Khóa luận tốt nghiệp luật học pháp luật về chuyển nhượng cổ phần trong công ty cổ phần theo luật doanh nghiệp năm 2020

Khóa luận tốt nghiệp luật học phân tích chuyển nhượng cổ phần trong công ty cổ phần theo luật doanh nghiệp năm 2020, các quy định và ứng dụng.

Trường đại học

Đại học Luật Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2025

93
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và đặc điểm chuyển nhượng cổ phần trong công ty cổ phần

Chuyển nhượng cổ phần là một giao dịch quan trọng trong hoạt động của công ty cổ phần (CTCP), cho phép cổ đông chuyển quyền sở hữu và quyền kiểm soát cổ phần của mình sang người khác. Theo Luật Doanh nghiệp 2020, chuyển nhượng cổ phần là hành động pháp lý có tính chất dân sự, được thực hiện tự do giữa các bên giao dịch. Đặc điểm nổi bật của chuyển nhượng cổ phần bao gồm tính tự do về chủ thể, tính linh hoạt trong hình thức, và tính thanh khoản cao. Giao dịch này không chỉ mang lại lợi ích cho cổ đông khi muốn rút vốn hoặc thay đổi danh mục đầu tư, mà còn giúp CTCP thu hút vốn mới và phát triển bền vững. Chuyển nhượng cổ phần được thực hiện thông qua các hợp đồng hợp pháp, đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các bên tham gia.

1.1. Định nghĩa và bản chất pháp lý

Chuyển nhượng cổ phần là giao dịch dân sự có tính chất chuyển giao quyền sở hữu cổ phần từ bên chuyển nhượng (người bán) sang bên nhận nhượng (người mua). Theo Luật Doanh nghiệp 2020, đây là một hành động pháp lý được pháp luật công nhận và bảo vệ. Bản chất của chuyển nhượng cổ phần là việc chuyển giao toàn bộ quyền và nghĩa vụ liên quan đến cổ phần, bao gồm quyền biểu quyết, quyền nhận cổ tức, quyền tham gia quản lý công ty.

1.2. Đặc điểm và tính chất của chuyển nhượng cổ phần

Chuyển nhượng cổ phần có những đặc điểm riêng biệt: thứ nhất, tính tự do chuyển nhượng là nguyên tắc cơ bản; thứ hai, tính thanh khoản cao giúp nhà đầu tư dễ dàng rút vốn; thứ ba, tính linh hoạt trong lựa chọn đối tượng nhận nhượng. Ngoài ra, chuyển nhượng cổ phần phải tuân thủ các quy định pháp luật, điều lệ công ty, và có thể bị hạn chế trong trường hợp cổ phần là cổ phần phổ thông hoặc cổ phần ưu đãi.

II. Quy định pháp luật về chuyển nhượng cổ phần theo Luật Doanh nghiệp 2020

Luật Doanh nghiệp 2020 đã thiết lập những quy định chi tiết và toàn diện về chuyển nhượng cổ phần trong CTCP. Pháp luật này quy định rõ các điều kiện, hình thức, thủ tục và hệ quả pháp lý của giao dịch chuyển nhượng cổ phần. Một trong những quy định quan trọng là việc đảm bảo quyền ưu tiên mua cho các cổ đông hiện hữu và công ty cổ phần khi có nhu cầu chuyển nhượng. Luật Doanh nghiệp 2020 cũng yêu cầu công ty phải cập nhật sổ đăng ký cổ đông kịp thời và thông báo cho các cổ đông liên quan. Pháp luật này còn quy định về các trường hợp hạn chế chuyển nhượng cổ phần, chẳng hạn như khi có cam kết gián tiếp, hoặc khi điều lệ công ty có quy định riêng.

2.1. Các trường hợp chuyển nhượng cổ phần được phép

Theo Luật Doanh nghiệp 2020, chuyển nhượng cổ phần được phép trong các trường hợp sau: chuyển nhượng tự do cho bất kỳ ai; chuyển nhượng có quyền ưu tiên mua; chuyển nhượng theo yêu cầu của cổ đông khác hoặc công ty. Cổ phần phổ thông có thể chuyển nhượng tự do, trong khi cổ phần ưu đãi có thể bị hạn chế tuỳ theo điều lệ công ty. Chuyển nhượng cổ phần phải được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật và điều lệ công ty, đảm bảo tính minh bạch và công bằng cho tất cả các bên.

2.2. Hình thức pháp lý và thủ tục chuyển nhượng cổ phần

Chuyển nhượng cổ phần được thực hiện thông qua hợp đồng chuyển nhượng được lập bằng văn bản. Hợp đồng phải bao gồm các nội dung cơ bản như: các bên tham gia, số lượng và loại cổ phần, giá chuyển nhượng, và điều kiện thanh toán. Thủ tục chuyển nhượng cổ phần bao gồm: ký hợp đồng, thông báo cho công ty, cập nhật sổ đăng ký cổ đông, và hoàn tất các yêu cầu pháp lý. Công ty phải cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu cổ phần cho bên nhận nhượng sau khi hoàn tất thủ tục.

III. Thực tiễn thi hành pháp luật về chuyển nhượng cổ phần tại Việt Nam

Thực tiễn thi hành pháp luật về chuyển nhượng cổ phần tại Việt Nam đã cho thấy những tiến bộ đáng kể nhưng cũng còn tồn tại những hạn chế. Các doanh nghiệp và nhà đầu tư ngày càng thấy rõ tầm quan trọng của việc tuân thủ các quy định pháp luật trong chuyển nhượng cổ phần. Thực tế cho thấy, Luật Doanh nghiệp 2020 đã tạo điều kiện thuận lợi cho các giao dịch chuyển nhượng cổ phần, nhất là trong bối cảnh thị trường chứng khoán phát triển. Tuy nhiên, vẫn còn những khó khăn trong việc hiểu rõ quy định, thực hiện thủ tục, và giải quyết các tranh chấp liên quan đến chuyển nhượng cổ phần. Các cơ quan chức năng cần tiếp tục tuyên truyền, hướng dẫn và giám sát việc thi hành pháp luật để đảm bảo hiệu quả.

3.1. Những thành tựu đạt được trong thi hành pháp luật

Thực tiễn thi hành pháp luật về chuyển nhượng cổ phần đã đạt được những thành tựu: số lượng giao dịch chuyển nhượng cổ phần tăng lên đáng kể; quy định pháp luật trở nên rõ ràng và cụ thể hơn; các CTCP ngày càng tuân thủ tốt hơn các quy định. Công tác đăng ký doanh nghiệpcấp giấy chứng nhận được tối ưu hóa, giúp các giao dịch diễn ra nhanh chóng hơn.

3.2. Những bất cập còn tồn tại

Tuy nhiên, vẫn còn những bất cập: hiểu biết của các doanh nhân về quy định chuyển nhượng cổ phần còn hạn chế; tranh chấp liên quan đến chuyển nhượng cổ phần vẫn xảy ra; hỗ trợ pháp lý cho các bên tham gia chưa đầy đủ; quy định về quyền ưu tiên mua chưa được thực hiện nhất quán.

IV. Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về chuyển nhượng cổ phần

Để nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về chuyển nhượng cổ phần, cần có những giải pháp toàn diện và lâu dài. Phương hướng chính bao gồm: hoàn thiện thể chế pháp luật, xây dựng hệ thống quy định thống nhất và đồng bộ, tăng cường quản lý Nhà nước, và đảm bảo quyền lợi của các bên. Giải pháp hoàn thiện pháp luật cần tập trung vào việc làm rõ các trường hợp chuyển nhượng cổ phần, hoàn thiện quy định về hợp đồng chuyển nhượng, và sửa đổi các thủ tục để phù hợp hơn. Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục pháp luật, tăng cường thanh tra kiểm tra, và tạo môi trường kinh doanh bình đẳng để chuyển nhượng cổ phần phát triển bền vững.

4.1. Hoàn thiện thể chế và pháp luật về chuyển nhượng cổ phần

Cần xây dựng hệ thống pháp luật về chuyển nhượng cổ phần thống nhất, đồng bộ, khả thi, công khai và minh bạch. Phải rõ ràng hóa các quy định về quyền ưu tiên mua, điều kiện chuyển nhượng, và trách nhiệm của các bên. Đồng thời, cần tăng cường quản lý Nhà nước đối với hoạt động chuyển nhượng cổ phần và đảm bảo quyền lợi của các cổ đông.

4.2. Nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật

Giải pháp nâng cao hiệu quả bao gồm: đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục pháp luật về chuyển nhượng cổ phần; tăng cường thanh tra, kiểm tra việc thi hành; tạo môi trường kinh doanh bình đẳng; hỗ trợ các CTCP trong việc tuân thủ quy định; xây dựng cơ chế giải quyết tranh chấp hiệu quả.

11/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Những vấn đề lý luận về chuyển nhượng cổ phần và pháp luật về chuyển nhượng cổ phần trong công ty cổ phần. Pháp luật về chuyển nhượng cổ phần trong công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp năm 2020 và thực tiễn thi hành tại Việt Nam. Một số phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về chuyển nhượng cổ phần trong công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp năm 2020.

KHÁI QUÁT VỀ CHUYỂN NHƯỢNG CỔ PHẦN VÀ PHÁP LUẬT VỀ CHUYỂN NHƯỢNG CỔ PHẦN TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN 1. Khái quát về công ty cổ phần, cổ phần và chuyển nhượng cổ phần trong công ty cổ phần 1. Khái niệm, đặc điểm công ty cổ phần 1. Khái niệm công ty cổ phần Vào thế kỷ XIII, ở các thành phố lớn tại Châu Âu, các công ty thương mại đối nhân đầu tiên xuất hiện khi thương gia liên kết để kinh doanh và buôn bán xa.

Ban đầu, yếu tố nhân thân và niềm tin đóng vai trò quan trọng. Khi giao thương và sản xuất phát triển, các nhà kinh doanh cạnh tranh tìm kiếm thị trường và mở rộng quy mô, với trọng tâm là năng lực tài chính. Đến thế kỷ XVIII và XIX, nhờ cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, CTCP ra đời tại Châu Âu và Bắc Mỹ. Những CTCP đầu tiên trên thế giới có thể kể đến như Công ty Đông Ấn Anh (East India Company), Công ty Đông Ấn Hà Lan (Dutch East India Company) hay Công ty Mississippi Pháp.

Sang thế kỷ XX, công ty phát triển mạnh về số lượng, tổ chức và hình thức hoạt động, đặc biệt nổi bật là các công ty xuyên quốc gia và đa quốc gia. Ngày nay, CTCP đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế toàn cầu, là hình thức tổ chức doanh nghiệp ưu việt cho việc huy động vốn và phát triển kinh doanh. Xét dưới góc độ kinh tế, CTCP là một tổ chức kinh tế chuyên thực hiện các hoạt động kinh doanh để kiếm lợi nhuận. Xét dưới góc độ pháp lý, CTCP là một pháp nhân, được thành lập dựa trên cơ sở góp vốn cổ phần của các tổ chức, cá nhân.

Trên thế giới, có rất nhiều nhà nghiên cứu, luật gia đã đưa ra định nghĩa về CTCP. Trong cuốn Đại từ điển kinh tế thị trường của CHND Trung Hoa, CTCP (được gọi là công ty hữu hạn cổ phần) được định nghĩa “là một loại hình công ty mà toàn bộ vốn chia thành các cổ phần có mức bằng nhau, cổ phần phát hành công khai theo luật pháp bằng hình thức cổ phiếu, tài sản cá nhân tách riêng khỏi tài sản công ty, trách nhiệm đối với các món nợ của công ty hạn chế ở mức bỏ vốn của từng người”5. 5 Nguyễn Hữu Quỳnh (1998), Đại từ điển kinh tế thị trường: tài liệu dịch để tham khảo, Nhà xuất bản Viện nghiên cứu và phổ biến tri thức Bách khoa Hà Nội, tr. 6 Theo khoản 1 Điều 1041 Companies Act 2006 (Đạo luật Công ty Anh năm 2006) định nghĩa: CTCP có nghĩa là một công ty có vốn điều lệ đã góp hoặc danh nghĩa của tổng số vốn cố định được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần, cũng số vốn cố định, hoặc được nắm giữ và chuyển giao như chứng khoán, hoặc được nắm giữ một phần bằng cách này hay cách khác; được thành lập trên nguyên tắc có các thành viên sở hữu cổ phiếu hoặc chứng khoán đó và không có những người khác6.

Pháp luật Pháp thì quy định hai hình thức CTCP đó là CTCP đại chúng (Société Anonyme - SA) và CTCP giản lược (Société par actions simplifiée - SAS). Đối với SA, pháp luật Pháp quy định số lượng cổ đông tối thiểu trong công ty chưa niêm yết là 02, trong công ty đã niêm yết trên TTCK là 07 và số vốn điều lệ tối thiểu phải là 37. Còn đối với SAS, số lượng cổ đông tối thiểu là 01, không quy định về mức vốn điều lệ tối thiểu và không được phép giao dịch trên TTCK7. Tại Việt Nam, sự hình thành và phát triển của CTCP gắn liền với quá trình đổi mới kinh tế.

Trước năm 1986, Việt Nam áp dụng mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung, không tồn tại loại hình doanh nghiệp tư nhân, các hình thức huy động vốn trong xã hội không được tổ chức chính thức. Nhưng vào tháng 12/1986, Đại hội Đảng lần thứ VI khởi xướng công cuộc đổi mới, thúc đẩy kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và khuyến khích sự tham gia của khu vực kinh tế tư nhân. Luật Công ty năm 1990 và Luật Doanh nghiệp tư nhân năm 1990 là bước ngoặt quan trọng, lần đầu tiên công nhận các hình thức doanh nghiệp tư nhân, bao gồm CTCP. Hiện nay, CTCP trở thành một hình thức tổ chức kinh tế quan trọng, góp phần thúc đầy phát triển kinh tế.

Các CTCP lớn của Việt Nam ngày càng mở rộng hoạt động ra thị trường quốc tế, nâng cao vị thế của nền kinh tế Việt Nam. Khái niệm về CTCP ở Việt Nam được quy định tại Điều 111 LDN năm 2020, cụ thể như sau: “1. Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó: a) Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; b) Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là 03 và không hạn chế số lượng tối đa; 6 Khoản 1 Điều 1040 Companies Act 2006.fr/vosdroits/F37402, truy cập vào 20/03/2025. 7 c) Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp; d) Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 120 và khoản 1 Điều 127 của Luật này.

Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Công ty cổ phần có quyền phát hành cổ phần, trái phiếu và các loại chứng khoán khác của công ty.” Tương tự như LDN năm 2014, pháp luật Việt Nam hiện nay định nghĩa CTCP bằng cách nêu ra các đặc điểm pháp lý cơ bản của loại hình doanh nghiệp này. Như vậy, có thể thấy, định nghĩa CTCP ở mỗi quốc gia có những điểm khác biệt do sự khác nhau về tình hình kinh tế, xã hội. Tuy nhiên, tựu chung lại vẫn có sự thống nhất về khái niệm CTCP trên thế giới như sau: CTCP là loại hình công ty mà vốn điều lệ của nó được chia thành những phần bằng nhau gọi là cổ phần.

Người nắm giữ cổ phần là gọi là cổ đông và chịu TNHH đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản của công ty trong phạm vi số vốn mà mình đã góp. CTCP có tư cách pháp nhân và có quyền phát hành các loại chứng khoán để huy động vốn. Đặc điểm công ty cổ phần Trước hết, CTCP mang đầy đủ những đặc điểm của công ty nói chung, bao gồm: Một là, sự liên kết của nhiều cá nhân hoặc pháp nhân, sự liên kết này được thể hiện ở hình thức bên ngoài gọi là công ty. Hai là, các thành viên bỏ ra một số tài sản của mình để góp vào công ty.

Đây là điều kiện quan trọng để thành lập công ty. Tuy nhiên, vai trò của vốn góp đối với các loại công ty là khác nhau. Ba là, mục đích của việc thành lập công ty là để kinh doanh kiếm lời chia nhau và nếu có rủi ro (thua lỗ) thì cùng nhau gánh chịu. Mức độ gánh chịu rủi ro sẽ khác nhau tùy thuộc vào vốn góp và loại hình công ty.8 Bên cạnh đó, CTCP còn có những đặc điểm riêng sau đây: Thứ nhất, về vốn điều lệ của CTCP.

8 Trường Đại học Luật Hà Nội (2023), Giáo trình Luật Thương mại Việt Nam - Tập 1, Nhà xuất bản Tư pháp, tr. 8 Vốn điều lệ của CTCP được chia thành các phần bằng nhau gọi là cổ phần, mỗi cổ phần có một giá trị nhất định gọi là mệnh giá cổ phần và được phản ánh trong cổ phiếu và Điều lệ công ty. Mỗi cổ đông có thể mua nhiều cổ phần, trừ trường hợp pháp luật hoặc Điều lệ công ty có quy định giới hạn số lượng cổ phần mỗi người có thể mua, việc này nhằm tránh sự kiểm soát quá lớn của một cổ đông đơn lẻ do sở hữu nhiều vốn góp. Ví dụ như hạn chế nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần của các công ty trong nước ở một số ngành nghề theo quy định.

Tại Việt Nam, pháp luật không quy định mức vốn điều lệ tối thiểu cho CTCP, điều này có nghĩa là doanh nghiệp có thể tự do quyết định số vốn điều lệ phù hợp với nhu cầu kinh doanh và khả năng huy động vốn. Tuy nhiên, có những yếu tố và quy định pháp lý liên quan đến mức vốn điều lệ mà doanh nghiệp cần tuân theo, được xác định dựa trên ngành nghề kinh doanh. Ví dụ ngành nghề kinh doanh bảo hiểm nhân thọ yêu cầu công ty có số vốn điều lệ tối thiểu là 750 tỷ Việt Nam đồng 9. Thứ hai, về cổ đông CTCP.

Cổ đông là cá nhân, tổ chức sở hữu ít nhất một cổ phần của CTCP10, trừ những trường hợp không có quyền góp vốn, mua cổ phần vào CTCP theo quy định tại khoản 3 Điều 17 LDN năm 2020. Cổ đông là thành viên công ty và chỉ chịu trách nhiệm về các hoạt động của công ty trong phạm vi số cổ phần mà mình sở hữu. Các cách phân loại cổ đông gồm có hai cách là phân loại dựa vào thời điểm hình thành tư cách cổ đông và phân loại dựa vào loại cổ phần mà cổ đông sở hữu. Một là, dựa vào thời điểm hình thành tư cách cổ đông, có hai loại cổ đông là: cổ đông sáng lập và cổ đông góp vốn thông thường.

Cổ đông sáng lập là cổ đông sở hữu ít nhất một cổ phần phổ thông và ký tên trong danh sách cổ đông sáng lập CTCP. Một CTCP mới thành lập phải có ít nhất 03 cổ đông sáng lập và các cổ đông sáng lập phải cùng nhau đăng ký mua ít nhất 20% tổng số cổ phần phổ thông được quyền chào bán khi đăng ký thành lập doanh nghiệp. Cổ đông góp vốn thông thường là cổ đông góp vốn sau khi thành lập doanh nghiệp. Hai là, dựa vào loại cổ phần mà cổ đông sở hữu, có hai loại cổ đông là: cổ đông phổ thông và cổ đông ưu đãi.

Cổ đông phổ thông là cổ đông sở hữu cổ phần phổ 9 Khoản 1 Điều 35 Nghị định 46/2023/NĐ-CP ngày 01 tháng 07 năm 2023 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Kinh doanh Bảo hiểm. 10 Khoản 3 Điều 4 LDN năm 2020.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ