Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ "Sự chuyển đổi từ ngôn ngữ văn học sang ngôn ngữ điện ảnh (Qua một số tác phẩm cụ thể)" do nghiên cứu sinh Đoàn Tiến Lực thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, thuộc chuyên ngành Ngôn ngữ học, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. TS. Nguyễn Thị Ngân Hoa và PGS. TS. Đặng Thị Hảo Tâm.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trong hoạt động giao tiếp của con người, ngôn ngữ dạng nói và viết giữ vai trò quan trọng, song các kênh giao tiếp phi ngôn từ và đa phương thức chiếm tỷ trọng tác động lớn (từ ngữ chiếm khoảng 7%, thanh âm chiếm 38%, ngôn ngữ không lời chiếm 55%). Sự phát triển của công nghệ truyền thông hiện đại đã thúc đẩy nghiên cứu ngôn ngữ học mở rộng phạm vi tiếp cận liên ngành sang các loại hình ngôn ngữ hình ảnh, âm thanh và cơ thể. Mối quan hệ giữa văn học (nghệ thuật ngôn từ) và điện ảnh (nghệ thuật hình ảnh động và âm thanh) thể hiện rõ nét qua hiện tượng chuyển thể tác phẩm văn học sang phim truyện điện ảnh. Đây là môi trường bộc lộ rõ nhất sự tương đồng và khác biệt giữa hai hệ thống ký mã nghệ thuật. Trên thế giới, hướng nghiên cứu liên ngành giữa tín hiệu học, ngôn ngữ học và điện ảnh đã được nhiều học giả triển khai, tuy nhiên tại Việt Nam, chưa có công trình ngôn ngữ học nào so sánh có hệ thống sự chuyển đổi từ ngôn ngữ văn học sang ngôn ngữ điện ảnh dưới góc độ ký hiệu học và giao tiếp học nghệ thuật. Luận án được thực hiện nhằm giải quyết khoảng trống nghiên cứu này.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của luận án gồm:

  1. Làm rõ những xu hướng chuyển đổi ở phương diện ngôn ngữ khi hoạt động giao tiếp văn học chuyển tiếp sang hoạt động giao tiếp điện ảnh (khi văn bản văn học được chuyển thể sang phim truyện điện ảnh).
  2. Làm rõ những yếu tố trong hệ thống giao tiếp chi phối đến những xu hướng chuyển đổi từ ngôn ngữ văn học sang ngôn ngữ điện ảnh.
  3. Củng cố, làm rõ thêm đường hướng tiếp cận một vấn đề thuộc khoa học ngôn ngữ từ góc độ liên ngành.

Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định cụ thể:

  • Xác định cơ sở lí luận cho việc tiếp cận đối tượng nghiên cứu;
  • Khảo sát những xu hướng chuyển đổi, biến đổi từ ngôn ngữ văn học sang ngôn ngữ điện ảnh qua hai trục hệ thống: hệ thống tín hiệu biểu tượng và ngôn ngữ đối thoại;
  • Phân tích, lí giải các nguyên nhân và quy luật chi phối những xu hướng chuyển đổi, biến đổi ngôn ngữ khi văn bản truyện kể văn học chuyển thể sang phim truyện điện ảnh.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Ngôn ngữ văn học và ngôn ngữ điện ảnh trong sự chuyển tiếp từ hoạt động giao tiếp văn học sang hoạt động giao tiếp điện ảnh.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào hai thành phần tiêu biểu: (1) Sự chuyển đổi từ tín hiệu - biểu tượng ngôn từ sang biểu tượng hình ảnh điện ảnh; (2) Sự chuyển đổi từ ngôn ngữ đối thoại dạng viết sang ngôn ngữ đối thoại dạng âm thanh/nói.
  • Phạm vi thể loại: Văn bản truyện kể văn học Việt Nam (tiểu thuyết và truyện ngắn) và các phim truyện điện ảnh chuyển thể tương ứng (do chiếm 97% các trường hợp văn học Việt Nam được chuyển thể điện ảnh).
  • Phạm vi thời gian: Khảo sát các tác phẩm chuyển thể trong giai đoạn 10 năm của điện ảnh Việt Nam (từ năm 1995 đến năm 2014), mốc mở đầu đánh dấu bằng tác phẩm điện ảnh Thương nhớ đồng quê của đạo diễn Đặng Nhật Minh.
STT Văn bản truyện kể văn học (VBTKVH) nguồn Phim truyện điện ảnh (PTĐA) chuyển thể Đạo diễn
1 Thương nhớ đồng quê (1992, truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp) Thương nhớ đồng quê (1995) Đặng Nhật Minh
2 Những người thợ xẻ (1989, truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp) Những người thợ xẻ (1999) Vương Đức
3 Ba người trên sân ga (1990, truyện ngắn của Hữu Phương) Đời cát (1999) Nguyễn Thanh Vân
4 Bến không chồng (1990, tiểu thuyết của Dương Hướng) Bến không chồng (2000) Lưu Trọng Ninh
5 Ngôi nhà xưa (1992, truyện ngắn của Đặng Nhật Minh) Mùa ổi (2001) Đặng Nhật Minh
6 Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành (1983, truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu) Người đàn bà mộng du (2003) Nguyễn Thanh Vân
7 Mùa len trâu và Một cuộc biển dâu (1962, hai truyện ngắn của Sơn Nam) Mùa len trâu (2005) Nguyễn Võ Nghiêm Minh
8 Tiếng đàn môi sau bờ rào đá (1999, truyện ngắn của Đỗ Bích Thúy) Chuyện của Pao (2006) Ngô Quang Hải
9 Trăng nơi đáy giếng (2001, truyện ngắn của Trần Thùy Mai) Trăng nơi đáy giếng (2008) Nguyễn Vinh Sơn
10 Mười ba bến nước (2004, truyện ngắn của Sương Nguyệt Minh) Mười ba bến nước (2008) Đặng Thái Huyền
11 Cánh đồng bất tận (2005, truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư) Cánh đồng bất tận (2010) Nguyễn Phan Quang Bình
12 Phiên bản (2009, tiểu thuyết của Nguyễn Đình Tú) Hương Ga (2014) Cường Ngô

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trên thế giới

  1. Nghiên cứu về chuyển đổi ngôn ngữ và lý thuyết dịch thuật:
    • Roman Jakobson (1959) chỉ ra sự bất tương đương tuyệt đối giữa các đơn vị mã do khác biệt hệ thống tín hiệu, từ đó đề xuất quan niệm dịch toàn bộ thông điệp và khởi xướng khái niệm chuyển dịch liên ký hiệu (intersemiotic translation).
    • Eugene Nida (1964) ứng dụng ngữ pháp tạo sinh của Noam Chomsky để phân tích cấu trúc bề mặt và cấu trúc sâu nhằm nhận diện sự tương đương trong chuyển dịch câu.
    • Katharina Reiss (1977) phân loại văn bản theo ba chức năng chính (thông tin, diễn cảm, vận động) để xác định phương pháp chuyển dịch tương ứng.
    • Werner Koller (1979), Basil Hatim và Ian Mason (1990), Mona Baker (1992) phát triển lý thuyết dựa trên ngữ pháp chức năng hệ thống của M.A.K. Halliday với ba tham biến: lĩnh vực (field), giọng (tenor), phương thức (mode), tương ứng với ba siêu chức năng: tư tưởng (ideational), liên nhân (interpersonal) và văn bản (textual).
    • Kitty M. van Leuven-Zwart (1989) xây dựng mô hình miêu tả vĩ mô và mô hình so sánh vi cấu trúc; André Lefevere (1992) nhấn mạnh tác động của quyền lực, ý thức hệ và thiết chế đến sự biến đổi ở văn bản dịch; John Dryden (1680) phân chia ba lối chuyển dịch (dịch từng chữ, dịch thoát ý, phỏng dịch); Jean-Paul Vinay và Jean Darbelnet (1958) phân lập bảy lối chuyển dịch (vay mượn, sao phỏng, dịch nguyên văn, chuyển đổi từ loại, biến thái, tương đương, thích ứng).
  2. Nghiên cứu về chuyển đổi từ ngôn ngữ văn học sang ngôn ngữ điện ảnh:
    • Dưới góc độ chuyển dịch liên ký hiệu: Corinne Lhermite (2005), Rachel Weissbrod (2006), Irini Stathi (2015), Sholeh Kolahi và Solmaz Mahdavi, Jyotsna Krishnan (2015), Olga A. Leontovich (2015) khảo sát tần suất mã và sự biến đổi mã văn hóa khi chuyển thể.
    • Dưới góc độ lý thuyết liên văn bản: Robert Stam (2000), Linda Hutcheon (2006), Thomas Leitch (2012) khảo sát các biến đổi liên văn bản như sao phỏng (pastiche), xoáy vặn (twisting), vay mượn (borrowing), bình chú (commentary), cắt dán (collage).
    • Dưới góc độ so sánh phương thức giao tiếp: Zachar Alexander Laskewicz (2008) đối chiếu tính chủ động tiếp nhận của văn học với tính tiếp nhận trực tiếp của điện ảnh; Linda Catarina Gualda (2010) phân biệt hình tượng tâm trí được gợi mở qua từ ngữ với hình ảnh trực quan mô phỏng và quá trình suy luận hình ảnh.

Các hướng nghiên cứu tại Việt Nam

  • Về chuyển đổi ngôn ngữ: Nguyễn Lai (1996) nghiên cứu sự chuyển hóa từ mã ngôn ngữ sang mã hình tượng; Trương Viên (2003) nghiên cứu chuyển dịch uyển ngữ; Hà Thị Bích Liên (2009) nghiên cứu ý nghĩa thể của câu trong dịch thuật Anh - Việt.
  • Về lý luận điện ảnh và nghệ thuật truyền thống: Nguyễn Mạnh Lân, Trần Duy Hinh, Trần Trung Nhàn (2002) phân tích mối quan hệ giữa văn học dân gian và nghệ thuật tạo hình điện ảnh; Phan Thị Bích Hà (2005) khảo sát ảnh hưởng của văn học nghệ thuật truyền thống đến ngôn ngữ điện ảnh phim truyện.
  • Về lý luận văn học và chuyển thể: Nguyễn Nam (2006), Lê Thị Dương (2012, 2015), Phan Bích Thủy (2014), Đào Lê Na (2015) nghiên cứu mối quan hệ liên văn bản, cốt truyện, nhân vật và tính độc lập của văn bản phim so với nguyên tác văn học.
  • Về ngôn ngữ học và phong cách học: Đỗ Hữu Châu (1990) nghiên cứu tính đồng nhất về tín hiệu thẩm mỹ giữa các ngành nghệ thuật; Nguyễn Hữu Đạt (2011) nghiên cứu sự giao thoa liên ngành trong phong cách học; Bùi Minh Toán (2012) phân tích sự chuyển hóa giữa các loại hình nghệ thuật; Đỗ Phương Thảo (2007, 2009) thực hiện so sánh hệ thống hình ảnh biểu trưng và đối thoại qua một số truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, Sơn Nam, Nguyễn Tuân với phim chuyển thể.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Các công trình trước đây tại Việt Nam chủ yếu tiếp cận hiện tượng chuyển thể từ góc độ phê bình văn học hoặc nghệ thuật điện ảnh, chưa có công trình nào khảo sát toàn diện từ góc độ ngôn ngữ học và ký hiệu học liên ngành, chưa có mô hình định lượng và phân tích cấu trúc đối ứng giữa mã ngôn từ nghệ thuật và mã hình ảnh/âm thanh điện ảnh trên một diện ngữ liệu chuyển thể tiêu biểu.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng

  • Lý thuyết tín hiệu học:
    • Mô hình nhị diện của Ferdinand de Saussure: Tín hiệu gồm Cái biểu đạt (signifier) và Cái được biểu đạt (signified), có tính võ đoán và tính hình tuyến.
    • Mô hình tam diện của Charles Sanders Peirce: Tín hiệu gồm Cái đại diện (representamen), Biểu ý (interpretant) và Khách thể (object); phân loại thành ba loại tín hiệu: Biểu hiệu/Biểu tượng (symbol), Hình hiệu (icon), Chỉ hiệu (index).
    • Cấu trúc phân tầng tín hiệu của Louis Hjelmslev và Roland Barthes: Hệ thống tín hiệu thứ nhất (hệ thống biểu thị / denotation) và hệ thống tín hiệu thứ hai (hệ thống hàm nghĩa / connotation - huyền thoại / myth).
  • Khái niệm ngôn ngữ và ngôn ngữ nghệ thuật:
    • Tiếp thu quan điểm của Ferdinand de Saussure và Yuri Mikhailovich Lotman: Ngôn ngữ (theo nghĩa rộng) là bất kỳ hệ thống ký hiệu nào phục vụ cho hoạt động giao tiếp (tự nhiên, nhân tạo, thứ sinh).
    • Ngôn ngữ nghệ thuật là hệ thống tín hiệu hàm biểu được xây chồng lên hệ thống tín hiệu biểu thị, phục vụ giao tiếp nghệ thuật.
  • Đặc trưng ngôn ngữ văn học và ngôn ngữ điện ảnh:
Tiêu chí Ngôn ngữ văn học Ngôn ngữ điện ảnh
Bản chất chung Ngôn ngữ nghệ thuật, hệ thống tín hiệu hàm biểu, tính thẩm mỹ và đa nghĩa Ngôn ngữ nghệ thuật, hệ thống tín hiệu hàm biểu, tính thẩm mỹ và đa nghĩa
Chất liệu tín hiệu Tín hiệu ngôn từ (chủ yếu ở dạng viết) Phức hợp tín hiệu hình ảnh (tạo hình, chuyển động) và âm thanh (thoại, tiếng động, âm nhạc)
Tính chất không gian - thời gian Tính hình tuyến trong thời gian Vừa có tính thời gian (dựng phim - montage), vừa có tính không gian (dàn cảnh - mise-en-scène)
Phương thức biểu hiện Hình tượng phi vật thể, gợi mở (evoke) thông qua tưởng tượng của người đọc Hình ảnh trực quan sinh động, trình chiếu (show), tái tạo trực tiếp hiện thực
  • Lý thuyết về biểu tượng: Biểu tượng nghệ thuật là biến thể loại hình của biểu tượng văn hóa (Freud, Jung, Hegel, Jean Chevalier), vận động qua các trục quan hệ: quan hệ cái biểu đạt - cái được biểu đạt (tạo độ chênh nghĩa), quan hệ ngữ đoạn (hợp nghĩa, phân nghĩa) và quan hệ hệ hình (đồng hướng nghĩa, tương phản). Biểu tượng văn học tồn tại dưới dạng từ - biểu tượng (word-symbol), biểu tượng điện ảnh tồn tại dưới dạng hình ảnh hoặc âm thanh.
  • Lý thuyết về đối thoại: Hội thoại là hoạt động giao tiếp bằng lời ở dạng nói. Đối thoại nghệ thuật là phiên bản mô phỏng hội thoại tự nhiên nhưng có tính tổ chức thẩm mỹ cao; tuân thủ hoặc cố ý vi phạm các phương châm hội thoại của H.P. Grice (Lượng, Chất, Quan hệ, Cách thức) để tạo hàm ý. Bốn chức năng cơ bản của đối thoại trong tác phẩm truyện kể và phim: (1) Cá thể hóa tính cách nhân vật; (2) Thông tin, miêu tả; (3) Dẫn dắt và tổ chức câu chuyện; (4) Thể hiện quan hệ liên cá nhân.

Phương pháp nghiên cứu

  1. Phương pháp nghiên cứu định lượng: Thống kê số lượng, tần suất xuất hiện của các tín hiệu biểu tượng và lời đối thoại trong văn bản nguồn và phim chuyển thể; lập bảng dữ liệu đối ứng và biểu đồ so sánh.
  2. Phương pháp miêu tả: Diễn giải các xu hướng chuyển đổi, gồm các thủ pháp:
    • Thống kê - phân loại: Phân loại các nhóm biểu tượng và nhóm lời thoại được giữ nguyên, biến đổi hoặc thêm mới.
    • Phân tích ngôn cảnh và phân tích nghĩa tố: Xác định mối quan hệ ngữ nghĩa, ngữ pháp của tín hiệu trong chuỗi kết hợp ngữ đoạn và không gian khuôn hình.
    • So sánh đối chiếu: Thiết lập các tập hợp đối ứng để xác định sự tương đồng, dị biệt và giải thích nguyên nhân chuyển đổi giữa hai hệ thống mã.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu và cơ sở lí thuyết của đề tài

Chương này tổng thuật lịch sử nghiên cứu về chuyển đổi ngôn ngữ, dịch thuật học, lý thuyết liên ký hiệu, liên văn bản trên thế giới và tại Việt Nam. Đồng thời, chương 1 xây dựng khung lý thuyết nền tảng gồm: lý thuyết tín hiệu học (Saussure, Peirce, Barthes), bản chất của ngôn ngữ nghệ thuật, các đặc trưng đối chiếu giữa ngôn ngữ văn học và ngôn ngữ điện ảnh, lý thuyết về biểu tượng văn hóa/nghệ thuật và cấu trúc, chức năng của ngôn ngữ đối thoại trong tác phẩm tự sự.

Chương 2: Sự chuyển đổi từ biểu tượng trong văn bản truyện kể văn học sang biểu tượng trong phim truyện điện ảnh

Chương 2 tập trung khảo sát định lượng và miêu tả định tính sự chuyển dịch từ các từ - biểu tượng trong văn bản truyện kể sang biểu tượng hình ảnh trong phim truyện điện ảnh qua 12 cặp tác phẩm:

  • Khảo sát định lượng: Lập bảng hệ thống đối ứng các biểu tượng giữa văn bản nguồn và phim chuyển thể (Bảng 2.1, Bảng 2.2, Biểu đồ 2.10).
  • Các xu hướng chuyển đổi xét theo phương diện biểu đạt (tín hiệu biểu thị):
    • Chuyển từ tín hiệu ngôn từ tuyến tính sang tín hiệu hình ảnh trực quan đa chiều trong không gian khuôn hình (kết hợp ánh sáng, màu sắc, góc máy, cỡ cảnh, chuyển động máy).
    • Tái hiện chuỗi biểu tượng ngôn từ thành các chuỗi hành động và chi tiết tạo hình thị giác (ví dụ: cảnh Diệu cầm chổi lửa đốt chợ trong Phiên bản chuyển thành chuỗi cảnh hành động thị giác dồn dập trong Hương Ga).
  • Các xu hướng chuyển đổi xét theo phương diện cái được biểu đạt (ý nghĩa):
    • Chuyển dịch tương đương về nghĩa: Giữ nguyên trục nghĩa cốt lõi của biểu tượng nguyên tác (ví dụ: biểu tượng "trái ổi" trong Ngôi nhà xưa và phim Mùa ổi).
    • Chuyển dịch theo hướng thu hẹp ý nghĩa: Lược bỏ bớt các tầng nghĩa biểu trưng phức tạp để phục vụ tính cô đọng của cốt truyện điện ảnh (ví dụ: biểu tượng "dòng sông/bến sông" trong Ba người trên sân ga sang phim Đời cát).
    • Chuyển dịch theo hướng phát triển/mở rộng thêm ý nghĩa: Khai thác chất liệu tạo hình và kỹ thuật dựng để bồi đắp thêm các tầng nghĩa mới (ví dụ: biểu tượng "nước/cánh đồng nước/xác treo" trong Mùa len trâu; biểu tượng "bến nước" và cái chết của Vạn trong Bến không chồng; biểu tượng "nón hoa tương tư" trong Người đàn bà mộng du).
  • Lí giải các xu hướng chuyển đổi biểu tượng:
    • Chi phối từ sự bất tương đồng ở mã ngôn ngữ: Sự khác biệt giữa mã ngôn từ mang tính quy ước, trừu tượng với mã hình ảnh mang tính trực quan, đồng hiện.
    • Chi phối từ sự bất tương đồng ở thông điệp nghệ thuật: Sự điều chỉnh chủ đề, tư tưởng của kịch bản phim so với văn bản truyện kể.
    • Chi phối từ chủ thể sáng tạo: Dấu ấn cá nhân, nhãn quan thẩm mỹ và cá tính sáng tạo của đạo diễn/biên kịch.

Chương 3: Sự chuyển đổi từ ngôn ngữ đối thoại trong văn bản truyện kể văn học sang ngôn ngữ đối thoại trong phim truyện điện ảnh

Chương 3 khảo sát biến đổi của lời đối thoại từ dạng viết trong văn học sang dạng âm thanh (lời nói) trong điện ảnh:

  • Khảo sát định lượng về lời đối thoại: Thống kê tổng số lượt lời đối thoại trong văn bản nguồn và phim chuyển thể (Bảng 3.1, Biểu đồ 3.1); thống kê tỷ lệ số lượt lời được chuyển nguyên vẹn, số lượt lời bị lược bỏ/không chuyển và số lượt lời được sáng tạo thêm trong phim (Bảng 3.2, Bảng 3.3).
  • Các xu hướng chuyển đổi cụ thể:
    • Chuyển nguyên vẹn lời đối thoại: Áp dụng cho các phát ngôn then chốt mang tính cốt lõi của tính cách nhân vật hoặc đóng vai trò bước ngoặt hành động.
    • Chuyển lời đối thoại có biến đổi: Lược bớt câu chữ để phù hợp với khẩu ngữ tự nhiên; thay đổi trật tự tham thoại; chuyển đổi giữa lời độc thoại nội tâm hoặc lời kể của người trần thuật thành lời đối thoại trực tiếp giữa các nhân vật (phân tích qua các trường đoạn trong Hương Ga, Những người thợ xẻ, Đời cát, Chuyện của Pao).
  • Lí giải các xu hướng biến đổi đối thoại:
    • Chi phối từ nhân vật và ngữ cảnh giao tiếp (thoại trường): Lời thoại trên phim gắn liền với cử chỉ, nét mặt, hành động cơ thể và không gian bối cảnh trực quan, giúp giảm tải lượng thông tin miêu tả bằng từ ngữ.
    • Chi phối từ mã ngôn ngữ: Mã viết văn học đòi hỏi tính hoàn chỉnh ngữ pháp và diễn giải, trong khi mã âm thanh điện ảnh đòi hỏi tính sinh động của ngôn ngữ hội thoại tự nhiên kết hợp cùng hệ thống tiếng động (sound effects) và âm nhạc (film score).

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lí luận

  • Làm sáng tỏ các vấn đề lý luận về ngôn ngữ văn học và ngôn ngữ điện ảnh ở cấp độ tín hiệu biểu tượng và ngôn ngữ đối thoại; phân tích bản chất của sự tương giao và bất tương giao giữa hai hoạt động giao tiếp nghệ thuật.
  • Đóng góp các luận giải mang tính quy luật về quá trình tư duy, giải mã và lập mã tín hiệu từ mã ngôn từ sang mã hình ảnh/âm thanh, góp phần hoàn thiện lý thuyết chuyển dịch liên ký hiệu tại Việt Nam.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Cung cấp bức tranh toàn diện và có hệ thống về sự tương tác giữa văn học và điện ảnh Việt Nam giai đoạn 1995-2014 qua phương pháp thống kê và miêu tả thực nghiệm.
  • Cung cấp tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, giảng dạy ngôn ngữ học liên ngành, ký hiệu học nghệ thuật và lý luận điện ảnh.
  • Cung cấp căn cứ lý luận và kinh nghiệm thực tiễn cho các nhà văn, biên kịch, đạo diễn trong quá trình biên kịch và chuyển thể tác phẩm văn học sang phim truyện điện ảnh.
  • Hỗ trợ người tiếp nhận định hình phương pháp đọc hiểu và thưởng thức tác phẩm nghệ thuật phù hợp với đặc trưng loại hình văn bản.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án giới hạn phạm vi khảo sát ở thể loại truyện kể văn học (tiểu thuyết, truyện ngắn) và phim truyện điện ảnh; ngữ liệu tập trung trong khung thời gian 10 năm (1995-2014) với 12 cặp tác phẩm cụ thể; diện nghiên cứu tập trung vào hai yếu tố biểu tượng và đối thoại mà chưa thể bao quát toàn bộ các bình diện cú pháp điện ảnh khác như lời độc thoại nội tâm, lời trần thuật thuyết minh (voice-over), cấu trúc không - thời gian tự sự.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu sang các thể loại khác (kịch bản sân khấu sang điện ảnh, văn học sang phim tài liệu, phim truyền hình nhiều tập); mở rộng phạm vi thời gian khảo sát; nghiên cứu sâu hơn về sự chuyển đổi các thành phần ngôn ngữ phi lời nói và âm nhạc nghệ thuật.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng: Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học thuộc các chuyên ngành Ngôn ngữ học, Lý luận văn học, Lý luận - Lịch sử - Phê bình Điện ảnh - Truyền hình, Văn hóa học và Tín hiệu học.
  • Hợp phần giá trị:
    • Khung lý thuyết tổng hợp về tín hiệu học liên ngành (ứng dụng Saussure, Peirce, Barthes, Lotman, Jakobson) vào phân tích văn bản nghệ thuật đa phương thức.
    • Quy trình kết hợp nghiên cứu định lượng (thống kê đối ứng) và phân tích định tính (ngữ cảnh, nghĩa tố, so sánh đối chiếu).
    • Hệ thống dữ liệu phân tích thực chứng trên 12 cặp tác phẩm văn học - điện ảnh tiêu biểu của Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án lựa chọn phạm vi ngữ liệu dựa trên những tiêu chí nào?

Luận án lựa chọn 12 cặp tác phẩm gồm văn bản truyện kể văn học (tiểu thuyết, truyện ngắn) và phim truyện điện ảnh chuyển thể tương ứng của Việt Nam phát hành trong giai đoạn 10 năm (1995-2014). Ngữ liệu được chọn dựa trên hai tiêu chí: tác phẩm đạt giải thưởng điện ảnh trong nước/quốc tế và/hoặc thu hút sự quan tâm lớn của dư luận, đồng thời xuất phát từ thực tế 97% tác phẩm văn học Việt Nam được chuyển thể là tiểu thuyết và truyện ngắn.

2. Vì sao tác giả chọn biểu tượng và ngôn ngữ đối thoại làm hai trọng tâm nghiên cứu?

Biểu tượng và đối thoại là hai phương diện thể hiện rõ nhất sự tương đồng và khác biệt giữa ngôn ngữ văn học và ngôn ngữ điện ảnh. Biểu tượng trong văn học tồn tại dưới dạng từ ngữ nghệ thuật (tín hiệu ngôn từ), khi sang điện ảnh được chuyển đổi thành tín hiệu hình ảnh trực quan mang tính thẩm mỹ cao. Ngôn ngữ đối thoại trong văn học tồn tại ở dạng viết, khi sang điện ảnh chuyển sang dạng âm thanh (lời nói), phản ánh sự chuyển dịch giữa hai phương thức tồn tại của ngôn ngữ tự nhiên trong văn cảnh nghệ thuật.

3. Có những xu hướng chuyển đổi biểu tượng nào xét ở phương diện ý nghĩa?

Xét theo phương diện ý nghĩa (cái được biểu đạt), luận án xác định ba xu hướng chuyển đổi chính từ biểu tượng văn học sang biểu tượng điện ảnh: (1) Chuyển dịch tương đương về nghĩa; (2) Chuyển dịch theo hướng thu hẹp ý nghĩa; (3) Chuyển dịch theo hướng phát triển/mở rộng thêm ý nghĩa.

4. Sự khác biệt giữa hội thoại tự nhiên và ngôn ngữ đối thoại trong văn bản nghệ thuật là gì?

Hội thoại tự nhiên là hoạt động giao tiếp bằng lời tự phát, phi quy thức trong đời sống hàng ngày. Đối thoại trong tác phẩm nghệ thuật (văn học và điện ảnh) là phiên bản nhân tạo được tác giả dàn dựng có chủ đích nghệ thuật, vừa mô phỏng tính tự nhiên của đời sống, vừa thực hiện các chức năng thẩm mỹ như cá thể hóa nhân vật, miêu tả, dẫn dắt cốt truyện và truyền tải hàm ý nghệ thuật.

5. Những yếu tố nào chi phối đến sự biến đổi của lời đối thoại khi chuyển thể sang phim?

Sự biến đổi lời đối thoại chịu sự chi phối của hai nhóm yếu tố chính: (1) Sự bất tương đồng ở nhân vật và ngữ cảnh giao tiếp (sự hỗ trợ của thoại trường, hành vi, nét mặt, cử chỉ của diễn viên trên màn ảnh); (2) Sự bất tương đồng về mã ngôn ngữ (mã viết chuẩn mực, mang tính giải thích của văn học chuyển sang mã âm thanh, khẩu ngữ tự nhiên phối hợp cùng tiếng động và âm nhạc trong điện ảnh).


Kết luận

Luận án của nghiên cứu sinh Đoàn Tiến Lực là công trình nghiên cứu ngôn ngữ học liên ngành, giải quyết có hệ thống vấn đề chuyển đổi từ mã ngôn từ văn học sang mã hình ảnh và âm thanh điện ảnh. Thông qua việc khảo sát định lượng và định tính trên 12 cặp tác phẩm văn học - điện ảnh Việt Nam giai đoạn 1995-2014, luận án đã làm rõ các quy luật, xu hướng chuyển đổi của hệ thống biểu tượng và ngôn ngữ đối thoại. Kết quả nghiên cứu đóng góp cơ sở lý luận về tín hiệu học liên mã và cung cấp nguồn tư liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu học thuật cũng như thực tiễn sáng tác, chuyển thể nghệ thuật.