NGUYEN THỊ ci sương/ ÂN — dl = ee coCHETHUC HIEN ĐIỂU Ước Quoc TẾ VỀ QUYỀN CON NGƯỜI (Sách chuyên khảo) CO PHẾ THỰC HIEN DIEU UGC QUOC TẾ VỀ QUYEN CON NGƯỜI (Sách chuyên khảo) TS. NGUYEN THỊ KIM NGAN CO CHE THUC HIEN DIEU ƯỨt QUỐC TẾ VỀ QUYEN CON NGƯỜI (Sách chuyên khảo) F e e TRUNG TAM THONG TIN TH U VIỆN| TRƯỜNG ĐẠI HỌCLUẬT HÀ NOI PHONG MUON _2 4 4 1 Z _ NHÀ XUAT BẢN LAO DONG Hà Nội - 2018 LỜI MỬ ĐẦU Đại hội XI Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định “Quan tâm hơn nữa việc chăm lo hạnh phúc và sự phát triển tự do, toàn điện của con người, bảo vệ quyên và lợi ích hợp pháp của con người, tôn trọng và thực hiện các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam ky kết”, Dai hội XII Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục khẳng định chủ trương “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, là ban, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của công đông quốc tế,.; nâng cao vị thế, uy tin của đất nước và góp phan vào sự nghiệp hoà bình, độc lập, dân tộc, dân chủ và tiễn bộ xã hội trên thé giới"?. Với chủ trương đó, Việt Nam luôn mong muốn tăng cường đối thoại và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quyển con người trên cơ sở bình đẳng, xây dựng, tôn trọng và hiểu biết lẫn nhau. Việt Nam đã chủ động tham gia và trở thành thành viên của nhiều quyền con người.
Tham gia các di ước quốc tế về quyền con người là một chủ trương thường xuyên và nhất quán của Việt Nam, thé hiện cam kết cũng như quyết tâm của Việt Nam trong việc bảo đảm và thực "ping Cong sản Viết Nam (201), Vn kiến Đại hối đi bi toàn quốc lấn thử Nx. Chính trị quốc ga Hà Nội tr 239 ˆ Bảng Công sẵn Viết Nam (2016), Van kiến Đại hội đt bi tàn quốc lớn thứ, Nx. Chính tị quốc gia hà Nội tr 35 CƠCHẾ THỰC HIỆN DIEU UGC QUỐC TE VỀ QUYẾN CON NGƯỜI hiện các chuẩn mực pháp lý & quyền con người. Tham gia các điều ước quốc tế về quyền con người đòi hỏi Việt Nam phải giải quyết nhiều van đề khác nhau, trong đó có việc hoàn thiện cơ chế thực hiện điều ước quốc tế về quyền con người tại Việt Nam.
Với mong muốn đem đến những tri thức về cơ chế thực hiện điều ước quốc tế nói chung và điều ước quốc tế về quyên con ngudi nói riêng, tác giả trân trọng, giới thiệu cuốn sách “Cơ chế thực hiện điều ước quốc tế vé quyên con người”. Nội dung cuôn sách tập trung vào những van dé sau: Thứ nhất, một số vẫn đề lý luận về cơ chế thực hiện điều ước quốc tế về quyền con người; đặc biệt làm rõ những điểm tương đồng và khác biệt giữa cơ chế thực hiện điều ước quốc tế về quyền con người so với cơ chế thực hiện điều ước quốc tế trong các lĩnh vực khác. Thứ hai, pháp luật và thực tiễn vận hành cơ chế thực hiện điều ước quốc tế về quyển con người tại một số quốc gia trên thé giới; bai hoc kinh nghiệm đối với Việt Nam. Thứ ba, thực trạng cơ chế thực hiện điều ước quốc tế về quyền con người của Việt Nam; phương hướng và giải pháp hoàn thiện cơ chế thực hiện điều ước quốc tế về quyền con người tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Với những nội dung trên, hy vọng cuốn sách sẽ là tài liệu hữu ích đối với việc nghiên cứu, giảng dạy và hoạt động thực tiễn của bạn đọc. MỘT SO VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CO CHẾ THỰC HIỆN DIEU UGC QUỐC TẾ VỀ QUYỀN CON NGƯỜI 1. KHÁI NIỆM CƠ CHE THỰC HIỆN DIEU UGC QUOC TE VE QUYỀN CON NGƯỜI LLL. Điều ước quốc tế về quyền con người trong hệ thống pháp luật quốc tế Quyền con người được ghi nhận khá sớm trong pháp luật của các quốc gia.
Có nhiều học giả cho rằng quyền con người đã bắt đầu được dé cập trong một số đạo luật thời kỳ cỗ đại như Bộ luật Urukagina (khoảng năm 2350 trước công nguyên), Bộ luật Urnammu (khoảng năm 2050 trước công nguyên), Bộ luật Hammurabi (khoảng năm 1780 trước công nguyên)”. Sang đến các thời kỳ phát triển sau này, quyền con người tiếp tục được ghi nhận một cách rõ rang trong hiến pháp và pháp luật của các quốc gia như Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ năm 1776, Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp năm 1789. Đại học Quốc gia Hà Nội (20093), Gi rink luậ vỏ Phép luật về quyền cơn ngư, Nx. Chính trị quốc ga, Hà Nội tr.
57 CƠ CHẾ THỰC HIỆN DIEU UOC QUỐC TẾ VỀ QUYỀN CON NGƯỜI Mặc dù được ghỉ nhận khá sớm trong pháp luật quốc gia, quyền con người chỉ thực sự được tiếp cận dưới góc độ pháp luật quốc tế từ những năm đầu của thế kỷ XIX cùng với cuộc đấu tranh nhằm xóa bỏ chế độ nô lệ, cải thiện điều kiện sống cho người lao động và bảo vệ nạn nhân trong các cuộc xung đột vũ trang trên thê giới. Cùng, với sự ra đời của một số tổ chức quốc tế nhưTổ chức Chữ thập đỏ quốc tế năm 1863, Hội quốc liên và Tổ chức Lao động quốc tế năm 1919, quyền con người càng trở thành một vấn đề mang tính quốc tế rộng lớn. Lời nói đầu trong Điều lệ của Tổ chức Lao động quốc tế đã khẳng định: “Nền hòa bình lâu dài trên toàn thế giới chỉ có thé được. thiết lập nếu nó dựa trên công bằng xã hoi".
Tại Điều 23 Hiến chương của Hội quốc liên, các quốc gia thành viên tuyên bố: “Sẽ nỗ lực để bảo đảm, duy trì sự công bằng và các điều kiện nhân đạo về lao động cho nam giới, phụ nữ và trẻ em." cũng như “bảo đảm sự đối xử như vậy với những người bản xứ tại lãnh thổ thuộc quyền quản lý của quốc gia”. Khi Chiến tranh thế giới lần thứ II kết thúc, cộng đồng. quốc tế và các lực lượng tiến bộ đã cùng nhau ký kết Hiến chương thành lập nép Liên hợp quốc với mục dich “thie hiện sự hợp tác quốc té. trong việc khuyến khích phát * Constitution ofthe Intemational Labour Organisation Nguồn http://www ilo.org/olexengish/onstghtm The Covenant of the League ofNations.
Nguốn htt:/avaion law yale. NGUYEN THỊ KIM NGAN triên và sự tôn trọng nhân quyền và những quyên tự do cơ bản cho tắt cả mọi người, không phân biệt chủng tộc, nam, nữ, ngôn ngữ hoặc tôn giáo ". Ngoài việc xác định rõ mục. dich bảo vệ và phát triển quyền con người, Hiến chương, Liên hợp quốc còn xem xét các quyền và tự do cơ bản của con người theo nhiều góc độ và tương ứng với từng góc độ đó có các cơ chế khác nhau đẻ đảm bảo cho việc phát triển và bảo vệ quyền con người ở từng quốc gia.
Ngay sau đó, năm 1948, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thông qua Tuyên ngôn thé giới về nhân quyền mở ra một kỷ nguyên mới cho những cam kết và hành động quốc tế trong việc đảm bảo các quyền tự đo cơ bản của con người. Đó là lần đầu tiên, quyền con người được chính thức ghi nhận bằng, các quy định của pháp luật qué tế Kể từ khi Tuyên ngôn thé giới về nhân quyền được thông qua cho đến nay đã có nhiều điều ước quốc tế về quyền con người được ký kết. Da số các điều ước quốc tế này được ký kết trong khuôn khổ các tỗ chức quốc tế như Liên hợp quốc, các tổ chức quốc tế chuyên môn thuộc hệ thống Liên hợp quốc hoặc các tổ chức quốc tế khu vực. Dựa vào nội dung các quyển con người được đề cập, có thể chia các điều ước quốc tế này làm hai nhóm: ~ Nhóm điều ước quốc tế về quyền con người cơ bản: Đây là những điều ước quốc tế có nội dung dé cập đến các * (ác vn bản công phúp quấ tế và văn bản pháp luật Vit Nam có in quan, Ni.
Chính tr quốc gia, Ha Néi tr.9 CO CHE THỰC HIỆN DIEU Ước QUỐC TẾ VỀ QUYỀN CON NGƯỜI quyền co bản như quyền dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa của con người. Các điều ước quốc tế này có ý nghĩa vô cùng quan trọng bởi nó xác định cụ thể những chuẩn mực pháp lý quốc tế về các quyền cơ bản của con người. Trong số các điều ước quốc tế thuộc nhóm này có hai công ước quốc tế được ký kết năm 1966 là Công ước về quyền dân sự, chính trị và Công ước về quyền kinh tế, xã hội và văn hóa. Hai công ước được xây dựng trên cơ sở những nguyên tắc được ghi nhận trong Hiến chương Liên hợp quốc về việc công nhận phẩm giá vốn có và những quyền bình đẳng của mọi thành viên trong xã hội.
Hai công ước bao quát về cơ bản nội dung các quyên và tự do chủ yếu của con người đồng thời xác định nghĩa vụ cho các quốc gia thành viên phải thúc day sự tôn trọng và bao đảm mọi mặt các quyền và tự do trong lĩnh vực dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa của con người đã được quy định trong hai công ưới = Nhóm điều ước qu quyền con người chuyên biệt: Đây là những điều ước quốc tế ghỉ nhận các quyền của những đối tượng đặc thù trong xã hội, dễ bị ton thương và cần được bảo vệ đặc biệt như Công ước về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ năm 1979, Cong ước về quyền trẻ em năm 1989, Công ước về bảo vệ quyền của người lao động di cư và thành viên gia đình họ năm 1990, Công ước về quyển của người khuyết năm 2006. Nhóm này cũng bao gồm cả các điều ước quốc tế đề cập đến những biện pháp nhằm ngăn chặn những hành 10 TS. NGUYÊN THỊ KIM NGÂN vi đặc biệt nghiêm trọng xâm hại đến một số quyền cụ thể của con người như Công ước về ngăn ngừa và trừng trị tội diệt chủng năm 1948, Công ước chống tra tấn và các hình thức đối xử tàn bạo, vô nhân đạo hay hạ nhục khác năm. Giống như các điều ước quốc tế về quyền con người cơ bản, các điều ước quốc tế về quyền con người chuyên biệt cũng xây dựng các cơ chế nhằm giám sát thực hiện nghĩa vụ thành viên của các quốc gia trong việ bao đảm và thúc day các quyền con người đã được ghi nhận trong điều ước quốc tế.
_Ngoài căn cứ vào nội dung, việc phân loại điều ước quốc té về quyền con người còn có thể dựa trên phạm vi điều chỉnh của điều ước quốc tế.