CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CƠ CHẾ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC Ở ĐỊA PHƯƠNG 1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước ở địa phương 1. Khái niệm cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước ở địa phương * Kiểm soát quyền lực nhà nước Lý thuyết về kiểm soát quyền lực nhà nước đã được phát triển bởi các học giả tư sản phương Tây từ nhiều thế kỉ trước. Kế thừa những hạt nhân hợp lý trong tư tưởng của nhiều nhà tư tưởng tiền bối, John Locke cho rằng, quyền lực nhà nước là do nhân dân nhượng cho thông qua khế ước xã hội, quyền lực đó phải được phân chia để không định chế chính trị nào được độc quyền, tạo nên sự “kiềm chế và cân bằng”, tức là sự kiểm soát lẫn nhau giữa các cơ quan quyền lực nhà nước.
Theo ông đó là ba quyền: lập pháp, hành pháp và liên hiệp Trong tác phẩm “Bàn về tinh thần pháp luật” của mình, Charles-Louis de Secondat Montesquieu đã luận giải nội hàm của hoạt động kiểm soát quyền lực nhà nước trong chương 6, quyển 11 như sau: “quyền lực hành pháp phải vận dụng chức năng ngăn cản để tham gia việc lập pháp, nếu không nó sẽ bị tước mất ưu quyền. Nhưng trái lại, nếu quyền lực lập pháp tham gia vào việc hành pháp thì quyền hành pháp sẽ bị thủ tiêu. Cơ quan lập pháp có hai bộ phận ràng buộc nhau bằng chức năng ngăn cản bên này đối với bên kia. Cả hai bộ phận đều bị ràng buộc bởi quyền hành pháp, mà quyền hành pháp thì cũng bị ràng buộc bởi quyền lập pháp.
Cả ba quyền lực này, do ràng buộc lẫn nhau mà dường như nghỉ ngơi hay bất động. Tuy nhiên, vì tính tất yếu của mọi sự vật là vận động nên cả ba quyền lực vẫn buộc phải đi tới, mà đi tới một cách nhịp nhàng” [3, tr46]. Theo đó, kiểm soát quyền lực nhà nước được hiểu như là sự “ngăn cản”, “ràng buộc” hay “xem xét” giữa ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. 8 Về sau, triết gia người Anh, ông John Stuart Mill (1806-1873) trong tác phẩm “Chính quyền dân sự” (1861) khi khảo sát quan hệ giữa lập pháp và hành pháp đã trình bày khía cạnh trách nhiệm chính trị kĩ lưỡng hơn Montesquieu.
Ông cho rằng chức năng của cơ quan dân cử là kiểm tra, giám sát chính phủ, yêu cầu chính phủ báo cáo, giải thích và loại bỏ các công chức kém năng lực. Ngày nay, ở các nước tư bản phát triển, kiểm soát quyền lực nhà nước là vấn đề trung tâm trong các học thuyết về nhà nước pháp quyền, chủ nghĩa hiến pháp, gắn với những nguyên tắc, như: đặt ra giới hạn quyền lực nhà nước để bảo vệ quyền con người, quyền công dân; thực hiện phân quyền để kiềm chế, đối trọng lẫn nhau giữa các nhánh quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp; thiết lập sự chế ước, cân bằng trong mối quan hệ giữa các thành tố: nhà nước pháp quyền, kinh tế thị trường và xã hội dân sự [11] Ở Việt Nam hiện nay, cùng với việc xây dựng nhà nước pháp quyền và đẩy mạnh phân cấp, phân quyền thì kiểm soát quyền lực nhà nước đã rất được quan tâm. Các học giả trong nước, khi nghiên cứu về vấn đề này, đã đưa ra định nghĩa, quan niệm và kiến giải, cụ thể: tổ chức, thực thi quyền lực nhà nước là hoạt động trung tâm của các vấn đề nhà nước. Trong đó, vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước được coi là một nhu cầu tất yếu.
Theo đó, bất kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào khi được giao sử dụng quyền lực nhà nước đều phải chịu sự kiểm soát và “ở mọi cấp chính quyền, quyền lực nhà nước đều phải bị phân chia, làm cho quyền lực đó không có cơ hội tập trung” [7, tr.242], nhằm phòng, chống các hành vi lạm dụng, tha hóa quyền lực nhà nước và nâng cao hiệu quả, hiệu lực trong tổ chức, thực thi quyền lực nhà nước. Tùy thuộc vào hình thức chính thể nhà nước, chế độ chính trị và tư duy lập pháp của những nhà làm luật, kiểm soát quyền lực nhà nước ở các quốc gia có những cách thể hiện không hoàn toàn giống nhau. Tuy nhiên, về bản chất, kiểm soát quyền lực trong tất cả các nhà nước đều được coi là một hoạt động tất yếu, cần thiết và quan trọng nhằm chống lại sự lạm quyền, sử dụng quyền lực nhà nước vào những mục đích riêng. 9 Do vậy, kiểm soát quyền lực nhà nước là tổng hợp các hoạt động vừa chế ước, chi phối, ngăn cản, lại vừa cân bằng quyền lực, mà chủ thể thực hiện là nhà nước và xã hội, nhằm đảm bảo cho việc tổ chức, thực thi quyền lực nhà nước đúng mục đích, hiệu quả, triệt tiêu sự tha hóa quyền lực.
* Cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước Để nhận dạng về cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước, trước hết cần làm rõ khái niệm thuật ngữ “cơ chế” trong mối tương quan với quyền lực nhà nước. Theo đó, từ “cơ chế” là chuyển ngữ của từ “mechanism” của phương Tây, được cuốn Oxford Advance Learner’s Dictionary giải thích là “tổng hợp các thành tố phụ thuộc nhau, diễn đạt một chức năng cụ thể”. Còn Từ điển Tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học 1996) giảng nghĩa “Cơ chế là cách thức, sắp xếp tổ chức để làm đường hướng, cơ sở theo đó mà thực hiện”. Như vậy, cơ chế chính là cách thức tổ chức nội bộ, quy luật vận hành, hoạt động bao gồm nhiều bước để có được công việc cụ thể.
Từ định nghĩa trên, khái quát cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước là tổng hợp những quy trình, phương thức và thiết chế liên quan đến kiểm soát quyền lực nhà nước, gắn kết chặt chẽ với nhau thành một chỉnh thể thống nhất, nhằm đảm bảo cho sự vận hành thông suốt của hoạt động kiểm soát quyền lực nhà nước, thông qua đó giúp ngăn ngừa, loại bỏ nguy cơ tha hóa quyền lực, tránh các hành vi sai trái của chủ thể nắm giữ quyền lực nhà nước nhằm phục vụ cho lợi ích riêng. Lý thuyết và thực tiễn cho thấy, cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước rất đa dạng. Theo đó: Khi tiếp cận thông qua chủ thể thực hiện quyền lực, cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước bao gồm: (1) hoạt động kiểm soát quyền lực nhà nước từ bên trong nhà nước: đây là sự kiểm soát do bản thân nhà nước thực hiện nhằm theo dõi, giám sát sự vận hành, hoạt động của các cơ quan trong bộ máy nhà nước; (2) hoạt động kiểm soát quyền lực nhà nước từ bên ngoài: là hoạt động kiểm soát quyền lực nhà nước mà chủ thể thực hiện là nhân dân và xã hội. Ở một cách tiếp cận khác, cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước lại bao 10 gồm các hoạt động được thực hiện bởi sự tự kiểm soát và kiểm soát bằng thể chế.
Tự kiểm soát là sự kiểm soát của các chủ thể quyền lực, dựa trên cơ sở nhận thức của chủ thể thấy được sự cần thiết, “tính tất yếu”, tính chuẩn mực, đạo đức của việc kiểm soát nên tự giác thực hiện, tự kiểm soát. Sự tự kiểm soát không cần đến cưỡng chế nên tính hiệu quả cao. Song trên thực tế, sự tự kiểm soát của chủ thể quyền lực không thể bao quát hết phạm vi quyền lực và cũng không đủ chi phí. Hơn nữa, sự tự kiểm soát thường bị phụ thuộc, chi phối bởi các yếu tố chủ quan của chủ thể kiểm soát nên khó có thể ước lượng, xác định.
Vì vậy, xã hội cần tới sự kiểm soát bằng thể chế. Đó là sự áp đặt, chi phối từ bên ngoài đối với chủ thể quyền lực [35, tr35]. Mặt khác, cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước cũng rất phức tạp. Thứ nhất, sự phức tạp này xuất phát từ tính chất khác nhau của các loại cơ quan trong bộ máy nhà nước.
Thật vậy, quyền lực nhà nước được tổ chức thực thi chủ yếu thông qua bộ máy nhà nước, trong đó tổng hợp rất nhiều cơ quan có vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn hoạt động theo nhiều cách thức khác nhau. Bởi lẽ, mỗi cơ quan trong bộ máy nhà nước, bản thân nó có những cách tổ chức và hoạt động khác nhau, nên cần phải thiết lập các cơ chế kiểm soát quyền lực mang tính chất bộ phận, phù hợp với từng cơ quan, khiến cho việc kiểm soát quyền lực trở nên có hiệu quả. Thứ hai, sự đa dạng trong chủ thể thực hiện kiểm soát quyền lực nhà nước dẫn đến biểu hiện phức tạp trong cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước. Chủ thể thực hiện kiểm soát quyền lực nhà nước, như đã phân tích, có thể là bản thân nhà nước hoặc nhân dân, xã hội.
Khi tham gia vào hoạt động kiểm soát quyền lực, có những quy chuẩn về nội dung, hình thức và phương thức thực hiện khác nhau. Thứ ba, kiểm soát quyền lực nhà nước gắn liền với nguyên tắc phân quyền dẫn đến sự phức tạp trong việc cấu thành cơ chế kiểm soát quyền lực. Có thể nhận định rằng, phân quyền được xem là nền tảng cơ bản cho hoạt động kiểm soát quyền lực nhà nước. Bởi lẽ, “muốn có một nhà nước hạn chế quyền lực với mục đích chống lại sự độc tài chuyên chế, thì trước hết quyền lực nhà nước không được 11 tập trung, mà phải phân ra.
Muốn có sự hạn chế, thì trước hết quyền lực phải được phân ra” [7, tr182]. Theo nguyên tắc phân quyền, quyền lực nhà nước được phân định thành quyền lập pháp, quyền hành pháp, quyền tư pháp và giao cho các cơ quan khác nhau của nhà nước thực hiện. Đây là sự phân định quyền lực theo chiều ngang giữa các nhánh quyền lực riêng rẽ của chính quyền, là sự phân định thẩm quyền và trách nhiệm giữa các cơ quan cùng cấp trong bộ máy nhà nước. Mỗi cơ quan được trao những quyền hạn nhất định thực hiện công việc lập pháp, hành pháp, tư pháp.
Và cùng với đó, hình thành cơ chế kiểm soát các cơ quan trong việc thực thi các quyền này. Mặt khác, phân quyền còn là sự phân định quyền lực theo chiều dọc trong mối quan hệ giữa chính quyền trung ương và chính quyền địa phương. Phân quyền theo chiều dọc thực chất là phân công chức năng, nhiệm vụ quyền hạn giữa các cấp chính quyền, trong đó mỗi cấp có những nhiệm vụ, quyền hạn riêng của mình, các cấp không can thiệp vào công việc của nhau, nhưng cấp trên có quyền kiểm soát cấp dưới theo quy định của pháp luật [27, tr17].