định các giả định hồi quy tuyến tính không bị vi phạm.

Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách

Chương 5 đúc kết kết quả nghiên cứu từ mô hình thực nghiệm, chỉ ra mức độ tác động của từng nhân tố đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xuất khẩu cá tra An Giang. Tác giả đề xuất hệ thống giải pháp chia làm hai nhóm:

  • Nhóm hàm ý quản trị: Nâng cao năng lực điều hành chiến lược; hiện đại hóa công nghệ chế biến sâu; đào tạo và ổn định nguồn nhân lực; quản trị dòng tiền và tái cơ cấu vốn; đầu tư hệ thống kho lạnh và tối ưu hóa quy trình logistics; chuyên nghiệp hóa phòng ban marketing và xây dựng thương hiệu quốc tế.
  • Nhóm hàm ý chính sách vĩ mô: Hoàn thiện hạ tầng giao thông và dịch vụ logistics tại ĐBSCL; thực thi hiệu quả Nghị định 36/2014/NĐ-CP về quy hoạch vùng nuôi và kiểm soát truy xuất nguồn gốc; các gói tín dụng ưu đãi từ hệ thống ngân hàng thương mại; hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua các rào cản kỹ thuật của thị trường nhập khẩu.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  1. Luận án đã tổng hợp và tích hợp thành công 4 trường phái lý thuyết lớn về năng lực cạnh tranh cấp độ doanh nghiệp: Tiếp cận dựa trên nguồn lực (Barney, 1991; Porter, 1980, 1988); Tiếp cận dựa trên định hướng thị trường (Kohli & Jaworski, 1990); Tiếp cận dựa trên năng lực của doanh nghiệp (Wernerfelt, 1984; Peteraf, 1993); và Tiếp cận từ chuỗi giá trị (Porter, 1985).
  2. Xây dựng và kiểm định thành công mô hình nghiên cứu gồm 10 nhân tố tác động đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản. Điểm mới nổi bật về mặt lý luận là tích hợp chính thức 02 nhân tố: Năng lực Logistics và Năng lực Marketing vào mô hình thực nghiệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp ngành cá tra.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  1. Phân tích toàn diện thực trạng sản xuất, chế biến và xuất khẩu cá tra của tỉnh An Giang giai đoạn 2008–2020 qua các chỉ số cụ thể: sản lượng xuất khẩu sụt giảm từ 271.238 tấn (2007) xuống 121.034 tấn (2020); tỷ trọng chi phí thức ăn chiếm khoảng 20.000 đồng/kg trên giá thành nuôi 27.000 đồng/kg; chi phí logistics chiếm khoảng 30% giá thành.
  2. Ứng dụng quy trình phân tích định lượng chặt chẽ kết hợp SPSS 22 và AMOS (Cronbach's Alpha, EFA, CFA, SEM, Bootstrap) để lượng hóa chính xác trọng số hồi quy và mức độ tác động của từng nhân tố đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản trên địa bàn.
  3. Đề xuất các hàm ý quản trị nội bộ doanh nghiệp và kiến nghị chính sách đối với UBND tỉnh An Giang, Sở Công thương, VASEP và các bộ ngành nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh ngành cá tra thời kỳ 2023–2035.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Dựa trên nội dung văn bản luận án, các hạn chế và hướng nghiên cứu mở rộng được ghi nhận bao gồm:

  • Hạn chế về phạm vi đối tượng sản phẩm: Mặc dù đề tài nghiên cứu về doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản, song do đặc thù 97% kim ngạch của An Giang tập trung vào cá tra, luận án chủ yếu khảo sát các doanh nghiệp xuất khẩu cá tra mà chưa bao quát đầy đủ các sản phẩm thủy sản nước ngọt khác.
  • Hạn chế về phạm vi không gian địa lý: Khảo sát thực nghiệm chỉ thực hiện trên địa bàn tỉnh An Giang, chưa mở rộng so sánh đối chứng với các địa phương xuất khẩu thủy sản lớn khác trong vùng đồng bằng sông Cửu Long (như Đồng Tháp, Cần Thơ, Cà Mau, Bến Tre).
  • Hạn chế về khung thời gian dữ liệu: Dữ liệu thứ cấp dừng lại ở năm 2020, là thời điểm ngành thủy sản chịu tác động bất thường từ dịch bệnh Covid-19 và biến động đứt gãy chuỗi cung ứng logistics toàn cầu.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Mở rộng mô hình nghiên cứu sang các nhóm mặt hàng thủy sản khác (tôm nước lợ, cá basa); mở rộng địa bàn khảo sát toàn vùng ĐBSCL; cập nhật chuỗi số liệu thứ cấp giai đoạn phục hồi sau năm 2022 để kiểm chứng độ ổn định của các tham số mô hình trong dài hạn.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn đối với nhiều nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên kinh tế: Tham khảo khung phân tích tích hợp 4 trường phái lý thuyết (RBV, Market Orientation, Firm Capability, Value Chain); tham khảo quy trình phân tích định lượng kết hợp EFA, CFA, SEM và kiểm định Bootstrap trên phần mềm SPSS và AMOS.
  • Lãnh đạo và nhà quản trị các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản: Tham khảo hệ thống thang đo đánh giá năng lực cạnh tranh nội bộ, đặc biệt là các giải pháp khắc phục điểm nghẽn về logistics, tối ưu chi phí thức ăn, nâng cấp công nghệ chế biến sâu và chuyên nghiệp hóa công tác marketing, liên kết chuỗi nuôi trồng.
  • Cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách (UBND tỉnh An Giang, Sở Công thương, Chi cục Thủy sản, VASEP): Sử dụng các số liệu thực chứng và hàm ý chính sách làm căn cứ quy hoạch vùng nuôi, điều tiết hạn ngạch và tiêu chuẩn kỹ thuật theo Nghị định 36/2014/NĐ-CP, đồng thời đầu tư hạ tầng logistics phục vụ ngành thủy sản xuất khẩu giai đoạn 2023–2035.

Câu hỏi thường gặp

1. Vì sao luận án nghiên cứu doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản nhưng lại tập trung trọng tâm vào cá tra?

Theo số liệu của Sở Công thương tỉnh An Giang (2020) và Cục Thống kê tỉnh An Giang (2016), xuất khẩu cá tra chiếm tới 97% tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản của toàn tỉnh An Giang (đóng góp 2,86% GDP tỉnh trong giai đoạn 2015–2020). Do đó, việc tập trung vào các doanh nghiệp xuất khẩu cá tra phản ánh chính xác bản chất và diện mạo của ngành xuất khẩu thủy sản tỉnh An Giang.

2. Mô hình nghiên cứu đề xuất của luận án bao gồm những nhân tố nào và dựa trên những lý thuyết nền nào?

Mô hình nghiên cứu đề xuất tích hợp 10 nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh, dựa trên 4 trường phái lý thuyết nền tảng:

  • Lý thuyết nguồn lực (RBV): Năng lực quản trị, Nguồn nhân lực, Năng lực tài chính.
  • Lý thuyết định hướng thị trường: Năng lực Marketing, Năng lực phát triển quan hệ kinh doanh, Năng lực thương hiệu.
  • Lý thuyết năng lực doanh nghiệp: Năng lực sản phẩm, Năng lực công nghệ, Năng lực giá cả.
  • Lý thuyết chuỗi giá trị: Năng lực Logistics.

3. Những con số thực tế nào phản ánh sự sụt giảm nghiêm trọng của ngành thủy sản An Giang được nêu trong luận án?

Theo số liệu Cục Thống kê An Giang, sản lượng xuất khẩu giảm mạnh từ 271.238 tấn (năm 2007) xuống 269.047 tấn (năm 2017) và rơi xuống mức thấp kỷ lục là 121.034 tấn vào năm 2020. Bên cạnh đó, giá thức ăn tăng 300–500 đồng/kg, thuốc thú y tăng 10%/năm trong giai đoạn 2019–2021; giá thành nuôi lên tới 27.000 đồng/kg trong khi chi phí thức ăn đã chiếm 20.000 đồng/kg.

4. Bất cập lớn nhất về chi phí logistics đối với doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản An Giang là gì?

Chi phí logistics của hàng hóa xuất khẩu Việt Nam chiếm khoảng 30% giá thành (theo Bùi Duy Linh, 2018), cao vượt trội so với mức 12–17% của các nước phát triển. Riêng tại An Giang, do thiếu cảng biển tiếp nhận tàu tải trọng lớn, doanh nghiệp phải trung chuyển bằng xe chuyên dụng lên TP.HCM mất nhiều thời gian, chi phí cao; hệ thống kho lạnh doanh nghiệp quy mô nhỏ chỉ đạt 2.000–3.000 tấn, không đáp ứng được đơn hàng lớn.

5. Phương pháp phân tích dữ liệu định lượng chính thức được tiến hành qua những kỹ thuật nào?

Dữ liệu khảo sát được phân tích qua hai phần mềm chuyên dụng:

  • Trên SPSS 22: Thống kê mô tả (Bảng 4.7), kiểm định độ tin cậy Cronbach's Alpha (Bảng 4.8), phân tích nhân tố khám phá EFA (Bảng 4.9 đến 4.13), kiểm định tự tương quan Durbin-Watson (Bảng 4.16) và phân tích ANOVA (Bảng 4.17).
  • Trên AMOS: Phân tích nhân tố khẳng định CFA (Hình 4.3), mô hình cấu trúc tuyến tính SEM (Hình 4.4, Bảng 4.14) để xác định trọng số tác động, và phân tích Bootstrap (Bảng 4.15) để kiểm định tính bền vững của mô hình.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Đoàn Quốc Bảo là công trình nghiên cứu kinh tế ứng dụng kết hợp phương pháp hỗn hợp, tập trung giải quyết bài toán nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu cá tra trên địa bàn tỉnh An Giang. Bằng việc tích hợp 4 trường phái lý thuyết nền tảng để xây dựng mô hình 10 nhân tố và kiểm định qua phần mềm SPSS 22 và AMOS, tác giả đã lượng hóa các mắt xích ảnh hưởng trọng yếu như quản trị, công nghệ, tài chính, marketing và đặc biệt là logistics. Hệ thống dữ liệu thực chứng giai đoạn 2008–2020 cùng các hàm ý quản trị, chính sách đề xuất cung cấp cơ sở khoa học thiết thực cho các doanh nghiệp và cơ quan quản lý trong việc tái cấu trúc chuỗi giá trị cá tra An Giang giai đoạn 2023–2035.