Tổng quan về luận án
Sự bùng nổ của các phương tiện truyền thông hiện đại và giao tiếp đa phương thức (multimodal communication) đặt ra yêu cầu cấp thiết cho ngành ngôn ngữ học trong việc mở rộng đối tượng nghiên cứu ra ngoài phạm vi văn bản ngôn từ truyền thống. Nghiên cứu thực nghiệm trong tâm lý học giao tiếp chỉ ra rằng: "trong tổng tác dụng của một thông điệp thì lời nói (chỉ xét riêng từ ngữ) chiếm khoảng 7%, thanh âm (bao gồm giọng nói, ngữ điệu và các âm thanh khác) chiếm 38%, còn ngôn ngữ không lời chiếm đến 55%" [1; 32]. Luận án tiến sĩ ngữ văn chuyên ngành Ngôn ngữ học (Mã số: 62 22 02 40) của tác giả Đoàn Tiến Lực tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Nguyễn Thị Ngân Hoa và PGS.TS. Đặng Thị Hảo Tâm, là công trình tiên phong tại Việt Nam tiếp cận sự chuyển thể nghệ thuật từ văn học sang điện ảnh dưới lăng kính ký hiệu học ngôn ngữ và lý thuyết chuyển dịch liên kí hiệu (intersemiotic translation).
Khoảng trống học thuật (research gap) cốt lõi được nhận diện: Các công trình trước đây tại Việt Nam chủ yếu phân tích chuyển thể tác phẩm dưới góc độ thi pháp học, lý luận văn học thuần túy hoặc bình luận nghệ thuật điện ảnh đơn lẻ, hoàn toàn vắng bóng các mô hình phân tích cấu trúc ngôn ngữ - ký hiệu học định lượng và định tính nhằm giải mã bản chất sự dịch chuyển từ mã ngôn từ nghệ thuật (verbal artistic code) sang mã hình ảnh - âm thanh điện ảnh (audiovisual cinematographic code).
Nghiên cứu giải quyết 3 câu hỏi nghiên cứu (Research Questions - RQ) và kiểm chứng 3 giả thuyết tương ứng:
- RQ1: Quá trình chuyển dịch từ các tín hiệu - biểu tượng ngôn từ (word-symbols) trong văn bản truyện kể văn học (VBTKVH) sang các tín hiệu - biểu tượng hình ảnh điện ảnh (visual-symbols) trong phim truyện điện ảnh (PTĐA) diễn ra theo những xu hướng ngữ nghĩa và cú pháp nào?
- RQ2: Sự biến đổi của ngôn ngữ đối thoại từ dạng viết (văn học) sang dạng âm thanh/nói (điện ảnh) tuân theo những cơ chế biến đổi ngữ dụng, cấu trúc hội thoại và tương tác liên nhân nào?
- RQ3: Những yếu tố nào trong hệ thống giao tiếp nghệ thuật (mã ngôn ngữ, thông điệp tác giả, ngữ cảnh văn hóa, chủ thể tiếp nhận) chi phối các xu hướng chuyển đổi này?
Khung lý thuyết của luận án được xây dựng dựa trên sự tích hợp các nền tảng: Lý thuyết cấu trúc tín hiệu học của Ferdinand de Saussure, Charles Sanders Peirce, Louis Hjelmslev, Roland Barthes; Ký hiệu học điện ảnh và văn bản nghệ thuật của Yuri Mikhailovich Lotman; Lý thuyết chuyển dịch liên kí hiệu của Roman Jakobson; Ngữ pháp chức năng hệ thống của Michael Halliday và Ngữ dụng học hội thoại của Herbert Paul Grice.
Phạm vi ngữ liệu nghiên cứu tập trung vào 12 tác phẩm văn học tiêu biểu thuộc hai thể loại tiểu thuyết và truyện ngắn cùng 12 bộ phim truyện điện ảnh chuyển thể tương ứng trong giai đoạn 10 năm (1995–2014) – giai đoạn bản lề của điện ảnh Việt Nam đương đại khởi đầu từ mốc phim Thương nhớ đồng quê (1995, đạo diễn Đặng Nhật Minh). Khảo sát sơ bộ cho thấy 97% tác phẩm văn học Việt Nam được chuyển thể sang điện ảnh thuộc về tiểu thuyết và truyện ngắn.
Literature Review và Positioning
Nghiên cứu về chuyển đổi ngôn ngữ trên thế giới đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển từ vi mô đến vĩ mô. Roman Jakobson (1959) đã đặt nền móng khi phân loại dịch thuật thành ba loại: dịch nội ngôn (intralingual), dịch liên ngôn (interlingual) và dịch liên kí hiệu (intersemiotic translation). Eugene Nida (1964) vận dụng ngữ pháp tạo sinh của Noam Chomsky để phân tích cấu trúc sâu và cấu trúc bề mặt trong chuyển dịch. Tiếp đó, Katharina Reiss (1977), Werner Koller (1979), Basil Hatim và Ian Mason (1990), Mona Baker (1992) phát triển lý thuyết dịch thuật chức năng và ngữ dụng văn bản dựa trên ba siêu chức năng ngôn ngữ của Halliday: chức năng ý niệm (ideational), chức năng liên nhân (interpersonal) và chức năng tạo văn bản (textual). Về phương diện biến đổi cấu trúc, Kitty M. van Leuven-Zwart (1989) thiết lập mô hình so sánh và miêu tả vi cấu trúc - vĩ cấu trúc, trong khi André Lefevere (1992) nhấn mạnh các yếu tố quyền lực, ý thức hệ và chủ thể dịch thuật can thiệp vào văn bản đích.
Trong nghiên cứu chuyển thể điện ảnh, tồn tại cuộc tranh luận học thuật sâu sắc giữa hai trường phái:
- Trường phái trung thành nguyên tác (Fidelity Criticism): Đánh giá phim dựa trên mức độ sao phỏng trung thực cốt truyện và tinh thần của tác phẩm văn học gốc.
- Trường phái liên văn bản và ký hiệu học giải cấu trúc (Intertextuality & Semiotics): Đại diện bởi Robert Stam (2000), Linda Hutcheon (2006), Thomas Leitch (2012). Trường phái này khẳng định tác phẩm văn học và phim chuyển thể là hai thực thể liên văn bản độc lập. Phim chuyển thể không phải là bản sao chép thứ cấp mà là một quá trình tái mã hóa (recoding), tham chiếu và chuyển hóa liên ký hiệu tự trị.
So sánh với các nghiên cứu quốc tế:
- Nghiên cứu của Sholeh Kolahi và Solmaz Mahdavi (Iran) khảo sát tần suất mã điện ảnh trong chuyển dịch liên ký hiệu nhằm xác định ý đồ tác giả.
- Công trình của Olga A. Leontovich (Nga) và Jyotsna Krishnan (Ấn Độ) tập trung vào sự biến đổi ý nghĩa văn hóa khi tác phẩm văn học phương Tây được chuyển thể sang điện ảnh phương Đông.
Luận án của Đoàn Tiến Lực định vị sự khác biệt khi không dừng lại ở mức độ phê bình điện ảnh hay lý luận văn học mô tả, mà sử dụng hệ thống thao tác phân tích ngôn ngữ học - ký hiệu học nghiêm ngặt để lượng hóa và mô hình hóa toàn bộ các biến đổi ngữ nghĩa - ngữ pháp của biểu tượng và đối thoại trong không gian chuyển dịch liên mã.
Đóng góp lý thuyết và khung phân tích
[QUÁ TRÌNH GIẢI MÃ VÀ TÁI MÃ HÓA LIÊN KÝ HIỆU]
(Chi phối bởi: Mã kênh, Chủ thể đạo diễn, Hệ ý thức)
Đóng góp cho lý thuyết
Luận án tạo ra bước tiến quan trọng trong việc mở rộng phạm vi của lý thuyết ký hiệu học đại cương vào phân tích liên ngành:
- Mở rộng lý thuyết cấu trúc phân tầng tín hiệu: Kế thừa mô hình hệ thống tín hiệu thứ nhất (vật biểu / denotation) và hệ thống tín hiệu thứ hai (hàm nghĩa / connotation) của Louis Hjelmslev và Roland Barthes, luận án chứng minh rằng biểu tượng ngôn từ văn học khi chuyển sang biểu tượng hình ảnh điện ảnh sẽ trải qua sự tái lập cấu trúc phân tầng. Cái biểu đạt mới (hình ảnh thị giác, ánh sáng, góc máy) dung nạp các tầng hàm nghĩa cũ đồng thời sản sinh những lớp nghĩa biểu tượng mới nhờ tính trực quan đồng hiện.
- Đặc tả tính lưỡng phân của mã ngôn ngữ: Luận án làm sâu sắc thêm lý thuyết của Yuri Mikhailovich Lotman về ngôn ngữ điện ảnh như một hệ thống mô hình hóa thứ sinh (secondary modeling system), làm rõ sự đối lập giữa tính hình tuyến thuần túy theo thời gian của ngôn ngữ văn học và tính phức hợp không gian - thời gian (spatio-temporal complexity) của ngôn ngữ điện ảnh.
- Mô hình hóa động thái ngữ dụng hội thoại: Vận dụng lý thuyết hành động ngôn từ (speech acts) và nguyên tắc cộng tác của H.P. Grice, công trình giải mã cách thức mà đạo diễn điện ảnh cắt gọt, tái cấu trúc các bước thoại (moves) và cặp trao đáp (exchanges) nhằm thích ứng với trường giao tiếp trực quan (visual dialogue field).
Khung phân tích độc đáo
Khung phân tích của luận án tích hợp liên ngành giữa 4 trụ cột lý thuyết: Ký hiệu học (Saussure, Peirce, Barthes), Ký hiệu học văn hóa & nghệ thuật (Lotman), Lý thuyết chuyển dịch liên ký hiệu (Jakobson, Leuven-Zwart) và Ngữ dụng học tương tác (Grice, Bakhtin).
Khung phân tích thiết lập 2 trục khảo sát chuyên biệt:
- Trục 1: Chuyển dịch hệ thống tín hiệu - biểu tượng (Semiotics of Symbols): Phân tích cơ chế chuyển đổi từ từ - biểu tượng sang hình ảnh - biểu tượng dựa trên mối quan hệ giữa cái biểu đạt (signifier) và cái được biểu đạt (signified), cấu trúc phân tầng nghĩa, trục ngữ đoạn (syntagmatic relation) và trục hệ hình (paradigmatic relation).
- Trục 2: Chuyển dịch ngôn ngữ đối thoại (Pragmatics of Dialogue): Phân tích sự chuyển tiếp từ lời thoại văn bản viết sang lời thoại âm thanh/hình ảnh dựa trên cấu trúc cuộc thoại, chức năng hành động nói, nguyên tắc cộng tác hội thoại và quan hệ liên nhân.
Điều kiện biên (boundary conditions): Khung phân tích áp dụng tối ưu cho các tác phẩm tự sự có cốt truyện (truyện ngắn, tiểu thuyết) được chuyển thể thành phim truyện điện ảnh hư cấu (fiction feature films), không bao gồm phim tài liệu hoặc hoạt hình thực nghiệm.
Phương pháp nghiên cứu tiên tiến
Thiết kế nghiên cứu
Luận án tuân thủ lập trường tri thức luận Thực tại luận phản tư (Critical Realism) kết hợp Ký hiệu học diễn giải (Interpretive Semiotics). Thiết kế nghiên cứu hỗn hợp đa tầng (Multi-level Mixed Methods Design) kết hợp chặt chẽ giữa phân tích thống kê định lượng (Quantitative text-to-film corpus mapping) và phân tích ký hiệu học - ngữ dụng định tính sâu (Qualitative semiotic and pragmatic discourse analysis).
Quy mô mẫu ngữ liệu bao gồm:
- 12 văn bản truyện kể văn học nguồn: Gồm 10 truyện ngắn (Thương nhớ đồng quê, Những người thợ xẻ, Ba người trên sân ga, Ngôi nhà xưa, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Mùa len trâu, Một cuộc biển dâu, Tiếng đàn môi sau bờ rào đá, Trăng nơi đáy giếng, Mười ba bến nước, Cánh đồng bất tận) và 2 tiểu thuyết (Bến không chồng, Phiên bản).
- 12 phim truyện điện ảnh chuyển thể tương ứng: Gồm các bộ phim truyện nhựa kinh điển đoạt nhiều giải thưởng Bông Sen Vàng, Cánh Diều Vàng và giải thưởng quốc tế (Thương nhớ đồng quê, Những người thợ xẻ, Đời cát, Bến không chồng, Mùa ổi, Người đàn bà mộng du, Mùa len trâu, Chuyện của Pao, Trăng nơi đáy giếng, Mười ba bến nước, Cánh đồng bất tận, Hương Ga).
Quy trình nghiên cứu rigorous
Quy trình khảo sát và thu thập dữ liệu được thực hiện nghiêm ngặt qua 4 bước chuẩn hóa:
- Trích xuất và lập bảng danh mục tín hiệu biểu tượng: Bóc tách toàn bộ các từ - biểu tượng trung tâm trong 12 văn bản văn học nguồn (như: con trâu, nước, dòng sông, bến nước, lửa, gà trống/gà mái, trái ổi, hoa tương tư), xác định mạng lưới ngữ nghĩa trên trục ngữ đoạn và hệ hình.
- Khảo sát đối ứng hình ảnh điện ảnh: Phân tích từng cảnh quay (scene) và cú bấm máy (shot) trong 12 bộ phim điện ảnh để xác định các khung hình dàn cảnh (mise-en-scène), cỡ cảnh (toàn, trung, cận, đặc tả), góc máy và động tác máy chứa đựng biểu tượng hình ảnh tương ứng.
- Thống kê và phân lập hội thoại: Bóc tách toàn bộ các cặp trao đáp (exchanges), bước thoại (moves) và hành động nói (speech acts) trong văn bản văn học, sau đó đối chiếu trực tiếp với hệ thống âm thanh/lời thoại của diễn viên trong từng trường đoạn phim.
- Tam giác đạc dữ liệu (Data Triangulation): Kiểm chứng chéo giữa cấu trúc văn bản văn học, kịch bản phân cảnh điện ảnh, bản phim hoàn chỉnh và bối cảnh văn hóa - tiếp nhận nhằm đảm bảo tính giá trị cấu trúc (construct validity) và độ tin cậy tái lập.
Data và phân tích
Phương pháp phân tích dữ liệu ứng dụng kỹ thuật phân tích nghĩa tố (seme/sememe component analysis) để đo lường độ chênh ngữ nghĩa (semantic divergence), kết hợp kỹ thuật phân tích diễn ngôn hội thoại (conversation analysis).
Các đơn vị thao tác kỹ thuật điện ảnh được chuẩn hóa theo định nghĩa của Yuri Lotman: "Bất kì một đơn vị văn bản nào (thị giác, tượng hình, đồ thị, hoặc âm thanh) có thể trở thành yếu tố của ngôn ngữ điện ảnh, miễn là nó hiến cho ta một khả năng lựa chọn và miễn là do đó, nó xuất hiện trong văn bản không phải một cách tự nhiên mà kết hợp với một ý nghĩa. Ngoài ra, trong cách sử dụng hoặc không sử dụng nó, người ta cần thiết phải nhận thấy một trật tự dễ dàng phân biệt được (một nhịp điệu)" [76; 546]. Các cỡ cảnh (cận cảnh - close-up, đại cảnh - extreme long shot), góc máy (high-angle, low-angle) và thủ pháp dựng phim (montage liên tưởng, montage tương phản) được ghi nhận chi tiết làm bằng chứng thực nghiệm cho các biến đổi ký hiệu học.
Phát hiện đột phá và implications
Những phát hiện then chốt
-
Ba xu hướng chuyển dịch biểu tượng từ ngôn từ sang hình ảnh:
- Xu hướng 1: Chuyển dịch tương đương về nghĩa. Biểu tượng giữ nguyên các nét nghĩa cốt lõi, ví dụ như biểu tượng "trái ổi" trong truyện ngắn Ngôi nhà xưa chuyển sang phim Mùa ổi giữ nguyên ý nghĩa biểu trưng cho ký ức tuổi thơ trong trẻo, tình thân và sự kết nối quá khứ - hiện tại.
- Xu hướng 2: Chuyển dịch theo hướng thu hẹp hoặc phân hóa ý nghĩa. Biểu tượng "dòng sông" trong truyện ngắn Mười ba bến nước của Sương Nguyệt Minh mang phổ nghĩa rộng lớn về số phận truân chuyên của người phụ nữ, nhưng khi lên phim của đạo diễn Đặng Thái Huyền, hình ảnh dòng sông bị cô đọng chủ yếu vào bi kịch tình duyên trắc trở và sự chia cắt không gian.
- Xu hướng 3: Chuyển dịch theo hướng mở rộng và phát triển thêm ý nghĩa mới. Biểu tượng "nước" và "len trâu" trong truyện ngắn Sơn Nam khi chuyển thành phim điện ảnh Mùa len trâu của đạo diễn Nguyễn Võ Nghiêm Minh đã phát triển từ nghĩa hiện thực sinh kế nông nghiệp thành biểu tượng triết học sâu sắc về sự sống, cái chết, sự luân hồi và thân phận con người trước thiên nhiên dữ dội qua những khung hình đại cảnh mênh mông nước và cảnh xác chết thả trôi trên bè chuối.
-
Ba xu hướng biến đổi ngôn ngữ đối thoại trong quá trình chuyển thể:
- Xu hướng 1: Chuyển nguyên vẹn lời đối thoại. Tỷ lệ này chiếm số lượng nhất định ở các câu thoại then chốt mang tính định danh tính cách nhân vật hoặc đóng vai trò thắt nút/mở nút kịch bản.
- Xu hướng 2: Biến đổi lời đối thoại (Tăng lược/Rút gọn/Thay thế). Lời đối thoại văn học vốn dài dòng, giàu tính triết lý nội tâm được tinh giản tối đa khi sang điện ảnh để nhường chỗ cho ngôn ngữ hình thể, ánh mắt và cử chỉ. Hiện tượng vi phạm cố ý các phương châm hội thoại Grice (như phương châm quan hệ, phương châm cách thức) xuất hiện dày đặc trong phim nhằm kiến tạo các hàm ý hội thoại phức tạp.
- Xu hướng 3: Sáng tạo thêm lời đối thoại hoàn toàn mới. Được đạo diễn bổ sung nhằm cụ thể hóa không gian giao tiếp trực quan (thoại trường) và cá thể hóa sâu sắc giọng điệu xã hội của nhân vật, như trường hợp phim Hương Ga bổ sung hệ thống khẩu ngữ giang hồ gai góc so với tiểu thuyết Phiên bản.
-
Phát hiện nghịch lý về tính đa trị của mã hình ảnh (Visual Polysemy Paradox):
Mặc dù ngôn ngữ điện ảnh mang tính trực quan xác thực (làm giảm sự tưởng tượng tự do của người đọc so với ngôn từ trừu tượng), nhưng nhờ kỹ thuật dựng phim liên tưởng (montage) và sự kết hợp đa kênh (hình ảnh + tiếng động + âm nhạc), điện ảnh tạo ra những tầng nghĩa biểu tượng đa chiều mà văn bản ngôn từ khó đạt được trong cùng một lát cắt thời gian.
[ĐỘ LỆCH VÀ BẤT TƯƠNG ĐỒNG]
Implications đa chiều
- Về mặt lý luận: Xác lập mô hình lý thuyết giao tiếp liên phương thức hoàn chỉnh, chứng minh tính độc lập sáng tạo của tác phẩm chuyển thể, xóa bỏ định kiến về "sự phản bội nguyên tác" trong phê bình nghệ thuật.
- Về mặt phương pháp luận: Cung cấp bộ công cụ phân tích ngôn ngữ học - ký hiệu học định lượng và định tính có thể nhân rộng sang các lĩnh vực nghiên cứu chuyển dịch đa phương thức khác như: chuyển thể sân khấu, chuyển thể video game, quảng cáo truyền thông và sách tranh (visual novel/comics).
- Về mặt thực tiễn sáng tác: Cung cấp cơ sở khoa học cho các nhà biên kịch, đạo diễn điện ảnh trong thao tác "dịch mã" văn học; giúp họ hiểu rõ cơ chế chuyển hóa lời thoại thành hành động tạo hình và cách thiết lập các biểu tượng thị giác mà không làm mất đi chiều sâu tư tưởng của nguyên tác.
Limitations và Future Research
- Giới hạn phạm vi thể loại: Luận án tập trung vào thể loại truyện ngắn và tiểu thuyết tự sự hư cấu, chưa bao quát các thể loại phi hư cấu như ký, tự truyện hoặc thơ ca chuyển thể thành phim.
- Giới hạn thời gian và kỹ thuật điện ảnh: Ngữ liệu khảo sát giới hạn trong 10 năm (1995–2014) với các bộ phim sản xuất theo kỹ thuật điện ảnh truyền thống, chưa đánh giá sâu tác động của công nghệ kỹ thuật số CGI hiện đại hoặc điện ảnh tương tác (interactive cinema) đối với cấu trúc biểu tượng.
- Định hướng nghiên cứu tương lai:
- Mở rộng phân tích sang các thể loại chuyển thể xuyên biên giới (transnational adaptation) khi văn học Việt Nam được các nhà làm phim quốc tế chuyển thể và ngược lại.
- Ứng dụng công nghệ xử lý ngôn ngữ tự nhiên (NLP) và trí tuệ nhân tạo thị giác (Computer Vision) để phân tích tự động hóa dữ liệu hình ảnh và lời thoại trên quy mô lớn (Big Data Corpus).
- Nghiên cứu chuyển đổi tín hiệu học trong các định dạng truyền thông số mới như Web-drama, phim ngắn tương tác trên nền tảng số.
Tác động và ảnh hưởng
- Tác động học thuật: Đặt viên gạch nền móng cho phân ngành Ký hiệu học Điện ảnh (Film Semiotics) và Nghiên cứu Đa phương thức (Multimodality Studies) trong ngôn ngữ học ứng dụng tại Việt Nam, mở ra hướng trích dẫn lý thuyết quan trọng cho các luận văn, luận án kế tiếp.
- Tác động công nghiệp điện ảnh & xuất bản: Giúp các hãng phim và nhà xuất bản xây dựng khung đánh giá tiềm năng chuyển thể (adaptability assessment framework) của các tác phẩm văn học trước khi đầu tư sản xuất phim thương mại.
- Tác động giáo dục: Đóng góp nguồn học liệu chuyên khảo giá trị cho các chương trình đào tạo sau đại học chuyên ngành Ngôn ngữ học, Lý luận văn học, Biên kịch và Đạo diễn điện ảnh tại các trường đại học sư phạm và trường nghệ thuật sân khấu - điện ảnh trên toàn quốc.
Đối tượng hưởng lợi
- Nghiên cứu sinh và Giảng viên Ngôn ngữ học/Văn học: Tiếp cận khung lý thuyết liên ngành tiên tiến và phương pháp khảo sát dữ liệu đối chiếu ngôn từ - hình ảnh chuẩn xác.
- Nhà biên kịch và Đạo diễn điện ảnh: Nắm vững cơ chế "giải mã" văn bản văn học và "lập mã" điện ảnh, tối ưu hóa kỹ thuật viết thoại và dàn dựng biểu tượng thị giác.
- Nhà phê bình nghệ thuật: Có được hệ thống tiêu chí khoa học, khách quan dựa trên cơ sở ngôn ngữ học để phân tích phim chuyển thể, tránh lối phê bình cảm tính hoặc định kiến trung thành tuyệt đối.
- Sinh viên chuyên ngành Truyền thông và Nghệ thuật: Nâng cao năng lực giải mã văn bản đa phương thức (multimodal literacy) trong thời đại văn hóa nghe nhìn.
Câu hỏi chuyên sâu
1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì và đã mở rộng lý thuyết nào?
Đóng góp độc đáo nhất là việc hệ thống hóa và mô hình hóa quá trình chuyển dịch liên ký hiệu từ cấu trúc ngôn từ nghệ thuật sang cấu trúc hình ảnh điện ảnh thông qua mô hình cấu trúc phân tầng tín hiệu của Louis Hjelmslev và Roland Barthes. Luận án đã chỉ ra rằng biểu tượng điện ảnh không đơn thuần là sự minh họa trực quan cho biểu tượng ngôn từ, mà là sự thiết lập một hệ thống tín hiệu hàm biểu thứ hai hoàn toàn mới, nơi các yếu tố kỹ thuật điện ảnh (cỡ cảnh, ánh sáng, chuyển động máy, dựng phim) đóng vai trò là những cái biểu đạt mới để tái sinh và mở rộng cái được biểu đạt.
2. Sự đổi mới về phương pháp nghiên cứu so với các công trình trước đây thể hiện như thế nào?
So với các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam vốn mang nặng tính miêu tả cảm tính hoặc phân tích liên văn bản thuần túy lý luận văn học (như nghiên cứu của Nguyễn Nam, Lê Thị Dương), luận án đã thực hiện bước đột phá phương pháp luận bằng cách:
- Sử dụng phương pháp thống kê định lượng trên quy mô 12 cặp tác phẩm - phim hoàn chỉnh.
- Sử dụng phương pháp phân tích nghĩa tố để xác định độ chênh lệch ngữ nghĩa giữa từ - biểu tượng và hình ảnh - biểu tượng.
- Ứng dụng ngữ dụng học hội thoại (hành động nói, phương châm Grice) để phân tích cấu trúc đối thoại điện ảnh.
3. Phát hiện bất ngờ và thú vị nhất rút ra từ dữ liệu thực nghiệm là gì?
Phát hiện bất ngờ nhất là xu hướng mở rộng và phát triển thêm ý nghĩa mới của biểu tượng hình ảnh điện ảnh so với biểu tượng ngôn từ văn học nguồn. Trực giác thông thường cho rằng hình ảnh cụ thể sẽ hạn chế sự tưởng tượng so với từ ngữ trừu tượng, nhưng dữ liệu thực nghiệm tại phim Mùa len trâu và Bến không chồng chứng minh rằng: Khi hình ảnh được kết hợp với nghệ thuật dàn cảnh (mise-en-scène) và thủ pháp dựng phim tương phản, hình ảnh điện ảnh tạo ra những biểu tượng triết học có sức gợi mở ngữ nghĩa vượt xa các dòng miêu tả trong tác phẩm văn học gốc.
4. Quy trình nghiên cứu có cung cấp giao thức tái lập (Replication Protocol) không?
Có. Luận án cung cấp hệ thống phụ lục chi tiết, bảng ma trận đối chiếu 1:1 giữa các đoạn văn bản nguồn và các phân cảnh phim (shot-by-shot data), bảng mã hóa các loại biểu tượng và phân loại đối thoại theo bước thoại. Các nhà nghiên cứu khác có thể sử dụng chính xác khung tiêu chí và quy trình này để áp dụng cho các cặp tác phẩm - phim chuyển thể khác ở các nền điện ảnh khác nhau.
5. Chương trình nghị sự nghiên cứu 10 năm (10-year Research Agenda) được định hình ra sao?
Chương trình nghiên cứu dài hạn tập trung vào: (1) Mở rộng khung ký hiệu học liên phương thức sang phân tích phim hoạt hình kỹ thuật số và trò chơi điện tử chuyển thể từ văn học; (2) Ứng dụng trí tuệ nhân tạo để phân tích tự động tương quan văn bản - video (Text-to-Video Semantic Mapping); (3) Xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về ngữ liệu chuyển thể nghệ thuật phục vụ công nghiệp văn hóa tại Việt Nam.
Kết luận
- Luận án đã giải quyết thành công bài toán liên ngành phức tạp giữa Ngôn ngữ học, Ký hiệu học, Lý luận văn học và Ký hiệu học Điện ảnh, xác lập vị thế tiên phong trong nghiên cứu chuyển dịch liên ký hiệu tại Việt Nam.
- Chứng minh một cách thuyết phục bằng dữ liệu thực nghiệm rằng sự chuyển thể từ văn bản văn học sang phim điện ảnh là một quá trình "tái mã hóa nghệ thuật" độc lập, chịu sự chi phối có tính quy luật của bất tương đồng mã ngôn ngữ, bối cảnh giao tiếp và chủ thể sáng tạo.
- Hệ thống hóa toàn diện 3 xu hướng chuyển đổi biểu tượng (tương đương, thu hẹp/phân hóa, mở rộng) và 3 xu hướng biến đổi đối thoại (nguyên vẹn, biến đổi tăng/lược, sáng tạo mới) qua khảo sát 12 tác phẩm tiêu biểu giai đoạn 1995–2014.
- Vận dụng xuất sắc quan điểm của Mikhail Bakhtin: "Đối thoại là bản chất của ý thức, bản chất của cuộc sống con người… Sống tức là tham gia đối thoại: hỏi, nghe, trả lời, đồng ý … Con người tham gia cuộc đối thoại ấy bằng toàn bộ con người mình và toàn bộ cuộc đời mình. Lời nói là diện mạo tâm hồn, tính cách nhân vật" [56; 65-66] để làm sáng tỏ bản chất của ngôn ngữ đối thoại điện ảnh.
- Mở ra các hướng nghiên cứu mới về phân tích diễn ngôn đa phương thức (multimodal discourse analysis), đóng góp nền tảng học thuật vững chắc cho việc phát triển lý luận ngôn ngữ học ứng dụng và công nghiệp điện ảnh đương đại.