Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ kinh tế chuyên ngành Tài chính công (Học viện Tài chính) với đề tài "Cơ chế quản lý chi ngân sách nhà nước cho hoạt động khoa học và công nghệ ở Việt Nam" được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS, TS Đinh Văn Nhã. Nghiên cứu tập trung giải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn trong công tác quản lý tài chính công đối với lĩnh vực khoa học và công nghệ (KH&CN) trong bối cảnh phát triển kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế.

Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước coi KH&CN là quốc sách hàng đầu, là động lực phát triển kinh tế - xã hội. Quan điểm này được khẳng định xuyên suốt qua Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 khóa VIII (1996), Văn kiện Đại hội X, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khóa XI (2012), Đại hội XII và Đại hội XIII. Về mặt lập pháp, Luật KH&CN năm 2013 được Quốc hội khóa XIII thông qua đã tạo nền tảng thể chế quan trọng. Tuy vậy, tác giả chỉ ra rằng các thay đổi chính sách thời gian qua chủ yếu dừng ở mức độ "tháo gỡ" vướng mắc mang tính chuyển đổi mà chưa tạo ra xung lực đủ mạnh để thúc đẩy hoạt động KH&CN phát triển. Dù nguồn lực ngân sách nhà nước (NSNN) bố trí cho KH&CN tăng lên, cơ chế quản lý chi NSNN hiện hành vẫn bộc lộ nhiều bất cập, làm suy giảm hiệu quả sử dụng nguồn vốn công.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định bao gồm: các công trình trước đây chủ yếu xem xét đánh giá hiệu quả đầu ra hoặc nghiên cứu cơ chế tài chính nói chung một cách đơn lẻ, thiếu sự hệ thống hóa toàn diện cơ chế quản lý chi NSNN theo chu trình ngân sách gắn liền với các phương thức quản lý chi đặc thù (nhiệm vụ theo cấp, phương thức khoán chi và cơ chế Quỹ).

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là: trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất hệ thống các giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý chi NSNN cho hoạt động KH&CN ở Việt Nam.

Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án được xác định cụ thể gồm ba nội dung:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về hoạt động KH&CN, cơ chế quản lý tài chính và cơ chế quản lý chi NSNN cho hoạt động KH&CN.
  2. Phân tích, đánh giá thực trạng cơ chế quản lý chi NSNN cho hoạt động KH&CN ở Việt Nam theo quy trình ngân sách (lập, phân bổ, thực hiện, quyết toán, thanh tra kiểm tra) và theo các phương thức chi (khoán chi, cơ chế Quỹ, phân cấp nhiệm vụ), từ đó chỉ rõ kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân.
  3. Đề xuất quan điểm, mục tiêu và hệ thống giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý chi NSNN cho hoạt động KH&CN trên cơ sở bám sát chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và tham khảo kinh nghiệm quốc tế.

Để giải quyết ba nhiệm vụ trên, luận án đặt ra ba câu hỏi nghiên cứu:

  • Thứ nhất: Đặc điểm, vai trò của hoạt động KH&CN trong nền kinh tế - xã hội là gì và thực trạng chi NSNN cho hoạt động KH&CN ở Việt Nam thời gian qua diễn ra như thế nào?
  • Thứ hai: Bản chất của cơ chế quản lý chi NSNN cho hoạt động KH&CN là gì; thực trạng cơ chế này tại Việt Nam đã đạt được những kết quả nào, còn tồn tại hạn chế gì và nguyên nhân do đâu?
  • Thứ ba: Những giải pháp và kiến nghị cụ thể nào cần được thực hiện để hoàn thiện cơ chế quản lý chi NSNN cho hoạt động KH&CN ở Việt Nam?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động KH&CN cùng cơ chế quản lý chi NSNN cho hoạt động KH&CN.
  • Phạm vi không gian: Nghiên cứu cơ chế quản lý chi NSNN cho hoạt động KH&CN tại Việt Nam, bao quát chu trình ngân sách và ba phương thức quản lý chi chủ yếu: quản lý chi thực hiện nhiệm vụ các cấp (cấp đặc biệt, cấp quốc gia, cấp bộ/tỉnh, cấp cơ sở), phương thức khoán chi và cơ chế quản lý thông qua Quỹ KH&CN.
  • Phạm vi thời gian: Luận án phân tích số liệu chi NSNN giai đoạn 2017–2022, thu thập mở rộng từ năm 2016 nhằm bảo đảm tính liên tục và cập nhật bổ sung đến năm 2023; các chuỗi số liệu lịch sử phục vụ phân tích so sánh được trình bày tại phụ lục. Các giải pháp được định hình cho giai đoạn thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2021–2030 và Kế hoạch 2021–2025.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan trực tiếp đến đề tài, chia thành các nhóm nội dung:

Các nghiên cứu quốc tế

  • Về nguồn kinh phí và thương mại hóa KH&CN: Walter W. Powell, Jason Owen-Smith và Jeannette A. Colyvas (2007) phân tích bài học từ các trường đại học Mỹ và châu Âu theo Đạo luật châu Âu 1987, chỉ ra hiệu quả của việc đa dạng hóa nguồn tài chính và liên kết giữa đơn vị nghiên cứu với khu vực công nghiệp. Alfred Le Peng Cheng (2012) nghiên cứu trường hợp Đài Loan, khẳng định ở các nước đang phát triển, NSNN chiếm đến 70% tổng nguồn kinh phí cho KH&CN, khu vực tư nhân chiếm 27%, còn lại là tổ chức quốc tế. Charly.J (2012) đề xuất cơ chế thu hút tài chính từ doanh nghiệp và mô hình quỹ ủy thác phi lợi nhuận để lưu trữ, chia sẻ dữ liệu khoa học. Sandhya, G. D (2018) phân tích chính sách STI của Ấn Độ, ghi nhận chi tiêu R&D của nước này tăng từ 0,75% GDP (năm 1990) lên 0,88% GDP (năm 2012), trong đó khu vực công chiếm 61,7% (54,4% từ chính phủ trung ương, 7,3% từ liên bang), còn khu vực tư nhân đóng góp 28,9%. Báo cáo của OECD (2019) khuyến nghị chính sách kỷ nguyên số thông qua hợp tác công tư (PPP) và cam kết hỗ trợ nghiên cứu công lập.
  • Về cơ chế phân bổ và kiểm soát chi: Alfred Le Peng Cheng (2012) và Charly.J (2012) mô tả hai phương thức phân bổ ngân sách: theo đầu vào (kiểm soát định mức, chứng từ) và theo kết quả đầu ra (kiểm soát cam kết sản phẩm, chống lãng phí).
  • Về đánh giá hiệu quả đầu tư công cho KH&CN: Terry F. Young (2013) nghiên cứu cơ chế đánh giá hiệu quả của Cơ quan Bảo vệ Môi trường Mỹ (EPA) theo công cụ PART của OMB. Báo cáo của UNCTAD (2011) giới thiệu khung tiêu chuẩn đánh giá chính sách STI. Amir Piric và Neville Reeve (2015) nghiên cứu thực nghiệm tại New Zealand, đề xuất sử dụng chỉ tiêu tài chính để thẩm định và nghiệm thu kết quả nghiên cứu. George Papaconstantinou và Wolfgang Polt (2016) đánh giá chính sách tài chính cho đổi mới KH&CN trong nông nghiệp tại Thái Lan.

Các nghiên cứu trong nước

  • Về vai trò và bức tranh chi tiêu công cho KH&CN: Báo cáo của Viện Nghiên cứu lập pháp (2013) và Bộ KH&CN (2019) nhấn mạnh vai trò động lực của KH&CN nhưng chỉ ra điểm nghẽn về nguồn lực và hiệu quả phân bổ. Báo cáo của World Bank (2017) ghi nhận NSNN chi cho KH&CN tại Việt Nam cơ bản giữ mức 2% tổng chi NSNN và chiếm 56% tổng chi cho R&D, tuy nhiên gặp khó khăn trong giải ngân vốn đầu tư và thiếu cơ chế theo dõi phân bổ thống nhất. Đạt Khang (2015) chỉ ra nghịch lý "đề tài đợi tiền, tiền đợi đề tài" và tình trạng ngân sách tồn đọng tại Kho bạc (có thời điểm lên đến 400 tỷ đồng).
  • Về cơ sở pháp lý và cơ chế quản lý tài chính: Liêu Thị Ngọc Sương (2013) nghiên cứu chế độ khoán kinh phí và sự bất cập của các định mức chi; Minh Tiến (2007) phân tích cơ chế tự chủ theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP và Nghị định 80/2007/NĐ-CP; Nguyễn Võ Hưng (2005) khảo sát doanh nghiệp vừa và nhỏ, nhận định chính sách ưu đãi thuế chưa đủ phát huy tác dụng. Hồ Thị Hải Yến (2008) làm rõ cơ chế tài chính KH&CN trong các trường đại học; Ngô Thế Chi phân tích quỹ phát triển KH&CN tại doanh nghiệp; Bùi Tiến Dũng (2016) phản ánh tình trạng định mức chi cứng nhắc và thủ tục chứng từ nặng nề; Trần Thị Thu Hà (2016) đề xuất đổi mới phân bổ và trả lương cho nhà khoa học; Lê Thị Thùy Vân và cs (2020) đề xuất chính sách tài chính đến 2030.
  • Về thực trạng chuyển đổi và phân bổ: Nguyễn Lan Anh (2005) phân tích tổ chức KH&CN sự nghiệp có thu; Đỗ Nam (2011) khảo sát thực tế tại Đà Nẵng, Bến Tre, An Giang, Thừa Thiên Huế; Lê Đình Tiến (2011) nghiên cứu khối khoa học xã hội; Trần Ngọc Hiên (2012) đề xuất chuyển từ "làm rồi mới biết" sang "biết rồi mới làm"; Phạm Quang Trí (2013) tổng kết các mô hình chuyển giao công nghệ nông nghiệp (TOT, ATT, FSR, FPR); Lê Trần Bình (2008) nêu tình trạng nhà khoa học phải "chạy chứng từ" và đề xuất nguyên tắc "chặt chẽ theo hạng mục, linh động trong chi tiết"; Nguyễn Văn Hiệu (2012) bàn về chuyển đổi sang doanh nghiệp KH&CN; Nguyễn Trường Giang (2012) chỉ ra việc phân bổ kinh phí nhiệm vụ cấp nhà nước do Bộ KH&CN quản lý tập trung chiếm tới 77%; Nguyễn Hồng Sơn và cs (2012) phân tích các hạn chế của cơ chế tài chính hiện hành.

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết

  1. Các công trình trước đây chưa đi sâu hệ thống hóa các phương thức hoạt động và tổ chức hoạt động KH&CN làm cơ sở nghiên cứu chuyên biệt cho cơ chế quản lý chi NSNN.
  2. Các nghiên cứu hiện có thường tiếp cận cơ chế tài chính nói chung hoặc chỉ phân tích một khía cạnh riêng lẻ, chưa làm rõ ranh giới học thuật giữa "cơ chế tài chính" và "cơ chế quản lý tài chính", đồng thời chưa phân tích chuyên sâu cơ chế quản lý chi NSNN theo từng nhóm đối tượng, từng cấp nhiệm vụ cụ thể.
  3. Hệ thống giải pháp ở các công trình trước phần lớn mang tính tổng quát, mang tính "đoạn" nhằm xử lý sự vụ phát sinh mà thiếu các giải pháp nghiệp vụ chi tiết gắn liền với chu trình ngân sách, thiếu thiết kế cụ thể về quy chế vận hành cơ chế Quỹ và thiếu lộ trình thực thi dài hạn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khái niệm

  • Khoa học và công nghệ: Luận án phân biệt tri thức kinh nghiệm (tích lũy qua đời sống thường nhật) và tri thức khoa học (hệ thống hóa qua nghiên cứu có phương pháp). Theo Luật KH&CN năm 2013, khoa học là hệ thống tri thức về quy luật tự nhiên, xã hội và tư duy. Công nghệ bao gồm 4 thành phần cơ bản: vật chất (phần cứng/thiết bị), thông tin, con người và thể chế (phần mềm). Hoạt động KH&CN bao gồm: nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, phát triển công nghệ (triển khai thực nghiệm, sản xuất thử nghiệm) và dịch vụ KH&CN.
  • Cơ chế quản lý chi NSNN: Luận án phân định rõ: "cơ chế tài chính" phản ánh bản chất quan hệ phân phối nguồn lực, còn "cơ chế quản lý tài chính/quản lý chi NSNN" là tổng thể các phương thức, công cụ, quy tắc và quy trình mà Nhà nước sử dụng để lập kế hoạch, phân bổ, xuất quỹ, thanh quyết toán và giám sát việc sử dụng nguồn lực ngân sách. Luận án mô hình hóa sự vận động nguồn tài chính qua mô hình hai nhân tố và ba nhân tố.
  • Đặc điểm của hoạt động KH&CN:
    1. Là lao động trí óc mang tính sáng tạo cao.
    2. Có độ rủi ro cao, không thể xác định chắc chắn trước tiến trình và kết quả. Tỷ lệ thành công biến thiên tùy thuộc vào loại hình nghiên cứu theo số liệu thống kê của UNESCO:
Loại hình hoạt động KH&CN Tỷ lệ thành công trung bình (%)
Nghiên cứu cấu thành tâm lý 20%
Nghiên cứu cơ bản 25%
Nghiên cứu ứng dụng 40%
Nghiên cứu triển khai thực nghiệm 60%
Cải tiến, cải tạo kỹ thuật công trình 90%
  1. Có tính kế thừa và tích lũy tri thức.
  2. Gắn liền hữu cơ với nhu cầu đào tạo nhân lực và thực tiễn sản xuất.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp các nhóm phương pháp nghiên cứu phổ biến:

  • Phương pháp nghiên cứu chung: Phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; phương pháp thu thập số liệu; phương pháp nghiên cứu định tính (phân tích thể chế, đánh giá chính sách, định dạng bản chất quan hệ quản lý); phương pháp nghiên cứu định lượng (tổng hợp, xử lý chuỗi số liệu tài chính công).
  • Phương pháp lý thuyết: Phân tích và tổng hợp lý thuyết; quy nạp và diễn giải; phân loại và hệ thống hóa văn bản pháp quy; phương pháp lịch sử phân tích sự biến đổi của cơ chế qua các giai đoạn.
  • Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Phương pháp phân tích tổng kết kinh nghiệm (nghiên cứu thực tiễn trong nước và quốc tế); phương pháp chuyên gia (tham vấn ý kiến các nhà quản lý, nhà khoa học về nguyên nhân bất cập và giải pháp).

Nguồn tư liệu và dữ liệu

Dữ liệu sử dụng trong luận án là nguồn dữ liệu thứ cấp chính thức từ:

  • Báo cáo số liệu quyết toán và dự toán của Bộ Tài chính.
  • Báo cáo định kỳ và chuyên đề của Bộ Khoa học và Công nghệ (và Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường trước đây).
  • Văn bản pháp quy của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ ngành liên quan.
  • Dữ liệu thống kê từ các tổ chức quốc tế (OECD, UNESCO, World Bank) và các công trình khoa học đã công bố.

Nội dung chính theo từng chương

CHƯƠNG 1: Cơ sở lý luận về khoa học, công nghệ và cơ chế quản lý chi NSNN cho hoạt động khoa học và công nghệ

Chương 1 hệ thống hóa toàn diện các vấn đề lý luận nền tảng:

  • Khái niệm và đặc điểm hoạt động KH&CN: Phân tích bản chất của lao động khoa học, làm rõ 4 đặc điểm cốt lõi (tính sáng tạo, tính rủi ro, tính kế thừa, gắn với đào tạo - sản xuất). Khẳng định vai trò của KH&CN trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu ngành theo hướng nâng cao tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, gia tăng năng suất lao động tổng hợp.
  • Nội dung và phân loại chi NSNN cho KH&CN: Chi NSNN bao gồm chi đầu tư phát triển (xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, phòng thí nghiệm, mua sắm trang thiết bị lớn) và chi thường xuyên (kinh phí thực hiện nhiệm vụ KH&CN, chi duy trì bộ máy các tổ chức KH&CN công lập).
  • Bản chất cơ chế quản lý chi NSNN: Luận giải các nguyên tắc quản lý chi, phân tích cấu trúc quản lý theo chu trình ngân sách (lập dự toán - phân bổ - chấp hành - quyết toán - kiểm tra, kiểm toán) và theo các phương thức chi (cấp phát theo dự toán mục lục ngân sách, phương thức khoán chi và phương thức ủy thác quản lý thông qua mô hình Quỹ). Phân tích các yếu tố khách quan (trình độ kinh tế, thể chế pháp lý, hội nhập quốc tế) và chủ quan (nhận thức quản lý, năng lực bộ máy, sự phối hợp liên bộ) tác động đến cơ chế quản lý chi.
  • Kinh nghiệm quốc tế:
    • Khối OECD: Áp dụng cơ chế tài trợ theo kết quả đầu ra, kết hợp tài trợ trọn gói (block funding) cho các viện nghiên cứu với tài trợ cạnh tranh dựa trên đánh giá đồng đẳng (peer review).
    • Hàn Quốc: Phát triển hệ thống các Viện nghiên cứu do chính phủ tài trợ (GRI), quản lý chi dựa trên hợp đồng nghiên cứu theo dự án (Project Based System - PBS).
    • Trung Quốc: Cải cách phân định rõ giữa nghiên cứu cơ bản (ngân sách tài trợ thông qua Quỹ Khoa học Tự nhiên Quốc gia) và nghiên cứu ứng dụng (buộc các viện chuyển sang tự chủ, thương mại hóa theo cơ chế thị trường).
  • Bài học cho Việt Nam: Cần chuyển dần từ kiểm soát đầu vào sang kiểm soát đầu ra; tăng cường tính tự chủ tài chính gắn với trách nhiệm giải trình; vận hành linh hoạt mô hình Quỹ; áp dụng cơ chế khoán chi đến sản phẩm cuối cùng.

CHƯƠNG 2: Thực trạng cơ chế quản lý chi NSNN cho hoạt động khoa học và công nghệ ở Việt Nam

Chương 2 tập trung phân tích thực trạng giai đoạn 2016–2022 (cập nhật 2023) qua các mặt:

  • Tổ chức và phân cấp nhiệm vụ KH&CN: Hệ thống tổ chức KH&CN công lập bao gồm các viện nghiên cứu trực thuộc viện hàn lâm, các bộ ngành và trường đại học. Nhiệm vụ KH&CN phân thành 4 cấp: cấp đặc biệt, cấp quốc gia, cấp bộ/tỉnh và cấp cơ sở.
  • Quy mô và cơ cấu chi NSNN: Phân tích số liệu thực tế qua các bảng biểu (Bảng 2.1: Chi NSNN cho KH&CN giai đoạn 2016–2020; Bảng 2.2: Giai đoạn 2021–2022; Biểu 2.1: Chi thường xuyên 2016–2022). Tỷ lệ bố trí ngân sách hàng năm về danh nghĩa đạt xấp xỉ 2% tổng chi NSNN, nhưng giải ngân thực tế cho các nhiệm vụ KH&CN còn thấp, cơ cấu chi chưa hợp lý giữa chi đầu tư và chi thường xuyên.
  • Thực trạng cơ chế quản lý theo chu trình ngân sách:
    • Khâu lập và giao dự toán: Quy trình phức tạp, việc tổng hợp dự toán chi KH&CN có sự tách rời giữa Bộ KH&CN (quản lý chuyên môn) và Bộ Tài chính (quản lý cân đối ngân sách).
    • Khâu chấp hành và thanh toán: Quy trình tạm ứng, kiểm soát chi qua Kho bạc Nhà nước còn nặng về thủ tục hóa đơn chứng từ, chưa phù hợp với tính chất nghiên cứu khoa học.
    • Khâu quyết toán: Phức tạp, mất nhiều thời gian, thủ tục thanh quyết toán kéo dài khiến nhà khoa học phải dành nhiều thời gian xử lý chứng từ tài chính.
  • Thực trạng theo các phương thức quản lý chi:
    • Nhiệm vụ KH&CN cấp quốc gia: Số liệu Bảng 2.3 và 2.4 phản ánh việc phân bổ kinh phí cấp quốc gia giai đoạn 2016–2022 giữa các bộ ngành trung ương còn phân tán, dàn trải, thủ tục phê duyệt kéo dài qua nhiều cấp hội đồng.
    • Phương thức khoán chi: Triển khai theo hai hình thức: khoán từng phần và khoán đến sản phẩm cuối cùng. Trên thực tế, khoán đến sản phẩm cuối cùng áp dụng rất hạn chế do tâm lý e ngại rủi ro và các ràng buộc về chứng từ thanh toán.
    • Cơ chế Quỹ: Phân tích hoạt động của Quỹ Nafosted và Quỹ Natif. Vốn điều lệ cấp cho các Quỹ giai đoạn 2014–2022 (Bảng 2.5) và tình hình sử dụng kinh phí (Bảng 2.6, 2.7) cho thấy Quỹ Nafosted hoạt động hiệu quả trong tài trợ nghiên cứu cơ bản, song Quỹ Natif gặp vướng mắc lớn về quy chế giải ngân và cho vay/hỗ trợ đổi mới công nghệ do xung đột pháp lý giữa Luật NSNN, Luật KH&CN và Luật Đầu tư công. Các quỹ KH&CN cấp tỉnh phần lớn thiếu vốn, hoạt động hình thức.
  • Công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát: Nặng về tiền kiểm (soát xét tính hợp lệ của hóa đơn, chứng từ mục lục chi), thiếu vắng cơ chế hậu kiểm độc lập đánh giá chất lượng và tác động thực tế của kết quả nghiên cứu.
  • Đánh giá chung:
    • Kết quả đạt được: Đã hình thành hành lang pháp lý tương đối hoàn chỉnh; đổi mới quy trình lập dự toán; tăng quyền chủ động cho tổ chức chủ trì; bắt đầu áp dụng cơ chế khoán và tự động chuyển nguồn kinh phí nghiên cứu sang năm sau.
    • Hạn chế: Nguồn lực tài chính còn hạn chế và dàn trải; cơ chế lập và giao dự toán chậm (nghịch lý đề tài đợi tiền); hiệu quả ứng dụng kết quả thấp; cơ chế Quỹ chưa giải phóng được nguồn lực do vướng mắc thể chế; thanh tra kiểm tra còn mang tính hành chính cơ học.
    • Nguyên nhân: Nhận thức về tính đặc thù của KH&CN chưa đầy đủ; thiếu sự thống nhất, đồng bộ giữa Luật NSNN, Luật KH&CN, Luật Đấu thầu, Luật Xây dựng; năng lực quản lý tài chính tại các tổ chức KH&CN còn yếu; cơ chế phối hợp giữa Bộ KH&CN và Bộ Tài chính còn nhiều điểm nghẽn.

CHƯƠNG 3: Giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý chi NSNN cho hoạt động khoa học và công nghệ ở Việt Nam

Chương 3 xây dựng hệ thống giải pháp gắn với mục tiêu phát triển KH&CN đến năm 2030:

  • Quan điểm và mục tiêu: Bám sát chủ trương Đại hội XIII; đổi mới đồng bộ quản lý KH&CN gắn với kinh tế thị trường; tôn trọng tính đặc thù và chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu khoa học; chuyển đổi trọng tâm từ kiểm soát chứng từ đầu vào sang đánh giá kết quả đầu ra; bảo đảm cân đối chi NSNN gắn với Chiến lược KH&CN giai đoạn 2021–2030.
  • Hệ thống giải pháp cụ thể:
    1. Nâng cao nhận thức và trách nhiệm: Quán triệt đầy đủ tính đặc thù của lao động sáng tạo KH&CN trong toàn bộ hệ thống cơ quan quản lý tài chính và cơ quan quản trị KH&CN.
    2. Đa dạng hóa nguồn lực và thực hiện cam kết chi: Tăng cường thực hiện nguyên tắc cam kết chi ngân sách trung hạn cho các chương trình KH&CN trọng điểm; khuyến khích doanh nghiệp thành lập quỹ phát triển KH&CN; đẩy mạnh hợp tác công tư (PPP).
    3. Tách bạch nguồn kinh phí và khắc phục chồng chéo pháp lý: Tách bạch dứt khoát giữa kinh phí chi hoạt động bộ máy quản lý nhà nước với kinh phí thực hiện nhiệm vụ KH&CN; rà soát, sửa đổi các quy định mâu thuẫn giữa Luật NSNN, Luật KH&CN và Luật Quản lý, sử dụng tài sản công.
    4. Hoàn thiện quy trình quản lý chi theo chu trình ngân sách: Chuẩn hóa quy trình phê duyệt nhiệm vụ KH&CN (luận án thiết kế quy trình cải tiến tại Bảng 3.1); đổi mới khâu lập và phân bổ dự toán theo hướng rút ngắn thời gian xét duyệt hội đồng; cải tiến phương thức cấp phát và tạm ứng kinh phí qua Kho bạc Nhà nước, khắc phục triệt để tình trạng chậm giao kinh phí.
    5. Đổi mới cơ chế quyết toán và chuyển mạnh sang hậu kiểm: Mở rộng phạm vi giao khoán kinh phí đến sản phẩm cuối cùng; đơn giản hóa tối đa chứng từ chi tiêu nội bộ đối với phần kinh phí được giao khoán; thay thế kiểm tra chứng từ chi tiết bằng thanh tra, kiểm toán định kỳ theo kết quả đầu ra và kiểm định chất lượng sản phẩm khoa học.
    6. Hoàn thiện thể chế mô hình Quỹ: Sửa đổi các điều khoản liên quan trong Luật NSNN để công nhận cơ chế tài chính đặc thù của Quỹ ngoài ngân sách thuộc lĩnh vực KH&CN; hoàn thiện quy chế tài trợ, cho vay, bảo lãnh vốn của Quỹ Nafosted và Natif; cho phép thành lập và vận hành Quỹ KH&CN trong các viện nghiên cứu, trường đại học lớn tự chủ.
  • Kiến nghị thực hiện: Đưa ra các kiến nghị cụ thể đối với Quốc hội (hoàn thiện khung luật), Chính phủ (ban hành nghị định tích hợp về cơ chế tài chính KH&CN), Bộ Tài chính và Bộ KH&CN (sửa đổi các thông tư liên tịch về định mức phân bổ, định mức chi thù lao nghiên cứu và quy chế khoán chi).

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn:

Về mặt lý luận

  • Phân định rõ ranh giới khoa học giữa "cơ chế tài chính" và "cơ chế quản lý tài chính" trong lĩnh vực KH&CN; xây dựng hệ thống khái niệm, xác định đặc điểm, nguyên tắc vận hành của cơ chế quản lý chi NSNN đối với hoạt động KH&CN phù hợp với bản chất lao động sáng tạo và rủi ro.
  • Đưa ra mô hình tiếp cận kép: phân loại cơ chế quản lý chi NSNN đồng thời theo chu trình ngân sách (lập - phân bổ - thực hiện - quyết toán - kiểm tra) và theo phương thức quản lý chi (nhiệm vụ theo phân cấp, cơ chế khoán chi và cơ chế Quỹ).

Về mặt thực tiễn

  • Đánh giá có hệ thống thực trạng cơ chế quản lý chi NSNN cho KH&CN tại Việt Nam trong giai đoạn 2016–2022 (cập nhật 2023) trên cả ba phương diện: chu trình ngân sách, phương thức quản lý chi và tổ chức thực hiện ở các cấp nhiệm vụ.
  • Chỉ ra các điểm nghẽn căn bản của cơ chế hiện hành: sự tách rời giữa quản lý chuyên môn và quản lý ngân sách; vướng mắc trong vận hành Quỹ Natif và Nafosted do xung đột giữa Luật NSNN và Luật KH&CN; tình trạng "chạy chứng từ" do thủ tục kiểm soát chi quá nặng về đầu vào.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện, cụ thể và có tính khả thi: thiết kế lại quy trình phê duyệt và cấp phát ngân sách (Bảng 3.1); mở rộng khoán chi đến sản phẩm cuối cùng; chuyển căn bản từ tiền kiểm sang hậu kiểm; hoàn thiện thể chế vận hành hệ thống quỹ KH&CN đến năm 2030.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Phạm vi dữ liệu thực nghiệm chủ yếu dựa trên nguồn dữ liệu thứ cấp từ Bộ Tài chính và Bộ KH&CN giai đoạn 2016–2022; chưa tiến hành khảo sát vi mô trên diện rộng ở cấp cơ sở đối với các chủ nhiệm đề tài và các viện nghiên cứu ngoài công lập.
    • Trọng tâm phân tích đặt vào cơ chế chính sách tài chính công vĩ mô, các phân tích về mối quan hệ giữa chi tiêu công KH&CN với các chỉ số kinh tế lượng đầu ra (như chỉ số TFP, tác động năng suất doanh nghiệp) chỉ dừng ở mức độ dẫn chứng từ các nguồn công bố mà chưa xây dựng mô hình định lượng chuyên biệt.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Đo lường và kiểm định định lượng mối quan hệ nhân quả giữa quy mô, phương thức phân bổ chi NSNN với hiệu quả đầu ra của các nhiệm vụ nghiên cứu (sáng chế, bài báo quốc tế, doanh thu chuyển giao công nghệ).
    • Nghiên cứu cơ chế tài chính chi tiết cho mô hình hợp tác công tư (PPP) trong việc thành lập các trung tâm nghiên cứu thử nghiệm công nghệ dùng chung.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn đối với các nhóm đối tượng:

  • Cơ quan hoạch định chính sách và quản lý tài chính: Cán bộ, chuyên viên tại Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội, Vụ Tài chính Hành chính Sự nghiệp (Bộ Tài chính), Vụ Kế hoạch - Tài chính (Bộ KH&CN), Kho bạc Nhà nước trong việc tham mưu sửa đổi Luật NSNN, Luật KH&CN, cũng như ban hành các thông tư hướng dẫn định mức chi tiêu, thanh quyết toán và quy chế khoán chi.
  • Cơ quan quản lý các Quỹ KH&CN: Ban điều hành Quỹ Nafosted, Quỹ Natif và các quỹ KH&CN cấp tỉnh trong việc tái cấu trúc quy chế tài trợ, thanh toán và quản trị rủi ro nguồn vốn ngân sách.
  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên: Tài liệu tham khảo hữu ích trong nghiên cứu và giảng dạy các học phần Tài chính công, Quản lý tài chính công, Quản lý KH&CN tại các trường đại học khối kinh tế và quản lý. Phần đáng tham khảo nhất là khung phân tích tiếp cận kép (kết hợp chu trình ngân sách với phương thức quản lý chi) và các phân tích thể chế về cơ chế khoán chi và cơ chế Quỹ.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao cơ chế khoán chi đến sản phẩm cuối cùng trong nghiên cứu KH&CN tại Việt Nam chưa được áp dụng rộng rãi?

Theo phân tích của luận án, nguyên nhân chính là do tính rủi ro đặc thù của nghiên cứu khoa học chưa được các quy định pháp luật hiện hành (đặc biệt là Luật NSNN và các quy định về kế toán, kiểm toán công) thừa nhận một cách đồng bộ. Các cơ quan kiểm soát chi và kiểm toán vẫn yêu cầu đầy đủ chứng từ đầu vào hợp lệ, chi tiết theo từng mục lục chi của dự toán ban đầu. Điều này dẫn đến tâm lý e ngại trách nhiệm của cả cơ quan phê duyệt lẫn tổ chức chủ trì, khiến đa số các nhiệm vụ chỉ áp dụng hình thức khoán từng phần mà không dám thực hiện khoán trọn gói đến sản phẩm cuối cùng.

2. Sự xung đột pháp lý lớn nhất đối với hoạt động của các Quỹ KH&CN quốc gia (Nafosted, Natif) là gì?

Luận án chỉ ra điểm nghẽn pháp lý nằm ở sự thiếu đồng bộ giữa Luật KH&CN năm 2013 và Luật NSNN năm 2015. Luật KH&CN quy định các Quỹ hoạt động như định chế tài chính ngoài ngân sách, được phép tài trợ, cho vay ưu đãi và bảo lãnh vốn. Tuy nhiên, Luật NSNN lại quy định kinh phí có nguồn gốc từ ngân sách cấp cho Quỹ phải chấp hành nghiêm ngặt các quy định về lập dự toán, chấp hành và quyết toán theo mục lục ngân sách hàng năm, không được chuyển nguồn linh hoạt hoặc thực hiện các nghiệp vụ tài chính có tính rủi ro, làm hạn chế chức năng cấp vốn của Quỹ.

3. Tỷ lệ thành công của các loại hình nghiên cứu KH&CN theo dữ liệu luận án đưa ra là bao nhiêu?

Luận án dẫn số liệu thống kê của UNESCO cho thấy tỷ lệ thành công của hoạt động KH&CN tỷ lệ nghịch với tính chất cơ bản và độ phức tạp của nghiên cứu:

  • Nghiên cứu cấu thành tâm lý: 20%
  • Nghiên cứu cơ bản: 25%
  • Nghiên cứu ứng dụng: 40%
  • Nghiên cứu triển khai thử nghiệm: 60%
  • Cải tiến và cải tạo kỹ thuật công trình: 90%

4. Luận án đề xuất giải pháp cốt lõi nào nhằm đổi mới công tác kiểm tra, quyết toán chi NSNN cho KH&CN?

Luận án đề xuất giải pháp mang tính nguyên tắc là chuyển căn bản từ cơ chế "tiền kiểm" (kiểm soát chi tiết các chứng từ, hóa đơn chi tiêu đầu vào qua Kho bạc Nhà nước) sang cơ chế "hậu kiểm". Theo đó, Nhà nước đánh giá hiệu quả chi tiêu thông qua việc nghiệm thu chất lượng sản phẩm cuối cùng của đề tài dựa trên ý kiến của hội đồng khoa học độc lập, gắn kết quả nghiên cứu với trách nhiệm giải trình của tổ chức chủ trì, đồng thời đơn giản hóa tối đa các thủ tục quyết toán hành chính.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về cơ chế quản lý chi NSNN cho hoạt động KH&CN, làm rõ các đặc trưng sáng tạo, rủi ro và kế thừa của lao động khoa học. Trên cơ sở phân tích số liệu thực trạng giai đoạn 2016–2022 (cập nhật 2023), công trình đã chỉ rõ những điểm nghẽn trong chu trình ngân sách, phương thức khoán chi và cơ chế Quỹ tại Việt Nam. Hệ thống giải pháp được đề xuất hướng tới việc hoàn thiện thể chế pháp lý, mở rộng khoán chi theo kết quả đầu ra, chuyển mạnh sang cơ chế hậu kiểm và đổi mới hoạt động của các Quỹ KH&CN đến năm 2030. Công trình cung cấp luận cứ khoa học phục vụ công tác hoàn thiện chính sách tài chính công và quản trị hoạt động KH&CN quốc gia.