PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Vốn kinh doanh là tiền đề tiên quyết cho sự hình thành và phát triển của mọi doanh nghiệp nào. Để đảm bảo đủ lượng vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp phải thực hiện tốt khâu huy động và tổ chức nguồn vốn. Mỗi loại nguồn vốn sẽ có chi phí sử dụng, thời gian sử dụng, và phương thức huy động khác nhau.
Các doanh nghiệp thường sử dụng phối hợp nhiều loại nguồn vốn, nhằm tạo ra một cơ cấu nguồn vốn hợp lý, tối ưu; không những giúp doanh nghiệp giảm thiểu chi phí sử dụng vốn bình quân mà còn gia tăng giá trị doanh nghiệp và tối đa hoá lợi ích cho các chủ sở hữu. Quyết định cơ cấu nguồn vốn là một trong ba quyết định tài chính chiến lược của doanh nghiệp, đảm bảo nguồn lực tài chính để thực hiện hoạt động đầu tư dài hạn, tạo ra giá trị kinh tế gia tăng cho doanh nghiệp và chủ sở hữu, duy trì sự an toàn tài chính cũng như đảm bảo sự phát triển bền vững của doanh nghiệp. Nghiên cứu về cơ cấu nguồn vốn hiện đại(*) chính thức được thúc đẩy sau khi Modigliani và Miller (1958) đưa ra mệnh đề về tác động của cơ cấu nguồn vốn đến giá trị doanh nghiệp. Trải qua hơn sáu thập kỷ, cơ cấu nguồn vốn tiếp tục là chủ đề nhận được sự quan tâm sâu sắc của nhiều nhà nghiên cứu, về cả khung lý thuyết nền tảng cũng như bằng chứng thực nghiệm.
Các nghiên cứu đã làm sáng tỏ những lý thuyết liên quan đến cơ cấu nguồn vốn trong những bối cảnh nghiên cứu khác nhau. Đồng thời, các nghiên cứu cũng vận dụng các lý thuyết nền tảng để làm rõ hành vi của các nhà quản trị khi ra quyết định về cơ cấu nguồn vốn. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm cho thấy sự đa dạng của cơ cấu nguồn vốn ở các quốc gia, các thị trường, các ngành nghề, các đặc điểm thể chế, các giai đoạn phát triển. Những kết quả này, không những khẳng định tính đặc thù của cơ cấu nguồn vốn, mà còn cho thấy sự cần thiết phải có thêm những nghiên cứu về cơ cấu nguồn vốn trong những điều kiện, bối cảnh, ngành nghề khác nhau nhằm cung cấp cái nhìn đa diện về cơ cấu nguồn vốn doanh nghiệp.
Việt Nam, với những đặc điểm riêng có về thể chế, tốc độ tăng trưởng, thị trường tài chính, chính sách kinh tế vĩ mô,…đã được nhiều học giả lựa chọn làm bối cảnh cho những nghiên cứu thực nghiệm về cơ cấu nguồn vốn. Những nghiên cứu này đã cung cấp bằng chứng thực nghiệm về cơ cấu nguồn vốn tại Việt Nam thông qua làm rõ những nhân (*) Nghiên cứu đầu tiên về cơ cấu nguồn vốn là của David Durand vào năm 1952. Trong nghiên cứu này, Durand đề xuất cách tiếp cận thu nhập thuần (net income approach) của cơ cấu nguồn vốn. Theo đó, doanh nghiệp có thể tăng giá trị hoặc giảm chi phí sử dụng vốn bằng cách sử dụng nợ vay.
Trái lại, cách tiếp cận thu nhập hoạt động thuần (net operating approach) cho rằng doanh nghiệp không thể tăng giá trị thông qua điều chỉnh cơ cấu nguồn vốn. Solomon năm 1963 đưa ra lý thuyết truyền thống của cơ cấu nguồn vốn khi cho rằng quan điểm chi phí sử dụng vốn của một công ty độc lập với cấu trúc tài chính là không phù hợp. Tồn tại điểm mà chi phí sử dụng nợ vay cận biên có thể cao hơn, bằng, hoặc thấp hơn chi phí sử dụng vốn bình quân của doanh nghiệp. Nói cách khác, tồn tại cơ cấu nguồn vốn tối ưu khi chi phí cận biên sử dụng nợ vay bắt đầu cao hơn chi phí sử dụng vốn bình quân của doanh nghiệp.
1 tố ảnh hưởng đến cơ cấu nguồn vốn của các doanh nghiệp trong các ngành nghề, lĩnh vực, ở các giai đoạn khác nhau. Mỗi nghiên cứu là một mảnh ghép giúp bức tranh cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp Việt Nam ngày càng thêm hoàn thiện. Trong suốt tiến trình xây dựng và đổi mới diện mạo đất nước, ngành vật liệu xây dựng đóng vai trò xương sống, quyết định chất lượng, giá thành và thời gian thi công các công trình xây dựng. Chi phí nguyên vật liệu chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng giá thành xây dựng: 75% - 80% đối với các công trình dân dụng và công nghiệp; 70% -75% đối với các công trình giao thông; 50 - 55% đối với các công trình thủy lợi.
Sự phát triển của ngành xây dựng luôn luôn song hành với sự phát triển của ngành vật liệu xây dựng. Ngành cũng có những đóng góp đáng kể vào nền kinh tế, giá trị sản lượng VLXD thường chiếm đến 7%- 8% GDP Việt Nam. Ngành VLXD nhận được sự quan tâm và ưu đãi từ phía Nhà nước, đã trở thành ngành công nghiệp mũi nhọn của nền kinh tế Việt Nam. Các sản phẩm VLXD chủ yếu như thép, xi măng, kính xây dựng, sứ vệ sinh, gạch ốp lát, gạch xây,… đã có những sự thay đổi vượt bậc, từ chỗ thiếu hụt nguồn cung và phải nhập khẩu, Việt Nam đã vươn lên thành nước xuất khẩu một số chủng loại VLXD hàng đầu khu vực.
Bên cạnh những kết quả đó, ngành công nghiệp VLXD nước ta còn nhiều bất cập, hạn chế về công nghệ sản xuất. Nhiều nhà máy có công nghệ, kỹ thuật lạc hậu; tiêu tốn nhiều năng lượng, nguyên liệu, vật tư; năng suất lao động thấp; gây ô nhiễm môi trường sinh thái; có chi phí sản xuất cao; hoạt động sản xuất, kinh doanh kém hiệu quả; năng lực cạnh tranh hạn chế. Đồng thời, tình trạng đầu tư ào ạt tràn lan theo phong trào, không tuân thủ quy hoạch, không quan tâm đến cung cầu, không tính đầy đủ đến nguồn tài nguyên, điều kiện vận tải, hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội gây lãng phí vốn đầu tư và thiệt hại nguồn lực của doanh nghiệp và xã hội. Hoạt động nghiên cứu phát triển đổi mới sản phẩm và công nghệ sản xuất ít được các doanh nghiệp chú ý đến.
Vấn đề ô nhiễm môi trường và xử lý chất thải trong sản xuất vật liệu xây dựng chưa được quan tâm của các doanh nghiệp. Khủng hoảng kinh tế thế giới 2008 gây những tác động đáng kể đến nền kinh tế Việt Nam cũng như các DN ngành VLXD. Trong giai đoạn 2009-2015, hàng loạt doanh nghiệp trong ngành có lợi nhuận sụt giảm và thua lỗ kéo dài; không đủ sức cạnh tranh dẫn đến phải đóng cửa, dừng sản xuất hoặc sản xuất cầm chừng; thực hiện sáp nhập, tái cơ cấu. Cụ thể, hệ số nợ của các DNNY ngành xi măng tăng từ 57,96% (2009) lên mức 70,4% (2014); tỷ trọng nguồn vốn thường xuyên sụt giảm từ mức 69,02% (2009) xuống mức 57,84% (2014) đã cho thấy sự mất cân bằng tài chính trong chính sách huy động vốn của các DN này.
Nguyên nhân chính đến từ việc các DN ngành VLXD thiếu chiến lược huy động vốn dài hạn. Hoạt động huy động vốn của các DN còn mang tính chủ quan, nặng về ứng phó và thiếu tính bền vững. Sau một thời gian đầu tư ồ ạt, các DN NY trong ngành 2 VLXD có hệ số nợ vay quá cao, mô hình tài trợ thiếu an toàn tài chính, gánh nặng lãi vay lớn, và nguy phá sản cao. Ngày 18 tháng 8 năm 2020, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 1266/QĐ-TTg phê duyệt chiến lược phát triển vật liệu xây dựng Việt Nam thời kỳ 2021- 2030, định hướng đến năm 2050, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2021.
Quyết định này nêu bật quan điểm “ phát triển ngành vật liệu xây dựng hiệu quả, bền vững, đáp ứng cơ bản nhu cầu trong nước, từng bước tăng cường xuất khẩu, góp phần thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội”, đặc biệt chú trọng đến việc “ sử dụng hiệu quả tài nguyên, triệt để tiết kiệm năng lượng, nguyên liệu, nhiên liệu”; “ phân bổ mạng lưới cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng trên toàn quốc phù hợp với điều kiện về tự nhiên, xã hội của từng vùng miền”. Sau khi Quyết định 1266/QĐ-TTg được ban hành và đi vào vận dụng, các địa phương đã lần lượt ban hành các quyết định quy hoạch phát triển vật liệu xây dựng tại địa phương. Trong bối cảnh đầu tư công giai đoạn 2021-2025 tăng mạnh, với gần 2,9 triệu tỷ đồng, nhu cầu về vật liệu xây dựng để triển khai các dự án đầu tư công là rất lớn. Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp ngành VLXD phải có những chiến lược và chính sách huy động vốn phù hợp, hiệu quả nhằm đảm bảo hoạt động bền vững cho toàn ngành.
Do đó, vận dụng những lý thuyết về CCNV để nhận diện, đánh giá; từ đó, đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện cơ cấu nguồn vốn cho các DN ngành VLXD là một đòi hỏi cấp thiết về mặt lý luận cũng như thực tiễn. Xuất phát từ đòi hỏi này, tác giả đã lựa chọn đề tài “Cơ cấu nguồn vốn của các doanh nghiệp niêm yết trong ngành vật liệu xây dựng ở Việt Nam” làm chủ đề nghiên cứu trong luận án tiến sĩ của mình. Mục tiêu nghiên cứu của luận án 2. Mục tiêu nghiên cứu tổng quát Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là làm rõ cơ cấu nguồn vốn của các doanh nghiệp niêm yết trong ngành ở Việt Nam; từ đó, đưa ra những đánh giá về CCNV và đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện CCNV cho các DN niêm yết trong ngành VLXD ở Việt Nam 2.
Nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể Để đạt được mục tiêu nghiên cứu trên, luận án lần lượt thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu sau: Thứ nhất, làm rõ những vấn đề lý luận cơ sở về nguồn vốn và CCNV của DN thông qua hệ thống hoá những lý thuyết nền tảng về cơ cấu nguồn vốn, những nhân tố ảnh hưởng đến cơ cấu nguồn vốn, tác động của cơ cấu nguồn vốn đến hoạt động của doanh nghiệp, và những bài học kinh nghiệm về hoạch định cơ cấu nguồn vốn của các DN ngành VLXD trên thế giới. 3 Thứ hai, làm rõ và đánh giá thực trạng CCNV của các DN NY trong ngành VLXD ở Việt Nam thông qua mô tả, phân tích định tính và lượng hoá ảnh hưởng của các nhân tố đến CCNV của các DN NY trong ngành VLXD. Thứ ba, đánh giá tác động của CCNV đến chi phí sử dụng vốn, rủi ro, và TSSL của các DN NY trong ngành VLXD ở Việt Nam; làm rõ những điểm mạnh và những hạn chế còn tồn tại trong CCNV của các DN NY trong ngành VLXD ở Việt Nam.