CHƯƠNG 1: CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUÁ TRÌNH CHUYỂN ĐỔI CHÍNH SÁCH CỦA HOA KỲ ĐỐI VỚI NHẬT BẢN (1945-1952) 1. Cuộc đối đầu giữa Hoa Kỳ và Liên Xô trong chiến tranh Lạnh (1945-1952) 1. Giai đoạn 1945-1947 Năm 1945, Thế chiến lần hai kết thúc với sự thắng lợi hoàn toàn thuộc về phe Đồng minh. Sự thất bại của phe phát xít đồng nghĩa với việc mục tiêu chống phát xít của phe Đồng minh trong Thế chiến lần hai đã hoàn thành.
Vì vậy, sự liên minh tạm thời của Hoa Kỳ và Liên Xô cũng kết thúc. Sự đối lập trong mục tiêu và ý thức hệ giữa Hoa Kỳ và Liên Xô một lần nữa, dưới tác động của thế chiến, lại bùng nổ mạnh mẽ hơn. Từ năm 1945 đến năm 1947, nhiều mâu thuẫn đã nảy sinh giữa Hoa Kỳ và Liên Xô và kết quả là bùng nổ cuộc đối đầu trong năm 1947 sau bài phát biểu ngày 12 tháng 03 năm 1947 của tổng thống Harry S. Truman trước Quốc hội Hoa Kỳ, còn được biết đến với tên gọi “Học thuyết Truman”.
Khi Thế chiến lần hai sắp kết thúc, nguyên thủ các nước Đồng minh (Hoa Kỳ, Liên Xô, Anh) đã tiến hành triệu tập hai hội nghị Yalta (tháng 2 năm 1945) và Potsdam (tháng 8 năm 1945). Tại hai hội nghị này, nhiều vấn đề hậu thế chiến hai được đem ra bàn luận. Trong đó, các vấn đề cốt lõi là phân chia thành quả và tổ chức lại trật tự thế giới thời hậu chiến. Bên cạnh những vấn đề nhận được sự đồng thuận của nguyên thủ các nước tham gia, cả hai hội nghị đều đã cho thấy sự bất đồng trong quan điểm của hai nhà lãnh đạo Hoa Kỳ và Liên Xô về các vấn đề như vấn đề nước Đức, vấn đề Ba Lan, bồi thường chiến phí của các nước thua trận,… Về phía Liên Xô, quốc gia này bước ra khỏi Thế chiến lần hai với vị thế là một trong hai siêu cường với những đóng góp quan trọng trong việc tiêu diệt chủ nghĩa phát xít.
Từ đây, uy tín và danh tiếng của Liên Xô được nâng cao lên bao giờ hết. Dù chịu nhiều tổn thất nặng nề do chiến tranh gây ra, Liên Xô vẫn có tiềm năng to lớn như tài nguyên thiên nhiên, nguồn lực con người,… Đây là nền tảng vững chắc cho sự phục hồi và phát triển của Liên Xô trong giai đoạn sau thế chiến. 11 Cũng sau Thế chiến lần hai, mô hình xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Liên Xô trở nên hấp dẫn, vì thế, đã vượt ra khỏi khuôn khổ một quốc gia, trở thành một hệ thống với sự gia nhập của nhiều nước ở Đông Âu. Sau khi Hồng quân Liên Xô tiến vào giải phóng khu vực các nước Đông Âu, Liên Xô đã giúp đỡ các đảng cộng sản và các lực lượng tiến bộ ở các nước Đông Âu (Ba Lan, Tiệp Khắc, Romania, Nam Tư, Albania, Hungary, Bungary) trong việc tổng tuyển cử, thành lập chính phủ mới.
Các chính quyền dân chủ nhân dân tại các nước Đông Âu được thành lập, vai trò lãnh đạo nằm trong tay Đảng cộng sản và các lực lượng tiến bộ. Từ đây, hàng loạt các nhà nước dân chủ nhân dân được hình thành ở Đông Âu, xây dựng nền tảng kinh tế-xã hội theo mô hình XHCN. Đối với Hoa Kỳ, đây là mối nguy hại đặc biệt, vì làn sóng chủ nghĩa cộng sản đã lan từ Liên Xô sang châu Âu, có nguy cơ lan rộng toàn châu Âu, thậm chí trở thành một hệ thống chính trị - xã hội vững chắc trên thế giới. Điều này sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến vị thế bá quyền của Hoa Kỳ trên thế giới.
Về phía Hoa Kỳ, ngược lại với Liên Xô, Hoa Kỳ là nước không những không chịu nhiều thiệt hại do hậu quả của Thế chiến thứ hai mà nền kinh tế, quân sự của Hoa Kỳ còn có điều kiện phát triển tốt và chiếm ưu thế về mọi mặt trong phe TBCN. Trong chiến tranh, các ngành công nghiệp của Hoa Kỳ, nhất là công nghiệp quân sự, đều mở rộng nhanh chóng. Đến năm 1945, ưu thế kinh tế của Hoa Kỳ là tuyệt đối… Đồng đô la của Hoa Kỳ trở thành ngoại tệ mạnh duy nhất của thế giới lúc này và quốc gia này cũng trở thành chủ nợ của hầu hết tất cả các nước (kể cả Liên Xô): “Thực lực quân sự của Hoa Kỳ từ vị trí 17 trước chiến tranh đã vươn lên vị trí số 1 với độc quyền vũ khí nguyên tử” (Nguyễn Kim Thoa, 2006, tr. Từ những yếu tố trên, Hoa Kỳ cho rằng sau Thế chiến lần hai sẽ là thời đại của họ.
Tổng thống Harry S. Truman đã phát biểu trong bài diễn văn tại Chicago ngày 04 tháng 06 năm 1946 như sau: “Ngày nay, Hoa Kỳ là một quốc gia mạnh, không có một quốc gia nào mạnh hơn… Điều đó có nghĩa rằng với một sức mạnh như thế, chúng ta có nghĩa vụ nắm quyền lãnh đạo thế giới” (Nguyễn Kim Thoa, 2006, tr. Từ đây, có thể thấy, Hoa 12 Kỳ đã có âm mưu thiết lập một trật tự thế giới mới đơn cực, trong đó, Hoa Kỳ là quốc gia nắm quyền lãnh đạo tối cao. Tuy nhiên, Liên Xô và hệ thống XHCN đang dần gia tăng ảnh hưởng, khiến Hoa Kỳ vô cùng quan ngại.
Xét về khả năng lãnh đạo thế giới sau Thế chiến lần hai, thế giới chỉ còn lại 2 cường quốc là Liên Xô và Hoa Kỳ cạnh tranh nhau. Để thực hiện được âm mưu làm bá chủ thế giới, điều quan trọng nhất mà Hoa Kỳ cần làm là nhanh chóng có những chiến lược nhằm ngăn chặn, đẩy lùi, tiến tới tiêu diệt Liên Xô và hệ thống XHCN trên phạm vi toàn thế giới (Nguyễn Anh Thái, 2013, tr. Trong năm 1946, George Kennan, đại diện lâm thời của Hoa Kỳ tại Liên Xô, đã soạn thảo và gửi một bức điện tín có tên gọi là “Long Telegram”, dài 8000 chữ cho bộ ngoại giao Hoa Kỳ. Trong bức điện, George Kennan đã phân tích, giải thích về tình hình của Liên Xô, cũng như đưa ra gợi ý về đối sách mà Hoa Kỳ nên áp dụng đối với Liên Xô.
Ông cho rằng: “Sau chiến tranh, Liên Xô đã bị suy yếu, chỉ cần đặt Liên Xô trước một lực lượng mạnh thì trong một thời gian dài Liên Xô sẽ tự tan rã và sẽ ngăn chặn được sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản” (Nguyễn Thị Kiều Thúy Liễu, 2013, tr. George Kennan đã gợi ý cho chính phủ Hoa Kỳ nên áp dụng chính sách ngăn chặn đối với Liên Xô, gợi ý này đã nhanh chóng được tổng thống Harry S. Truman áp dụng trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ đối với Liên Xô bắt đầu từ năm 1947. Bên cạnh đó, tình hình châu Âu sau Thế chiến thứ hai cũng có nhiều biến đổi.
Đầu năm 1947, nước Anh rơi vào tình trạng khó khăn nghiêm trọng về kinh tế. Ngày 21 tháng 02 năm 1947, chính phủ Anh công bố “sách trắng” nhằm thừa nhận sự thâm hụt tài chính trong năm 1946 đã vượt quá 450 triệu bảng Anh (Nguyễn Kim Thoa, 2006, tr. Cũng trong ngày 21 tháng 02 năm 1947, Đại sứ quán Anh đã gửi một thông báo đặc biệt đến Bộ ngoại giao Hoa Kỳ. Trong thông báo đó, Anh tuyên bố sẽ ngừng hỗ trợ về quân sự và tài chính cho các lực lượng bảo thủ ở Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ để chống lại các lực lượng Mặt trận giải phóng dân tộc (trong đó có lực lượng của Đảng Cộng sản) từ sau ngày 31 tháng 03 năm 1947 (McCormick, 2004, tr.
Hoa Kỳ xem sự có mặt của Đảng Cộng sản ở Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ là mối đe dọa nghiêm trọng đến quyền tự do 13 của nhân dân hai quốc gia này nên đã nhanh chóng tận dụng. Hoa Kỳ xem đây là cơ hội vàng để công khai theo đuổi chính sách chống Liên Xô và chủ nghĩa cộng sản nhằm hướng đến mục tiêu quan trọng nhất là trở thành cường quốc lãnh đạo của “thế giới tự do”. Vào ngày 12 tháng 03 năm 1947, tổng thống Harry S. Truman đã phát biểu trước Quốc hội Hoa Kỳ, ông tuyên bố Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ đều là nạn nhân của Liên Xô, vì vậy, ông đã kêu gọi Quốc hội Hoa Kỳ chi 400 triệu đô la nhằm hỗ trợ hai quốc gia kể trên củng cố về kinh tế và quân sự nhằm duy trì nền hòa bình và dân chủ đang bị đe dọa nghiêm trọng (Nguyễn Kim Thoa, 2006, tr.
Cũng trong bài phát biểu này, ông công khai chính sách ngăn chặn Liên Xô và chủ nghĩa cộng sản (nổi tiếng với tên gọi học thuyết Truman và thường được xem là tuyên ngôn khởi nguồn của cuộc đối đầu Hoa Kỳ và Liên Xô kéo dài đến tận khi Liên Xô sụp đổ năm 1991). Tổng thống Harry S. Truman nhấn mạnh việc ngăn chặn sự bành trướng của Liên Xô và chủ nghĩa cộng sản của Hoa Kỳ sẽ không có giới hạn trong bất kỳ phạm vi nào trên thế giới: “Tôi tin rằng chính sách của Hoa Kỳ là phải ủng hộ những dân tộc tự do chống lại mưu toan nô dịch, bất kể chúng xuất phát từ những lực lượng thiểu số có vũ trang hay từ sức ép bên ngoài,… giúp đỡ những dân tộc tự do định đoạt số phận của họ theo cách thức của riêng họ.” (The National Archives of the United States, 1961, p. Như vậy, thông qua bài phát biểu trước Quốc hội, tổng thống Harry S.
Truman đã xác lập chính sách đối ngoại mới của Hoa Kỳ nhằm ủng hộ mọi quốc gia được coi là dân tộc tự do chống lại các phong trào cách mạng mang tính chất cộng sản. Từ đây, Hoa Kỳ chính thức công khai thực hiện chính sách ngăn chặn đối với Liên Xô trên phạm vi toàn cầu, phát động cuộc đối đầu nhằm giảm sự ảnh hưởng của Liên Xô và xóa bỏ chủ nghĩa cộng sản để hiện thực hóa tham vọng bá chủ toàn cầu. 14 Sau khi học thuyết Truman được công bố, tướng George Marshall đã sang châu Âu và ông thấy rằng châu Âu đã bị tàn phá nặng nề bởi chiến tranh. Ông cho rằng tình hình châu Âu đang rất tồi tệ và nếu không có sự giúp đỡ thì sẽ rất dễ tạo điều kiện thuận lợi cho chủ nghĩa cộng sản lớn mạnh tại nơi đây.
Ông đề nghị Hoa Kỳ nên chi viện 17 tỷ đô la nhằm khôi phục nền kinh tế châu Âu và ngăn chặn cộng sản. Về sau, kế hoạch viện trợ này đã được Quốc hội thông qua, nổi tiếng với tên gọi “Kế hoạch Marshall” (Nguyễn Thị Kiều Thúy Liễu, 2013, tr. Đứng trước sự viện trợ của Hoa Kỳ, các nước Tây Âu như: Anh, Pháp, Na Uy,… rất ủng hộ.