Chương 1. Hướng tiếp cận diễn ngôn trong hai bộ phim về Đông Dương Chương 2. Đông Dương và bối cảnh thuộc địa trong hệ quy chiếu chính trị Chương 3. Đông Dương và những mảnh ghép số phận trong sự lai ghép văn hoá 16 CHUONG 1: HUONG TIEP CAN DIEN NGON TRONG HAI BO PHIM VE DONG DUONG 1.1 Khái niệm diễn ngôn và hướng tiếp cận diễn ngôn trong nghiên cứu 1.1 Khái niệm diễn ngôn Trước khi đi vào những phân tích về bộ phim, chúng tôi tìm hiểu những khái niệm được sử dụng trong quá trình nghiên cứu.
Vậy, diễn ngôn là gì? Và tại sao lại nảy sinh vân đê diễn ngôn? Trong từ điển Webster được biên soạn bởi nhà từ điển học người Mỹ Noah Webster, được The Popular Group xuất bản năm 2001, khái niệm diễn ngôn được định nghĩa là một dạng giao tiếp lời nói nhằm luận bản, biện minh cho mọi bình diện quan trọng của các hành động, ý kiến, phát ngôn của những người tham gia. Phạm trù này được nhiều nhà ly luận xã hội học như Jiirgen Habermas, W. Goldner, Edmund Husserl sử dụng. Trong Trái tw dién ngôn, Michel Foucault — nhà nghiên cứu có vai trò hoàn thiện việc đưa diễn ngôn trở thành một khái niệm quan trọng trong nghiên cứu xã hội học - đưa ra giả thiết rằng trong mọi xã hội, việc sản xuất diễn ngôn thường xuyên bị kiểm soát và chọn lọc, được tô chức và tái phân bồ nhờ sự hỗ trợ của một số lượng phép tắc nào đó, mà mục dich chung của chúng là kiềm chế sức mạnh của quyền lực, sự vô thường, tính vật chất nguy hiểm của diễn ngôn.
Lý thuyết diễn ngôn của Foucault đã được tiếp thu và vận dụng trong các lý thuyết về chủ nghĩa thực dân và hậu thực dân. Các trước tác của Foucault đã bóc tran bản chất quyền lực nap dưới lớp vỏ khoa học, tri thức, văn minh và cho thay tri thức hay diễn ngôn là công cụ dé thực thi và bảo đảm quyền lực. Chúng khuyến khích và chỉ đường cho những lực lượng thiểu số, ngoại vi như phụ nữ, những dân 17 tộc thuộc địa, kẻ đồng tính luyến ái, người da màu., những lực lượng đã bị tước mat quyền phát ngôn, có thé giành quyền lên tiếng. Như vậy có thé hiểu diễn ngôn là thực tiễn giao tiếp của con người trong đời sống xã hội.
Đó là hệ thống siêu ngôn ngữ được hiện diện qua văn bản hoặc phi văn bản về một chủ đề nào đó trong đời song như chính trị, quan sự, dao đức, kinh tế, nghệ thuật,. Diễn ngôn chịu sự tác động của cơ chế quyền lực và trạng thái tri thức mà quy định thực tiễn phát ngôn của con người bằng những nguyên tắc căn bản trong cách dùng từ, diễn đạt, kiến tạo văn bản và kết hợp các hệ thuật ngữ của một giai đoạn lịch sử hoặc một thời đại. Diễn ngôn chính là bản thể tư tưởng của con người trong thực tiễn luận bàn, diễn giải các van dé trong đời sống cũng như trong học thuật một cách có chiên lược, tuân theo trật tự và mang tính liên văn bản. Khái niệm diễn ngôn được nhà nghiên cứu Trần Đình Sử nêu: “Diễn ngôn là thực tiễn giao tiếp của con người trong xã hội.
Hoạt động diễn ngôn xã hội thê hiện một trạng thái ngôn ngữ, tri thức, quyền lực trong xã hội của diễn ngôn đó mà các cá nhân đều phụ thuộc vào” [68]. Như vậy diễn ngôn là cách nói năng, phương thức biểu đạt về con người, thế giới, về các sự việc trong đời sống. Diễn ngôn là hiện tượng tư tưởng. Mọi tư tưởng đều biểu hiện thành diễn ngôn.
Ngoài diễn ngôn, tư tưởng không tồn tại. Trần Đình Sử cho rằng nghiên cứu diễn ngôn chính là nghiên cứu tư tưởng. Không phải tư tương trong dang lí thuyết thuần túy, mà tư tưởng trong dạng thức thực tiễn, được hiểu trong giao tiếp hàng ngày. Chức năng của diễn ngôn là kiến tạo bức tranh thế giới bằng ngôn ngữ, là gọi tên các sự vật, hiện tượng.2 Hướng tiếp cận diễn ngôn trong nghiên cứu Trong Discourse, Sara Mills phân tích ba cách định nghĩa khác nhau về diễn ngôn trong các trước tác của Foucault.
Thứ nhất, diễn ngôn được coi là tat cả các nhận định nói chung, đó là tất cả các phát ngôn hoặc văn bản có nghĩa và có một 18 hiệu lực nào đó trong thế giới thực. Thứ hai, diễn ngôn là một nhóm các diễn ngôn cụ thể, được qui ước theo một cách thức nao đó, được nhóm lại với nhau bởi một áp lực mang tính thiết chế nào đó, bởi sự tương tự giữa xuất xứ và bối cảnh hay bởi chúng cùng hành động theo một cách gần giống nhau. Thứ ba, diễn ngôn là một thực tiễn sản sinh ra vô số các nhận định và chi phối việc vận hành của chúng. Quan niệm thứ ba về diễn ngôn của Foucault là quan niệm có ảnh hưởng lớn nhất đến các nhà nghiên cứu sau này.
Ở đây, diễn ngôn không chỉ được coi như một cái gì tồn tại cố hữu, tự thân và có thé được phân tích một cách cô lập, mà là những qui tắc và cấu trúc nhằm tạo ra những phát ngôn và những văn bản cụ thé. Đó là một hệ thống của những tư tưởng, quan điểm, khái niệm, cách thức tư duy và hành xử, những cái được hình thành trong một bối cảnh xã hội cụ thé. Ba cách tiếp cận ngôn ngữ học, phong cách học và xã hội học này đã cung cấp ba định nghĩa khác nhau về diễn ngôn: diễn ngôn như là cau trúc của ngôn ngữ/lời nói, diễn ngôn như là lời nói - tư tưởng hệ, và diễn ngôn như là công cụ để kiến tạo tri thức và thực hành quyền lực. Ba quan điểm tiếp cận này đều có sức lan tỏa và ảnh hưởng rất lớn đến gần như toàn bộ lý thuyết văn học và ngôn ngữ trong thế kỉ XX.
Trong cuốn Khảo cổ hoc tri thức (1972) Michel Foucault nhận định diễn ngôn không đơn thuần là sự quy tụ các phát ngôn, được nhóm lại xung quanh một đề tài hay chủ đề, cũng không phải là một tập hợp các phát ngôn bắt nguồn từ một bối cảnh mang tính thiết chế cụ thể; diễn ngôn là tập hợp các phát ngôn hay nhận định chịu quy định nghiêm ngặt với các quy luật nội tại đặc thù của bản thân diễn ngôn. Diễn ngôn cũng cần phải được xem là tập hợp các phát biểu, nhận định được quy định bởi quan hệ giữa nó với các diễn ngôn khác. Bằng nhận định này Foucault muốn nhấn mạnh rang phân tích các cấu trúc của diễn ngôn chủ yếu không phải dé bóc trần sự thật hay nguồn gốc của một nhận định, mà là dé khám phá các cơ chế có tinh chất bệ đỡ cho phép cái gì có thé được nói ra và đặt nó đúng 19 vị trí. Các cơ chê bệ đỡ này vừa năm bên trong bản thân diễn ngôn, vừa là cái bên ngoài diễn ngôn, có nghĩa là, chúng mang tính chât xã hội - văn hóa.
Trong Phân tích điễn ngôn của Gillian Brown và George Yule, hai tác giả cho rang văn bản cũng chính là một trong những don vị biểu hiện của diễn ngôn. Trong Dẫn nhập phân tích diễn ngôn, David Nunan nhận định diễn ngôn như là một chuỗi ngôn ngữ gồm một số câu, những câu này được nhận biết là có liên quan đến nhau theo một cách nào đó, hay nói cách khác, diễn ngôn là những chuỗi ngôn ngữ được nhận biết là có nghĩa, thống nhất và có mục đích. Ngoài ra còn có công trình nghiên cứu về diễn ngôn của nước ngoài được dịch sang tiếng Việt có thé kế đến như: Dụng học, một số dẫn luận nghiên cứu ngôn ngữ của George Yule (Hồng Nhâm, Trúc Thanh, Ái Nguyên dich, 1997); Dân nhập phân tích diễn ngôn của David Nunan (Hồ Mỹ Huyền, Trúc Thanh dịch, 1998); Phân tích diễn ngôn của Gillian Brown, George Yule (Trần Thuần dich, 2002); Dẫn luận ngữ pháp chức năng của Mak Halliday (Hoàng Văn Vân dịch, 2004); Bản mệnh của lí thuyết của Antoine Compagnon, Dang Anh Dao, Lê Hồng Sâm dịch (2006); Nhập môn Foucault của L. Susser, Nguyễn Tuệ Đan, Tôn Thất Huy dịch (2006); Thi học và ngữ học của Jakobson, Trần Duy Châu biên khảo (2008); Hoàn cảnh hậu hiện đại cua Jean-Francois Lyotard (Ngan Xuyên dịch, 2008).
Các công trình này tập trung vào mấy điểm sau: khái niệm diễn ngôn, đặc điểm và chức năng của diễn ngôn, các vấn đề về ngữ cảnh và ý nghĩa diễn ngôn, cấu trúc thông tin của diễn ngôn, bản chất quy chiếu trong dién ngôn, các đường hướng phân tích diễn ngôn. Mỗi tác phẩm điện ảnh, xuất phát đầu tiên là ý tưởng, nội dung câu chuyện phim được tác giả gửi gắm thông qua quá trình nhận thức về vấn đề nào đó trong xã hội đương thời hoặc từng trải qua trong quá khứ, có thể là một câu chuyện hư 20 cấu nhưng câu chuyện và tình huống được chắc lọc phải “có lý” và “có thé xảy ra”. Đó là tính “chân thật” trong phim mà thông thường thì những người trong cuộc được trải nghiệm thực tiễn để rồi tái hiện lại trên màn ảnh sẽ chân thật và sâu sắc. Cái “chủ thể quyền lực” được đề cập nêu trên là “tiếng nói” của những con người đã hòa mình vào không gian thật đang được tái diễn trên phim, sức thuyết phục của câu chuyện bộ phim đã được kiểm chứng bởi nhân chứng sống và tạo được niềm tin từ công chúng đón nhận.
Nghiên cứu diễn ngôn là đi tìm xem các chủ thê xã hội đứng đăng sau diễn ngôn, xem đó là tiêng nói của ai, vào thời diém nào. Diễn ngôn là kết quả tổng hợp về mặt nội dung và tư tưởng đã được gửi gam. Chang hạn diễn ngôn về Đông Dương là quá trình phân tích, phản ánh các vấn đề trong xã hội thời Pháp thống trị ba nước Đông Dương. Do vậy, diễn ngôn là hiện tượng xã hội, có tính chỉnh thé, tính liên tục, tính thống nhất, tính hệ thống.2 Khái niệm Đông Dương và một số xu thế hình thành diễn ngôn về Đông Dương 1.1 Khái niệm Đông Dương Khái niệm Đông Dương được nhắc tới qua ngòi bút của Conrad Malte Bruun trong bộ sách Dia ly foán học, hình thể và chính trị của các nơi trên thé giới, xuất bản năm 1804.
Trong tập 12 của bộ sách này có nói đến các nước Indo — Chine hay vương quốc Tonquin, Cochinchine, Lào,. Khi thám hiểm châu Á, người phương Tây nhận thấy vùng đất nằm giữa Ấn Độ với Trung Quốc chịu ảnh hưởng hòa trộn của cả hai trung tâm văn hóa này. Ngày nay, vùng đất này bao gồm 5 nước Đông Nam Á "trên đất liền": Myanmar, Thái Lan, Lào, Cambodia, Việt Nam. Họ gọi chung vùng đất này là "Indo-China" (bán đảo Trung-An).