CHƯƠNG I: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH VÀ CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NHẬP KHẨU L TONG QUAN VE CO CHE VA CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ NHẬP KHẨU 1, Tổng quan về cơ chế quản lý nhâp khẩu 1.1 Khái niệm cơ chế quản lý nhập khẩu Khái niệm cơ chế được sử dụng trong nhiều ngành, nhiều lĩnh vực. Nhìn chung, khái niệm cơ chế dùng để chỉ sự tương tác giữa các yếu tố kết thành hệ thống mà nhờ đó hệ thống có thể hoạt động, chẳng hạn như cơ chế vận hành của máy móc thiết bị, cơ chế hoạt động của một tổ chức,. Theo quan điểm “động”, mỗi nền kinh tế cũng được coi là một hệ thống gồm nhiều thành phần khác nhau (Nhà nước, người tiêu dùng, các doanh nghiệp,.) cùng tương tác và vận hành hướng đến mục tiêu của mình. Do đó, ứng với mỗi nên kinh tế có một cơ chế kinh tế vận hành phù hợp.
Có thể hiểu, cơ chế kinh tế là tổng thể các yếu tố có mối liên hệ tác động qua lại lẫn nhau tạo thành động lực dẫn đắt nền kinh tế nhằm tới mục tiêu đã định. Thực chất của cơ chế kinh tế là sự tác động tương tác giữa chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý thông qua các chính sách công cụ vận hành theo các quy luật kinh tế. Như vậy, sẽ có 3 loại hình cơ chế kinh tế: (1) nền kinh tế chỉ huy vận hành theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung; (2) nền kinh tế thị trường vận hành theo cơ chế thị trường; (3) nên kinh tế hỗn hợp vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Úng với mỗi cơ chế kinh tế nhất định có một cơ chế quản lý kinh tế phù hợp.
Cơ chế quản lý kinh tế là các phương thức mà qua đó Nhà nước tac động vào nền kinh tế để định hướng nên kinh tế tự vận động nhằm tới các mục tiêu đã định. Cơ chế quản lý kinh tế là phương thức tác động của Nhà nước vào sự vận động của các quy luật kinh tế trong nền kinh tế, vì vậy cơ chế quản lý kinh tế cần thiết tự điều chỉnh không ngừng theo quy luật vận động của các quy luật kinh tế. Ngoại thương (xuất nhập khẩu) là một lĩnh vực kinh tế mũi nhọn của nền kinh tế quốc dân, đảm nhận chức năng lưu thông hàng hoá, dịch vụ giữa trong nước và ngoài nước, là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế. Hoạt động này cũng cần phải được quản lý theo một cơ chế nhất định, mang tính đặc thù.
Đó là cơ chế quản lý xuất nhập khẩu. Cơ chế quản lý kinh tế và cơ chế quản lý xuất nhập khẩu được xây dựng và ban hành trên cơ sở nhận thức và vận dụng các quy luật khách quan của nền kinh tế thị trường. Ở Việt Nam hiện nay, Đảng và Nhà nước ta chủ trương xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN có sự quản lý của Nhà nước. Do đó, cơ chế quản lý xuất nhập khẩu phải tuân thủ theo các quy luật của kinh tế thị trường có sự quản lý thống nhất của Nhà nước.
Có thể nói, cơ chế quản lý xuất nhập khẩu ra đời là một đòi hỏi khách quan. Việc xây dựng, điều chỉnh, hoàn thiện cơ chế quản lý xuất nhập khẩu vừa mang tính khoa học vừa mang tính nghệ thuật. Nó đòi hỏi vừa phải tuân theo các quy luật kinh tế khách quan, vừa đòi hỏi tài năng, nghệ thuật nắm bắt đúng các quy luật kinh tế đang hoạt động và tác động tích cực của các quy luật kinh tế đó trong những điều kiện kinh tế-xã hội trong nước và quốc tế cụ thể. Như vậy cơ chế quản lý xuất nhập khẩu có thể và cần thay đổi cho phù hợp với quy luật kinh tế khách quan, nghĩa là các công cụ, chính sách và nội dung của cơ chế quản lý xuất nhập khẩu có thể thay đổi.
Nhưng những thay đổi như trên không được xa rời mục tiêu của nó. Qua phân tích, nhóm nghiên cứu có thể đưa ra khái niệm về cơ chế quản lý nhập khẩu như sau: Cơ chế quản lý nhập khẩu là các phương thức mà qua đó Nhà nước tác động có định hướng theo những điều kiện nhất định vào các đối tượng (khách thể) tham gia hoạt động nhập khẩu nhằm đảm bảo cho sự tự vận động của hoạt động nhập khẩu hướng đến các mục tiêu kinh tế - xã hội đã định của Nhà nước. Sự cần thiết và nguyên tắc vận hành của cơ chế quản lý nhập khẩu 1. Sư cần thiết khách quan của cơ chế quản lý nhập khẩu.
Quản lý nền kinh tế quốc dân nói chung và quản lý hoạt động nhập khẩu nói riêng là một yêu cầu có tính khách quan. Sự cần thiết của cơ chế quản lý nhập khẩu xuất phát từ những yêu cầu sau: © Sự tác động của các quy luật kinh tế trong nền kinh tế thị trường ở phạm vi quốc gia cũng như quốc tế mang tính chất trực tiếp. Sự tác động đó làm cho nền kinh tế của mỗi quốc gia cũng như kinh tế toàn cầu hoạt động năng động, kích thích các nền kinh tế phát triển, hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả. Tuy nhiên, sự tác động đó cũng có nhiều mặt trái như: do chạy theo lợi nhuận nên xuất khẩu, nhập khẩu không tạo ra cơ cấu sản phẩm tối ưu cho xã hội; không chú ý đến bảo vệ môi trường, an ninh xã hội; cũng do chạy theo lợi nhuận nên các nhà sản xuất kinh doanh có thể làm bất cứ việc gì dù là buôn gian, bán lận, đâu cơ tích trữ để kiếm được nhiều lợi lộc.
Để bảo vệ lợi ích giai cấp mà Nhà nước là người đại diện, Nhà nước phải can thiệp vào thị trường để điều chỉnh, điều tiết hướng sự tác động của thị trường vào phục vụ lợi ích của nhân dân. e _ Cơ chế quản lý nhập khẩu là một bộ phận trong cơ chế quản lý kinh tế của một quốc gia. Do vậy, cần thiết xác lập một cơ chế nhập khẩu hợp lý giải phóng được lực lượng sản xuất của tất cả các thành phần kinh tế ở tất cả các cấp là hoàn toàn cần thiết đảm bảo thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội chung của cả nước. e Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, khu vực sản xuất ngày càng mang tính quốc tế hoá, trình độ xã hội hoá sản xuất ngày càng cao.
Để cho quá trình này diễn ra một cách chủ động, vừa tranh thủ được lợi ích do hội nhập mang lại, vừa không làm tổn hại đến lợi ích dân tộc, tất yếu đòi hỏi phải có sự quản lý tập trung của Nhà nước theo một cơ chế phù hợp, trong đó Nhà nước với vai trò của một “nhạc trưởng” có thể sử dụng bàn tay hữu hình của mình để điều tiết hoạt động kinh tế nói chung và nhập khẩu nói riêng. Điều này lại càng quan trọng đối với một nền kinh tế còn non yếu và đang chuyển đổi như Việt Nam. e Mỗi doanh nghiệp, mỗi nhà quản trị doanh nghiệp hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu trong một khuôn khổ hạn hẹp, với chức năng kinh doanh cụ thể đối với một số mặt hàng và thị trường nhất định. Do đó cách xác định hiệu quả kinh tế cũng hướng tới mục tiêu kinh tế cụ thể, hay nói một cách khác các doanh nghiệp chủ yếu thiên về tính ngắn hạn nhiều hơn dài hạn.
Do đó, các khía cạnh thường chỉ được xem xét trong thời gian ngắn và trong một không gian cũng hẹp, dẫn tới khả năng tự tạo lập những điều kiện, môi trường kinh doanh bị hạn chế. Vì vậy, doanh nghiệp rất cần sự hỗ trợ của Nhà nước để thực hiện chiến lược kinh doanh của mình. e Viéc mua ban hàng hoá - dịch vụ trên thị trường thế giới liên quan đến rất nhiều yếu tố: kinh tế, chính trị, luật pháp. Để tránh được những bất lợi trong kinh doanh, ổn định buôn bán lâu dài và hạn chế tác động xấu của các cuộc khủng hoảng kinh tế đòi hỏi phải có sự quản lý của Nhà nước.
Cơ chế tác động này sẽ đảm bảo cho hoạt động nhập khẩu thực hiện đúng với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia, đảm bảo được các cam kết với nước ngoài, tránh được những rủi ro, diễn biến xấu của thị trường thế giới. Nguyên tắc cơ bản vận hành cơ chế quản lý nhập khẩu Nguyên tắc vận hành cơ chế xuất nhập khẩu về cơ bản là sự nhất quán của quá trình phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia với các nguyên tắc quản lý kinh tế của Nhà nước nói chung và nguyên tắc quản lý xuất nhập khẩu nói riêng. Cu thé là: ©_ Cơ chế quản lý xuất nhập khẩu phải phù hợp với các quy luật khách quan, đặc biệt là các quy luật kinh tế, các quy luột của thị trường. Hoạt động sản xuất, lưu thông hàng hoá trong đó bao gồm hoạt động nhập khẩu đều phải tuân theo những quy luật khách quan của sản xuất và lưu thông hàng hoá.
Còn hoạt động quản lý của Nhà nước đối với hoạt động xuất nhập khẩu thông qua việc ban hành một cơ chế quản lý xuất nhập khẩu lại là hoạt động do ý chí chủ quan chỉ phối là chính. Vì vậy, đòi hỏi cơ chế quản lý xuất nhập khẩu đề ra phải phù hợp với sự tác động của các quy luật khách quan. Và chỉ có như vậy, hoạt động xuất nhập khẩu mới có thể phát triển vững chắc. Để thực hiện nguyên tắc này đòi hỏi đội ngũ lao động trong hệ thống chủ thể quản lý Nhà nước phải có đủ trình độ nhận biết và khả năng vận dụng các quy luật trong việc xây dựng cơ chế, chính sách xuất nhập khẩu phù hợp với các yêu cầu của quy luật kinh tế.
e_ Cơ chế quản lý nhập khẩu phải đảm bảo thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ trong quản lý. Cơ chế đó phải đảm bảo cho Nhà nước với tư cách là người chỉ huy, phải đảm bảo mọi hoạt động nhập khẩu với nước ngoài theo đúng định hướng của Nhà nước. Đồng thời, với tư cách là người điều tiết và điều chỉnh hoạt động thương mại với nước ngoài, Nhà nước cần tôn trọng và đảm bảo phát huy cao nhất tính năng động, tính chủ động trong sản xuất, kinh doanh của các chủ doanh nghiệp phù hợp với điều kiện của nền kinh tế thị trường và thị trường quốc tế.