Cơ Chế Đại Diện Chủ Sở Hữu Vốn Nhà Nước Trong Các Doanh Nghiệp Ở Việt Nam

Luận án tiến sĩ kinh tế phân tích chính trị cơ chế đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước trong các doanh nghiệp ở việt nam, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực nghiệm, đóng góp tri

Chuyên ngành

Kinh tế chính trị

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2018

173
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN CƠ CHẾ ĐẠI DIỆN CHỦ SỞ HỮU VỐN NHÀ NƯỚC TRONG CÁC DOANH NGHIỆP

1.1. Các công trình nghiên cứu nước ngoài có liên quan đến cơ chế đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước trong các doanh nghiệp

1.2. Các công trình nghiên cứu trong nước có liên quan đến cơ chế đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước trong các doanh nghiệp

1.3. Nhận xét kết quả của các công trình đã được công bố có liên quan và xác định vấn đề nghiên cứu của luận án

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CƠ CHẾ ĐẠI DIỆN CHỦ SỞ HỮU VỐN NHÀ NƯỚC TRONG CÁC DOANH NGHIỆP

2.1. Khái niệm cơ chế đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước trong các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường

2.2. Nội dung cơ chế đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước trong các doanh nghiệp

2.3. Các tiêu chí đánh giá cơ chế đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước trong doanh nghiệp

2.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến cơ chế đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước trong các doanh nghiệp

2.5. Kinh nghiệm về cơ chế đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước trong các doanh nghiệp ở một số nước và bài học cho Việt Nam

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG CƠ CHẾ ĐẠI DIỆN CHỦ SỞ HỮU VỐN NHÀ NƯỚC TRONG CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM

3.1. Tình hình hoạt động và mô hình tổ chức, bộ máy của doanh nghiệp nhà nước

3.2. Tình hình thực hiện cơ chế đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước trong các doanh nghiệp ở Việt Nam

3.3. Đánh giá thực trạng cơ chế đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước trong các doanh nghiệp ở Việt Nam

4. CHƯƠNG 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CƠ CHẾ ĐẠI DIỆN CHỦ SỞ HỮU VỐN NHÀ NƯỚC TRONG CÁC DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI

4.1. Quan điểm hoàn thiện cơ chế đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước trong các doanh nghiệp ở Việt Nam

4.2. Giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện cơ chế đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước trong các doanh nghiệp ở Việt Nam trong thời gian tới

4.3. Một số kiến nghị với Trung ương

KẾT LUẬN

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HỘP

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ

Tóm tắt

I. Tổng Quan Cơ Chế Đại Diện Chủ Sở Hữu Vốn Nhà Nước Việt Nam

Bài viết này tập trung phân tích và đánh giá cơ chế đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước trong các doanh nghiệp ở Việt Nam. Đây là một vấn đề cấp thiết, được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của khu vực kinh tế nhà nước. Cơ chế này đóng vai trò quan trọng trong việc bảo toàn, phát triển vốn nhà nước, đồng thời đảm bảo doanh nghiệp nhà nước hoạt động đúng định hướng, tuân thủ pháp luật và mang lại lợi ích cho toàn xã hội. Việc hoàn thiện cơ chế đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước là một trong những yếu tố then chốt để thúc đẩy phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Theo Nghị quyết Trung ương 5 khóa XII, DNNN là lực lượng nòng cốt của kinh tế nhà nước, dẫn dắt, tạo động lực phát triển đối với nền kinh tế. Tuy nhiên, hoạt động của DNNN còn hạn chế, hiệu quả sản xuất kinh doanh và đóng góp của nhiều DNNN còn thấp, chưa tương xứng với nguồn lực Nhà nước đầu tư.

1.1. Sự Cần Thiết Nghiên Cứu Cơ Chế Đại Diện Chủ Sở Hữu

Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra chủ trương đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, xóa bỏ tập trung quan liêu, bao cấp. Nghị quyết Trung ương 3 khóa IX chỉ rõ phải đẩy mạnh sắp xếp, nâng cao hiệu quả DNNN, chấm dứt tình trạng cơ quan hành chính can thiệp trực tiếp vào hoạt động kinh doanh. Các Nghị quyết Đại hội X, XI, XII tiếp tục khẳng định phải tăng cường quản lý nhà nước đối với DNNN. Thực tiễn cho thấy, việc tách chức năng quản lý nhà nước và chức năng đại diện chủ sở hữu còn chậm, cơ chế quản lý, giám sát chưa rõ ràng. Do đó, việc nghiên cứu, hoàn thiện cơ chế đại diện chủ sở hữu là vô cùng cần thiết.

1.2. Mục Tiêu và Phạm Vi Nghiên Cứu Cơ Chế Đại Diện Vốn Nhà Nước

Mục tiêu chính của nghiên cứu này là làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về cơ chế đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước, phân tích thực trạng, đề xuất quan điểm và giải pháp hoàn thiện. Đối tượng nghiên cứu là cơ chế đại diện chủ sở hữu, bao gồm các mối quan hệ kinh tế, pháp lý giữa Nhà nước và các cá nhân, tập thể được trao quyền. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào các DNNN ở Việt Nam trong giai đoạn 2010-2016, đồng thời đưa ra các định hướng và giải pháp đến năm 2030. Nghiên cứu sẽ tham khảo kinh nghiệm quốc tế và kế thừa các công trình khoa học đã công bố để đảm bảo tính khoa học và thực tiễn.

II. 6 Cách Nhận Diện Thách Thức Trong Cơ Chế Đại Diện Chủ Sở Hữu

Hoạt động của các DNNN còn nhiều hạn chế, thể hiện qua hiệu quả kinh doanh chưa tương xứng với nguồn lực đầu tư, tình trạng thua lỗ kéo dài, nợ xấu gia tăng, và các vụ việc vi phạm pháp luật của cán bộ quản lý. Một trong những nguyên nhân chính là sự bất cập trong cơ chế đại diện chủ sở hữu, đặc biệt là việc xác định chủ thể, thẩm quyền, kiểm tra, giám sát. Tình trạng “lợi ích nhóm”, tham nhũng, lãng phí vẫn còn tồn tại, gây thất thoát vốn nhà nước và làm suy giảm niềm tin của nhân dân. Việc chậm trễ trong cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước cũng là một thách thức lớn, làm giảm tính năng động và hiệu quả của các DNNN. Cụ thể, năm 2014, nguyên Cục trưởng Cục Hàng hải Việt Nam, nguyên Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐTV Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam (Vinalines) bị khai trừ ra khỏi đảng và lĩnh án tử hình do có vai trò chủ mưu, cầm đầu trong việc mua ụ nổi 83M gây thiệt hại cho Nhà nước hơn 366 tỉ đồng, tham ô hơn 28 tỉ đồng.

2.1. Hiệu Quả Kinh Doanh Kém và Thất Thoát Vốn Nhà Nước

Nhiều DNNN chưa đáp ứng được yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, kinh doanh thua lỗ, không bảo toàn được vốn, không trả được nợ. Tình trạng này gây ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế và an sinh xã hội. Một trong những nguyên nhân là do cơ chế quản lý còn yếu kém, thiếu sự giám sát chặt chẽ và chế tài xử lý nghiêm minh đối với các hành vi sai phạm. Việc đầu tư dàn trải, thiếu hiệu quả cũng góp phần làm gia tăng rủi ro và thất thoát vốn nhà nước.

2.2. Vi Phạm Pháp Luật và Tham Nhũng Trong Doanh Nghiệp Nhà Nước

Các vụ việc vi phạm pháp luật, tham nhũng của cán bộ quản lý DNNN gây bức xúc trong dư luận và làm suy giảm lòng tin của nhân dân. Nguyên nhân chính là do sự lỏng lẻo trong công tác cán bộ, thiếu kiểm soát quyền lực, và cơ chế giám sát chưa hiệu quả. Việc xử lý các vụ việc vi phạm còn chậm trễ, thiếu tính răn đe, tạo điều kiện cho các hành vi tiêu cực tiếp diễn. Điển hình là, năm 2010, Bí thư Đảng ủy, chủ tịch HĐQT Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam (Vinashin) bị khai trừ ra khỏi Đảng, nhận án tử hình do thiếu trách nhiệm trong việc huy động, quản lý, sử dụng tiền vốn nhà nước tại Vinashin gây hậu quả nghiêm trọng khiến Vinashin bên bờ vực phá sản.

2.3. Bất Cập Trong Xác Định Chủ Thể Đại Diện và Thẩm Quyền

Việc xác định chủ thể đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước chưa rõ ràng, dẫn đến tình trạng chồng chéo, đùn đẩy trách nhiệm. Thẩm quyền của người đại diện còn hạn chế, không đủ mạnh để kiểm soát, điều hành hoạt động của DNNN một cách hiệu quả. Cơ chế kiểm tra, giám sát chưa đầy đủ, thiếu tính độc lập, không đảm bảo tính khách quan và minh bạch. Tình trạng này tạo điều kiện cho các hành vi lạm quyền, lợi dụng chức vụ để trục lợi.

III. Hướng Dẫn Hoàn Thiện Cơ Chế Đại Diện Chủ Sở Hữu Vốn Nhà Nước

Để hoàn thiện cơ chế đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại Việt Nam, cần có những giải pháp đồng bộ và toàn diện. Thứ nhất, cần xác định rõ chủ thể đại diện, phân định rõ quyền hạn và trách nhiệm. Thứ hai, tăng cường kiểm tra, giám sát hoạt động của DNNN và người đại diện, đảm bảo tính minh bạch và trách nhiệm giải trình. Thứ ba, đẩy mạnh cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước, tạo điều kiện cho DNNN hoạt động theo cơ chế thị trường. Thứ tư, nâng cao năng lực quản trị của DNNN, thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao. Thứ năm, hoàn thiện hệ thống pháp luật, tạo hành lang pháp lý đầy đủ và minh bạch cho hoạt động của DNNN và cơ chế đại diện. Để cụ thể hóa chủ trương của Đảng; Quốc hội đã ban hành Luật Doanh nghiệp, Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp; Chính phủ ban hành các nghị định nhằm tăng cường quản lý, kiểm tra, giám sát đối với đại diện CSH vốn nhà nước trong các DNNN.

3.1. Xác Định Rõ Chủ Thể Đại Diện Vốn Nhà Nước và Thẩm Quyền

Cần có quy định cụ thể về chủ thể đại diện vốn nhà nước, phân định rõ quyền hạn và trách nhiệm giữa các cơ quan, tổ chức. Nên thành lập một cơ quan chuyên trách của Nhà nước làm đại diện chủ sở hữu đối với DNNN, thực hiện quyền và trách nhiệm của đại diện chủ sở hữu. Cơ quan này phải có đủ thẩm quyền và năng lực để kiểm soát, điều hành hoạt động của DNNN một cách hiệu quả, đảm bảo bảo toàn và phát triển vốn nhà nước.

3.2. Tăng Cường Giám Sát và Minh Bạch Hoạt Động Doanh Nghiệp Nhà Nước

Cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát hoạt động của DNNN và người đại diện, đảm bảo tính minh bạch và trách nhiệm giải trình. Cơ chế giám sát phải độc lập, khách quan và hiệu quả, có sự tham gia của các tổ chức xã hội và người dân. Cần công khai thông tin về hoạt động của DNNN, bao gồm tình hình tài chính, kết quả kinh doanh, các dự án đầu tư, và các vụ việc vi phạm. Đồng thời, cần có chế tài xử lý nghiêm minh đối với các hành vi sai phạm, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.

IV. Bí Quyết Ứng Dụng Thực Tiễn và Kết Quả Nghiên Cứu Cơ Chế Đại Diện

Nghiên cứu này cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc hoàn thiện cơ chế đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu có thể được ứng dụng để xây dựng các chính sách, pháp luật liên quan đến quản lý DNNNvốn nhà nước. Các giải pháp đề xuất có thể giúp nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN, bảo toàn và phát triển vốn nhà nước, đồng thời góp phần vào sự phát triển bền vững của nền kinh tế. Các phân tích và đánh giá thực trạng giúp nhận diện những điểm yếu và tồn tại trong cơ chế đại diện, từ đó đưa ra các giải pháp khắc phục phù hợp. Trong đó, Bộ Giao thông vận tải với vai trò là Bộ Chủ quản đã không làm tròn trách nhiệm kiểm tra, giám sát việc quản lý, sử dụng vốn, đánh giá kết quả kinh doanh của Vinalines nên để sai phạm gây hậu quả nghiêm trọng.

4.1. Ứng Dụng Kết Quả Nghiên Cứu Trong Xây Dựng Chính Sách

Kết quả nghiên cứu này có thể được sử dụng để xây dựng các chính sách, pháp luật liên quan đến quản lý DNNNvốn nhà nước. Các khuyến nghị về việc xác định chủ thể đại diện, phân định quyền hạn và trách nhiệm, tăng cường giám sát và minh bạch có thể giúp hoàn thiện hệ thống pháp luật hiện hành. Các giải pháp về cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước, nâng cao năng lực quản trị cũng có thể được đưa vào các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội.

4.2. Đề Xuất Giải Pháp Khắc Phục Tồn Tại Trong Cơ Chế Đại Diện

Nghiên cứu này giúp nhận diện những điểm yếu và tồn tại trong cơ chế đại diện chủ sở hữu, từ đó đưa ra các giải pháp khắc phục phù hợp. Các giải pháp này bao gồm việc hoàn thiện quy trình bổ nhiệm, miễn nhiệm cán bộ quản lý DNNN, tăng cường kiểm tra, giám sát hoạt động của DNNN, và có chế tài xử lý nghiêm minh đối với các hành vi sai phạm. Đồng thời, cần đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho DNNN hoạt động hiệu quả.

V. Kết Luận và Tương Lai Cơ Chế Đại Diện Chủ Sở Hữu Vốn Nhà Nước

Việc hoàn thiện cơ chế đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước là một quá trình liên tục và lâu dài, đòi hỏi sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị và sự tham gia của toàn xã hội. Trong tương lai, cần tiếp tục nghiên cứu, đánh giá và điều chỉnh cơ chế đại diện để phù hợp với tình hình thực tế và yêu cầu phát triển của đất nước. Đồng thời, cần tăng cường hợp tác quốc tế, học hỏi kinh nghiệm của các nước tiên tiến trong quản lý DNNNvốn nhà nước. Việc xây dựng một cơ chế đại diện hiệu quả sẽ góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Với những lý do trên, vấn đề “Cơ chế đại diện chủ sở hữu vốn Nhà nước trong các doanh nghiệp ở Việt Nam” được chọn làm đề tài nghiên cứu luận án tiến sĩ chuyên ngành kinh tế chính trị, nhằm góp phần vào việc tạo lập cơ sở khoa học cho việc tiếp tục hoàn thiện cơ chế đại diện CSH vốn Nhà nước trong các doanh nghiệp nói riêng và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam nói chung trong thời gian tới.

5.1. Định Hướng Phát Triển Cơ Chế Đại Diện Trong Tương Lai

Trong tương lai, cơ chế đại diện chủ sở hữu cần được hoàn thiện theo hướng minh bạch, hiệu quả và trách nhiệm giải trình. Cần tiếp tục nghiên cứu, đánh giá và điều chỉnh cơ chế đại diện để phù hợp với tình hình thực tế và yêu cầu phát triển của đất nước. Đồng thời, cần tăng cường hợp tác quốc tế, học hỏi kinh nghiệm của các nước tiên tiến trong quản lý DNNNvốn nhà nước.

5.2. Tầm Quan Trọng Của Cơ Chế Đại Diện Đối Với Phát Triển Bền Vững

Việc xây dựng một cơ chế đại diện chủ sở hữu hiệu quả có tầm quan trọng đặc biệt đối với sự phát triển bền vững của nền kinh tế. Một cơ chế đại diện hiệu quả sẽ giúp nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN, bảo toàn và phát triển vốn nhà nước, đồng thời góp phần vào sự ổn định kinh tế vĩ mô và an sinh xã hội. Do đó, việc hoàn thiện cơ chế đại diện cần được coi là một nhiệm vụ then chốt trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

28/05/2025
Luận án tiến sĩ kinh tế chính trị cơ chế đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước trong các doanh nghiệp ở việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN CƠ CHẾ ĐẠI DIỆN CHỦ SỞ HỮU VỐN NHÀ NƯỚC TRONG CÁC DOANH NGHIỆP 1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI CÓ LIÊN QUAN ĐẾN CƠ CHẾ ĐẠI DIỆN CHỦ SỞ HỮU VỐN NHÀ NƯỚC TRONG CÁC DOANH NGHIỆP Liên quan đến vấn đề luận án đang nghiên cứu, có nhiều công trình ở nước ngoài đã đề cập với những góc độ khác nhau. Mỗi quốc gia, với những điều kiện kinh tế, chính trị và xã hội riêng, có cách thức giải quyết riêng về vấn đề sở hữu nói chung, cũng như cơ chế đại diện CSH vốn nhà nước trong các doanh nghiệp. Ở các quốc gia đang phát triển và các quốc gia đang trong quá trình chuyển từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, cơ chế đại diện CSH vốn nhà nước trong các doanh nghiệp luôn được coi là vấn đề phức tạp cả trên phương diện kinh tế và phương diện chính trị- xã hội.

Vấn đề này đã và đang thu hút sự quan tâm không những chỉ của các nhà hoạch định chính sách, các nhà nghiên cứu về kinh tế và luật pháp, mà còn là một trong những mối quan tâm hàng đầu của các nhà kinh doanh và của mọi công dân. Có nhiều cuộc thảo luận, nhiều hội thảo và nhiều công trình nghiên cứu vấn đề này, thậm chí đã được dịch ra Tiếng Việt. Có thể kể đến những công trình tiêu biểu với các nội dung nghiên cứu như sau: 1. Về sở hữu nhà nước và chủ sở hữu vốn nhà nước trong các doanh nghiệp Theo C.Mác, khái niệm về chế độ sở hữu và khái niệm quyền sở hữu vừa có nét khác biệt vừa có nét liên quan.

Chế độ sở hữu là một kiểu sự thực kinh tế, thuộc về tồn tại xã hội, nó là điều kiện cơ bản không thể thiếu trong sản xuất vật chất, đã tồn tại từ khi loài người xuất hiện. Còn quyền sở hữu là quy định pháp luật hoặc sự thể hiện bằng pháp luật của chế độ sở hữu, sau khi nhà nước ra đời nó xuất hiện, thuộc về kiến trúc thượng tầng. Quan hệ giữa chế độ sở hữu và 10 quyền sở hữu là quan hệ giữa “bản gốc” và “bản sao”, chế độ sở hữu quyết định quyền sở hữu, còn quyền sở hữu là sự thể hiện của chế độ sở hữu khi nó phát triển đến một trình độ nhất định, có tác dụng ngược lại với việc quy phạm, bảo vệ chế độ sở hữu. Khi nghiên cứu toàn bộ quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa, về sự phân chia lợi nhuận thành lợi tức và lợi nhuận doanh nghiệp, tư bản sinh lời, nói về vai trò của tín dụng trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa trong cuốn sách Bộ Tư bản phê phán khoa kinh tế chính trị, Quyển thứ ba: Toàn bộ quá trình sản xuất tư bản [94, tr.Mác viết: Những công ty cổ phần được thành lập.

Trong các công ty cổ phần, chức năng tư bản tách rời với quyền sở hữu tư bản; lao động tách rời quyền sở hữu đối với tư liệu sản xuất và đối với lao động thặng dư. Đó là kết quả của sự phát triển cao nhất của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, là điểm quá độ tất nhiên để tư bản lại chuyển thành sở hữu của những người sản xuất, nhưng không phải với tư cách là sở hữu tư nhân của những người sản xuất riêng lẻ nữa, mà với tư cách là sở hữu của những người sản xuất liên hiệp, thành sở hữu xã hội trực tiếp [94]. Ở đây, Các Mác đã đề cập đến công ty cổ phần và sở hữu xã hội, là lý luận tiền đề về DNNN và sở hữu vốn nhà nước trong các doanh nghiệp. Trong quá trình cải cách mở cửa ở Trung Quốc, việc nghiên cứu vấn đề sở hữu được hết sức quan tâm và nhiều kết quả nghiên cứu đã được vận dụng vào hoạch định đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản và nhà nước Trung quốc.

Các nghiên cứu, bên cạnh việc chỉ rõ tính tất yếu của việc phát triển các hình thức sở hữu đa dạng, đã xác định vai trò chủ thể của quốc hữu. Cuốn sách Lý luận mới về kinh tế học xã hội chủ nghĩa của Cốc Thư Đường [80] đã đề cập một cách tập trung và toàn diện vấn đề lý luận và thực tế về sở hữu trong nền kinh tế thị trường mang màu sắc Trung Quốc. Về mặt chính thống, Đảng Cộng sản Trung Quốc chủ trương: “Kiên trì chế độ công hữu làm chủ thể, thúc đẩy sự phát triển của kinh tế phi công hữu, thống nhất trong tiến trình xây dựng hiện đại hoá xã hội chủ nghĩa, hai khâu này không thể đối lập với nhau”. Tuy nhiên, chưa đề cập nhiều đến đại diện CSH trong các DNNN.

11 Cuốn sách Báo cáo phát triển kinh tế và cải cách thể chế phát triển Trung Quốc - 30 năm cải cách mở cửa của Trung Quốc (1978-2008) của Trâu Đông Đào [78] đã tổng kết khá đầy đủ những thành tựu và hạn chế trên nhiều lĩnh vực trong công cuộc cải cách, mở cửa suốt 30 năm của Trung Quốc. Trong đó quan điểm mới về việc nghiên cứu vấn đề chế độ sở hữu trong bài Sự chuyển biến quan điểm tư tưởng từ khi cải cách mở cửa đến nay của Đổng Đức Cương [61] đã mở rộng và sâu sắc hóa khái niệm chế độ sở hữu và quyền sở hữu như “quyền tài sản”; từ chỗ chú trọng quá mức “công hay tư” đến chỗ cần chú trọng “tốt hay xấu” trước tiên; từ thuyết công tư đối lập đến thuyết cạnh tranh bình đẳng, thúc đẩy lẫn nhau; từ chỗ chia đôi một cách hẹp hòi “công hữu” và “tư hữu” tới chỗ có tầm nhìn đa chiều để nhận thức vấn đề chế độ sở hữu; xu thế và phương hướng phát triển chế độ sở hữu đương đại là chế độ sở hữu hỗn hợp với hình thức là chế độ cổ phần. Nó gồm các thành phần sở hữu như sở hữu chung, sở hữu tư nhân; sở hữu của nhà nước, sở hữu của dân thường. Nghiên cứu 30 năm cải cách chế độ sở hữu và phát triển kinh tế ngoài chế độ công hữu ở Trung Quốc của Trâu Đông Đào, Âu Dương Nhật Huy [78], hai học giả đã nhìn lại công cuộc cải cách chế độ sở hữu và phát triển khu vực kinh tế ngoài chế độ công hữu qua 4 giai đoạn: (1) Giai đoạn điều chỉnh sơ bộ cơ cấu chế độ sở hữu (1978-1991); (2) Giai đoạn tiếp tục điều chỉnh cơ cấu chế độ sở hữu (1992-1997), trong giai đoạn này đã điều chỉnh DNNN lớn và vừa, thí điểm thực hiện chế độ doanh nghiệp hiện đại; (3) Giai đoạn đa nguyên hóa chủ thể của cơ cấu chế độ sở hữu (1998-2001), DNNN lớn và vừa bắt đầu cải cách mạnh mẽ, đẩy nhanh các bước cải cách chế độ cổ phần trong DNNN; (4) Giai đoạn thực hiện tối ưu hóa cơ cấu chế độ sở hữu (từ sau năm 2002), sau nhiều năm cố gắng, tiến trình cải cách DNNN theo chế độ cổ phần, chế độ công ty đã có nhiều bước tiến mới.

Hai học giả cũng chỉ ra 7 vấn đề tồn tại trong cơ cấu chế độ sở hữu và trong quá trình phát triển của kinh tế ngoài chế độ công hữu của Trung Quốc: (1) Quan điểm lạc hậu về chế độ sở hữu vẫn còn tồn tại; (2) Quy mô, cơ cấu và bố cục ngành nghề vẫn tồn tại những thiên lệch về cơ cấu chế độ sở hữu; (3) Việc chuyển đổi chức năng của chính phủ chưa được thực hiện triệt để nên chưa thể 12 đáp ứng yêu cầu phát triển của kinh tế ngoài chế độ công hữu trong giai đoạn mới; (4) Thị trường tiếp nhận tiền vốn ngoài chế độ công hữu nhưng vẫn tồn tại chính sách phân biệt đối xử và hiện tượng “cửa kính”; (5) Không bình đẳng trong việc phân phối tài nguyên các yếu tố sản xuất như tiền vốn; (6) Chế độ bảo vệ và môi trường pháp lý đối với quyền tài sản tư hữu rất cần hoàn thiện ngay; (7) Cần nâng cao hơn nữa chất lượng của kinh tế ngoài chế độ công hữu. Từ đó, hai học giả đã nêu ra 6 kinh nghiệm cơ bản về cải cách chế độ sở hữu và phát triển kinh tế chế độ công hữu, đó là: (1) Giải phóng tư tưởng, lý luận chế độ sở hữu bắt kịp thời đại. (2) Tích cực áp dụng nhiều hình thức triển khai hiệu quả chế độ công hữu. (3) Điều chỉnh và thực hiện tối ưu hóa bố cục và cơ cấu của kinh tế nhà nước.

(4) Xây dựng, kiện toàn thể chế quản lý và giám sát tài sản nhà nước, trong đó trọng tâm là việc thực hiện tách chức năng quản lý công ra khỏi chức năng người đầu tư vốn của chính phủ, thực hiện kết hợp giữa việc quản lý tài sản với quản lý nhân sự, quản lý công việc. (5) Bảo vệ tài sản tư hữu, thúc đẩy kinh tế ngoài chế độ công hữu phát triển; (6) Kiên định “không dao động” trong việc khuyến khích, giúp đỡ, dìu dắt kinh tế ngoài chế độ công hữu phát triển. Về bổ nhiệm, kiểm tra, giám sát đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước trong các doanh nghiệp nhà nước và cải cách doanh nghiệp nhà nước Organisation for Economic Co-operation and Development (OECD) - Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế- là diễn đàn duy nhất mà các chính phủ của hơn 30 nước dân chủ làm việc với nhau (Úc, Áo, Bỉ, Canada, Cộng hòa Séc, Đan Mạch, Phần Lan, Pháp, Đức, Hy Lạp, Hungary, Iceland, Ireland, Ý, Nhật Bản, Hàn Quốc, Luxembourg, Mexico, Hà Lan, New Zealand, Na Uy, Ba Lan, Bồ Đào Nha, Cộng hòa Slovak, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Thụy Sĩ, Thổ Nhĩ Kỳ, Vương quốc Anh và Hoa Kỳ…) để giải quyết các thách thức kinh tế, xã hội và môi trường của toàn cầu hóa. Cuốn OECD Guidelines on Corporate Governance of State-owned Enterprises (Hướng dẫn của OECD về quản trị DNNN) ISBN 92-64-00942-6 [139], nhằm phổ biến rộng rãi các kết quả thống kê, thu thập và nghiên cứu về các vấn đề kinh tế, xã hội và môi trường, cũng như công ước, các 13 hướng dẫn và tiêu chuẩn đồng ý của các thành viên.

Trong đó chỉ rõ, quản trị DNNN là một thách thức lớn trong nhiều nền kinh tế, nhưng cho đến nay, vẫn chưa có bất kỳ tiêu chuẩn quốc tế nào giúp các chính phủ đánh giá và cải tiến cách thức thực hiện quyền sở hữu các DNNN vốn thường chiếm một phần đáng kể trong nền kinh tế.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Cơ Chế Đại Diện Chủ Sở Hữu Vốn Nhà Nước Trong Doanh Nghiệp Việt Nam" cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách thức quản lý và đại diện cho vốn nhà nước trong các doanh nghiệp tại Việt Nam. Tài liệu này phân tích các cơ chế hiện hành, vai trò của các cơ quan nhà nước trong việc giám sát và quản lý vốn, cũng như những thách thức mà các doanh nghiệp nhà nước đang phải đối mặt trong bối cảnh chuyển đổi kinh tế. Độc giả sẽ nhận được những thông tin hữu ích về cách thức tối ưu hóa hoạt động của doanh nghiệp nhà nước, từ đó nâng cao hiệu quả kinh doanh và đóng góp vào sự phát triển kinh tế quốc gia.

Để mở rộng thêm kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận án tiến sĩ kinh tế nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa ở việt nam, nơi cung cấp các giải pháp cụ thể nhằm cải thiện hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước. Bên cạnh đó, Luận văn thạc sĩ luật học pháp luật về tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về khung pháp lý và các quy định liên quan đến tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước. Cuối cùng, Đổi mới hoạt động của doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở việt nam sẽ cung cấp cái nhìn tổng quan về những đổi mới cần thiết để doanh nghiệp nhà nước có thể hoạt động hiệu quả hơn trong bối cảnh hiện tại. Những tài liệu này sẽ là nguồn tài nguyên quý giá giúp bạn nắm bắt và mở rộng kiến thức về cơ chế quản lý vốn nhà nước trong doanh nghiệp.