Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động KH&CN và cơ chế quản lý chi NSNN cho hoạt động KH&CN 7 Chương 2: Thực trạng cơ chế quản lý chi NSNN cho hoạt động KH&CN ở Việt Nam Chương 3: Giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý chi NSNN cho hoạt động KH&CN ở Việt Nam 8. Tổng quan về tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án 8. Các nghiên cứu nước ngoài (1) Về nguồn kinh phí cho KH&CN Nghiên cứu của nhóm tác giả Walter W. Powell, Jason Owen-Smith and Jeannette A.
Colyvas (2007) [98], Đổi mới và mô hình mô phỏng: bài học từ việc các trường đại học ở Mỹ bán quyền tư trở thành kiến thức chung. Ở Mỹ, các trường đại học đã bắt tay vào những cách thức thương mại, trong khi đó ở Đại Tây Dương, Hội đồng châu Âu đã khuyến khích các trường đại học liên kết với công nghiệp. Theo Đạo luật châu Âu năm 1987, trong bối cảnh cạnh tranh căng thẳng về nền công nghiệp dựa chủ yếu vào KH&CN, rất nhiều chương trình đã được phát triển để khuyến khích mối liên hệ về mặt sản xuất giữa các trường đại học và các công ty. Trong vòng 10 năm trở lại đây, các trường đại học ở châu Âu đã được cho phép đa dạng hóa nguồn tài chính của họ.
Rất nhiều những sáng kiến đang được tiến hành ở châu Âu và Mỹ để tăng cường phát triển kinh tế và tăng doanh thu, bao gồm những khu công viên công nghệ, những nguồn vốn dự án, những tổ chức trung gian hỗ trợ chuyển giao công nghệ, những công ty mới, những cải cách về mặt pháp lý. Kết quả của nghiên cứu cho thấy, việc xây dựng một cơ chế tài chính phù hợp giữa các đơn vị nghiên cứu và đơn vị ứng dụng sẽ có sự hỗ trợ và tác động lẫn nhau trong hoạt động nghiên cứu KH&CN. Nghiên cứu của tác giả Alfred Le Peng Cheng (2012) [84], Cơ chế quản lý tài chính đối với KH&CN: Nghiên cứu tình huống tại Đài Loan. Trong nghiên cứu của mình tác giả tiến hành nghiên cứu cơ chế tài chính cho khoa học công nghệ được minh họa thực tiễn tại Đài Loan theo cấu trúc đi từ nguồn tài chính cho hoạt động KH&CN.
Tác giả cho rằng cũng giống như tất cả các nước trên thế giới, có 3 nguồn đầu tư cho KH&CN là: NSNN, khu vực tư nhân (các doanh nghiệp và cá 8 nhân); các tổ chức quốc tế và tổ chức nước ngoài. Đối với các nước đang phát triển, nguồn kinh phí đầu tư cho KH&CN chủ yếu là từ NSNN chiếm đến 70%, nguồn vốn, từ khu vực tư nhân chiếm khoảng 27%; phần vốn từ các tổ chức nước ngoài chiếm một tỷ lệ tương đối nhỏ. Về đối tượng sử dụng nguồn kinh phí từ NSNN, Đài Loan cũng có sự tương đồng với các nước khác trên thế giới: Phần lớn các nước đều cấp kinh phí phát triển khoa học công nghệ cho các trường đại học, các viện nghiên cứu khoa học, các bộ, ngành thuộc chính phủ. Tuy nhiên, ngoài những đối tượng trên thì bất kỳ một tổ chức hoặc cá nhân nào trình và thuyết minh được sự cần thiết của dự án nghiên cứu cho Cơ quan khoa học quốc gia đều được cấp kinh phí để thực hiện.
Nghiên cứu của tác giả Charly.J (2012) [86], Xây dựng cơ chế để chia sẻ dữ liệu khoa học quốc tế. Tác giả đề xuất, ngoài việc đầu tư của các chính phủ, nên thu hút từ các doanh nghiệp, bởi các doanh nghiệp chính là người cần và hưởng lợi rất lớn từ việc chia sẻ dữ liệu khoa học. Đây là một mô hình được vận hành không chỉ với một cơ chế tài chính khá linh hoạt mà còn đem lại hiệu quả rất lớn trong việc chuyển giao và tiếp nhận các dữ liệu khoa học cho các doanh nghiệp nói riêng và mỗi quốc gia nói chung. Nghiên cứu của Sandhya, G.
D (2018) [94], India’s Science, Technology and Innovation Policy: Choices for Course Correction with Lessons Learned from China. Nghiên cứu chỉ ra rằng, chi tiêu cho R&D của Ấn Độ đã tăng lên từ mức 0,75% GDP năm 1990 lên 0,88% năm 2012 (một mức tăng chậm). Nguồn tài chính chính cho R&D vẫn chủ yếu là từ khu vực công với khoảng 54,4% từ Chính phủ trung ương, 7,3% từ chính quyền liên bang, khu vực tư nhân đóng góp khoảng 28,9%. Ấn Độ đặt ra mục tiêu nâng tỷ trọng đầu tư cho KH&CN từ khu vực tư nhân.
Để thực hiện được kế hoạch này, Chính phủ Ấn Độ thúc đẩy khu vực tư nhân đầu tư vào phát triển KH&CN đặc biệt là cho đổi mới sáng tạo. Nghiên cứu chi ra rằng, chính sách của Ấn Độ tập trung vào các nghiên cứu cơ bản, mũi nhọn như: Công nghệ thông tin, điện tử, thiết bị y tế, công nghệ sinh học, công nghệ vũ trụ, nano. 9 Tổ chức Hợp tác & Phát triển kinh tế (OECD, 2019) [92] trong Báo cáo về Phát triển Khoa học và Sáng tạo trong kỷ nguyên số (“Fostering Science and Innovation in the Digital Age”) đã đưa ra các đề xuất về chính sách để xem xét nhằm phát triển khoa học và sáng tạo trong bối cảnh kỷ nguyên số gồm: phát triển kỹ năng về số hóa; đảm bảo hệ thống hạ tầng để thực thi; cam kết hỗ trợ các nghiên cứu KH&CN trong khu vực công; có sự chia sẻ giữa nhà nước và tư nhân qua phương thức Hợp tác công tư PPP trong các lĩnh vực phát triển công nghệ. (2) Về cơ chế tài chính cho KH&CN Nghiên cứu của tác giả Charly.J (2012) [86], Xây dựng cơ chế để chia sẻ dữ liệu khoa học quốc tế.
Trong nghiên cứu của mình tác giả tiến hành nghiên cứu cơ chế tài chính cho khoa học công nghệ được minh họa thực tiễn tại Đài Loan theo cấu trúc đi từ nguồn tài chính cho hoạt động KH&CN, đến cách thức phân bổ nguồn vốn (chủ yếu là vốn NSNN), cách thức kiểm soát chi nguồn vốn đầu tư cho KH&CN. Về cách thức phân bổ nguồn vốn, tại Đài Loan đang thực hiện áp dụng hai hình thức phân bổ theo đầu vào và phương thức phân bổ theo đầu ra, kết quả của nghiên cứu. Tuy nhiên, xu hướng đang nghiêng về áp dung phương thức thứ 2. Việc kiểm soát chi được thực hiện tương ứng theo hai phương pháp phân bổ, đối với cách thức phân bổ theo đầu vào việc kiểm soát tập trung xem khoản chi đó có đúng mục lục đầu vào được chi đúng định mức không, đúng tiêu chuẩn, đúng thẩm quyền không? Và có chứng cứ chứng minh tính trung thực của khoản chi không? Ở hệ thống quản lý ngân sách theo kết quả đầu ra cần kiểm soát xem khoản chi đó có đạt các kết quả đầu ra theo cam kết hoặc theo yêu cầu không, có bị sử dụng cho mục đích khác hay có tham nhũng không? Tuy nhiên, nghiên cứu chưa thực sự đánh giá được ưu thế và những tồn tại đối với các hình thức phân bổ và kiểm soát mà mới chỉ dừng lại dưới góc độ mô tả và nhận xét.
Trong nghiên cứu của mình tác giả cũng đề xuất thành lập quỹ ủy thác phi lợi nhuận. Quỹ này được hoạt động với cơ chế tài chính đóng góp của các quốc gia với tư cách là các nước thành viên. Phần quỹ này được sử dụng để xây dựng cơ sở 10 hạ tầng phục vụ cho mục tiêu lưu trữ và chia sẻ dữ liệu khoa học. Đồng thời quỹ này sẽ được sử dụng một phần dành cho các nhà khoa học nghiên cứu và xây dựng cơ sở dữ liệu.
(3) Về đánh giá hiệu quả đầu tư cho KH&CN. Nghiên cứu của tác giả Terry F. Young (2013) [93], Đánh giá hiệu quả nghiên cứu tại cơ quan bảo vệ môi trường Mỹ. Nghiên cứu cho biết, Chính phủ liên bang liên tục tìm kiếm các công cụ hiệu quả hơn để đánh giá hiệu quả của các chương trình nghiên cứu và phát triển (R&D) khoa học công nghệ để đảm bảo rằng các nguồn lực đang được sử dụng hiệu quả, các cơ chế tài chính hiện tại đáp ứng được mục tiêu thúc đẩy và khuyến khích hoạt động KH&CN.
Từ kết quả nghiên cứu tác giả cho rằng để vận hành hiệu quả một cơ chế tài chính cho hoạt động nghiên cứu KH&CN nhất thiết phải xây dựng được hệ thống các tiêu chí đánh giá cũng như bộ công cụ đánh giá hiệu quả của các nghiên cứu khoa học. Từ đó làm căn cứ cho việc huy động nguồn vốn đầu tư cho nghiên cứu phát triển khoa học công nghệ, cũng như phương án xây dựng cơ chế chi cho hoạt động này đảm bảo tính hiệu quả nhất. Nghiên cứu đã đưa ra một số ví dụ, Quốc hội đã thông qua Đạo luật về Kết quả của Chính phủ, Văn phòng Quản lý và Ngân sách (OMB) đã thiết kế Công cụ Đánh giá Chương trình (PART). Gần đây nhất, Cơ quan Bảo vệ Môi trường (EPA) đã hỏi Viện Hàn lâm Quốc gia nghiên cứu phát triển các công cụ đánh giá tốt hơn để tuân thủ PART, với sự nhấn mạnh về hiệu quả.
Kết quả là, một ủy ban chuyên gia đã được chỉ định để đánh giá cách EPA và các cơ quan khác đang cố gắng tuân thủ các biện pháp hiệu quả của PART. Ủy ban đã khám phá các câu hỏi sau đây: (i) Các biện pháp hiệu quả nào hiện đang được sử dụng cho các chương trình R&D của EPA và các chương trình R & D khác do liên bang tài trợ? (ii) Các biện pháp hiệu quả này có đủ không? Họ dựa trên kết quả nào? (iii) Những nguyên tắc nào nên hướng dẫn phát triển các biện pháp hiệu quả cho các chương trình R&D được liên bang tài trợ? (iv)Các biện pháp hiệu quả nào nên được sử dụng cho các chương trình R&D cơ bản và áp dụng của EPA? 11 Khung đánh giá chính sách phát triển khoa học công nghệ của tổ chức UNCTA (2011) [95]. Trong vài năm qua UNCTA đã có nhu cầu gia tăng từ các nước thành viên về tư vấn chiến lược về STI chính sách, phản ánh một nhận thức mới về vai trò quan trọng của công nghệ và đổi mới trong quá trình phát triển. Báo cáo của UNCTA cho rằng phát triển kinh tế về cơ bản liên quan đến một quá trình chuyển đổi cấu trúc trong đó học công nghệ và đổi mới là một phần không thể thiếu.
Nếu không có chúng, cơ sở chuyên nghiệp của một quốc gia không thể được mở rộng hoặc đa dạng hóa, cơ hội hưởng lợi từ thương mại quốc tế và đầu tư bị bỏ qua và tiềm năng tăng trưởng trong sử dụng lao động bị mất. Đổi mới có thể xuất phát từ dựa trên tiến bộ khoa học công nghệ, hoặc từ việc mua lại, thích ứng và khuếch tán công nghệ hiện có.