PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Sau hơn 30 năm thực hiện đổi mới kinh tế, với nhiều chủ trƣơng, chính sách lớn của Đảng và Nhà nƣớc đã ban hành nhằm tập trung mọi nguồn lực thực hiện phát triển quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn (CCKTNT), đặc biệt là giải quyết hài hòa bài toán “Tam nông‖, đến nay đã thu đƣợc những kết quả thắng lợi. Cơ cấu ngành có sự chuyển dịch theo hƣớng tích cực, tỷ trọng ngành nông - lâm - thủy sản có xu hƣớng giảm, ngành công nghiệp, dịch vụ có xu hƣớng tăng lên. CCKTNT có bƣớc chuyển dịch theo hƣớng đẩy mạnh sản xuất các loại nông sản hàng hóa có nhu cầu thị trƣờng và có giá trị kinh tế cao.
KVNT tiếp tục bảo đảm tốt an ninh lƣơng thực quốc gia. Tại Nghị quyết Trung ƣơng 7 khóa X về vấn đề “Tam nông” đã đặt mục tiêu tăng trƣởng lĩnh vực nông nghiệp đạt bình quân 3,5-4%/năm, nhƣng kết quả phát triển nông nghiệp vẫn chƣa bền vững, tăng trƣởng chƣa vững chắc (tốc độ tăng bình quân các năm qua là 2,66%/năm). Tốc độ chuyển dịch CCKTNT chƣa đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đến hết năm 2017, lao động nông nghiệp vẫn chiếm 40,2% trong tổng số lao động xã hội.
Kinh tế hộ vẫn chiếm tỷ trọng lớn (53,9% tổng số hộ ở NT), canh tác quy mô nhỏ, manh mún. Thu nhập và đời sống của phần lớn nông dân dù đã cải thiện nhƣng vẫn còn thấp. Sau 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ƣơng 7 khóa X, “Thu nhập của người dân nông thôn đã tăng 3,49 lần. Năm 2008 thu nhập bình quân là 9,15 triệu đồng thì đến năm 2017 đã đạt 32 triệu đồng/người/năm, nhưng cũng chỉ mới bằng 78% bình quân chung cả nước.
Kết quả giảm nghèo cũng chưa bền vững, nhiều nơi tỷ lệ hộ nghèo còn cao trên 30%”[45]. Do đó, trong giai đoạn tiếp theo đòi hỏi Đảng và Nhà nƣớc ta cần tiếp tục bổ sung những chính sách (CS) mang tính đặc thù để tạo động lực phát triển kinh tế nông thôn theo cả chiều rộng và chiều sâu. Tỉnh Ninh Bình là một trong những tỉnh thuộc khu vực đồng bằng sông Hồng đã thực hiện đẩy mạnh chuyển dịch CCKTNT với nhiều chính sách đặc thù nhằm cụ thể hóa các chủ trƣơng, CS của Nhà nƣớc trong việc thúc đẩy KTNT phát 2 triển. Thời gian qua, về cơ bản các CS chuyển dịch CCKTNT của tỉnh Ninh Bình đã phát huy những ƣu điểm góp phần ổn định cuộc sống ngƣời dân nông thôn nơi này.
Trong giai đoạn 10 năm (2008 – 2017), tốc độ tăng giá trị sản xuất (GTSX) bình quân hàng năm ngành nông nghiệp (theo nghĩa rộng) đạt 6%/năm; tƣơng tự ngành công nghiệp và xây dựng đạt 18%/năm, ngành dịch vụ đạt 9,7%/năm. Trong đó, cơ cấu ngành nông nghiệp chuyển dịch theo hƣớng giảm trồng trọt, tăng chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản và dịch vụ; công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp chuyển dịch theo hƣớng phát triển mạnh các ngành có thế mạnh và hiệu quả kinh tế cao. Tuy nhiên bên cạnh những ƣu điểm, CS chuyển dịch CCKTNT của tỉnh vẫn còn gặp nhiều hạn chế nhƣ: CS đất đai phục vụ sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ nông thôn của tỉnh vẫn còn bất cập trong việc thực hiện thủ tục hành chính về chuyển đổi mục đích sử dụng đất NN sang đất phi NN, tình trạng sử dụng đất không đúng mục đích, để hoang hóa hoặc sử dụng không có hiệu quả, thực hiện cấp giấy chứng nhận (GCN) quyền sử dụng đất sau khi tiến hành dồn điền đổi thửa (DĐĐT)chậm ảnh hƣởng tâm lý ngƣời dân. Đối với CS chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao: cơ chế hỗ trợ còn thấp, hỗ trợ giống cây trồng, vật nuôi dàn trải, chƣa tập trung vào những cây/con có giá trị kinh tế cao; cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ chƣa đáp ứng yêu cầu sản xuất; công tác dự báo thị trƣờng chƣa thực sự phát triển…CS đầu tƣ và hỗ trợ vốn phục vụ sản xuất, kinh doanh ở khu vực nông thôn của tỉnh vẫn chƣa thực sự đƣợc coi trọng, tỷ lệ đầu tƣ công cho phát triển nông thôn thấp, các DN chƣa thực sự mặn mà đầu tƣ vào khu vực nông thôn, tình trạng thiếu vốn và thủ tục vay vốn phức tạp.
CS phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn trong quá trình thực hiện chƣa phát huy đƣợc sức mạnh của ngƣời dân nông thôn, kinh phí triển khai còn hạn chế. CS đào tạo nghề và tạo việc làm cho lao động nông thôn chƣa thực sự lôi cuốn ngƣời lao động tham gia học nghề, việc lựa chọn ngành nghề đào tạo vẫn còn chƣa phù hợp, bám sát với yêu cầu kỹ thuật của các DN hiện nay; cơ sở vật chất giảng dạy còn thiếu… Có thể khẳng định những hạn chế trên đã làm cho CS chuyển dịch CCKTNT của tỉnh chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu của chuyển dịch CCKTNT cũng nhƣ chƣa thực 3 sự đem lại tính phù hợp và hiệu quả cao. Điều này đƣợc thể hiện qua: Tốc độ chuyển dịch CCKTNT còn chậm, chƣa khai thác đƣợc hết những lợi thế so sánh của địa phƣơng. Quy mô sản xuất vẫn còn nhỏ lẻ, công nghệ sản xuất còn lạc hậu và năng suất lao động thấp.
Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn vẫn còn thiếu và yếu kém, hiện nay số xã chƣa có nhà văn hóa là 34 chiếm 28%. Trình độ cơ giới hóa trong các khâu sản xuất còn ít. Chuyển dịch cơ cấu ngành nghề còn chậm, bình quân mỗi năm lao động ngành nông, lâm, thủy sản chuyển dịch giảm đƣợc 3,2%; lao động công nghiệp, xây dựng chuyển dịch tăng 2,2%; lao động ngành dịch vụ chuyển dịch tăng 0,76%. Tỷ lệ lao động chƣa qua đào tạo còn cao chiếm tới 78,7%; lao động có trình độ từ cao đẳng, đại học trở lên đạt dƣới 10%.
Mức sống của ngƣời dân tuy đƣợc cải thiện nhƣng đa số vẫn còn ở mức thấp [10]. Ngoài ra,tình trạng thiếu việc làm trong nông thôn ngày càng gia tăng, tốc độ đô thị hóa nhanh, thiếu đất canh tác, dịch bệnh diễn biến phức tạp.Điều này cho thấy chất lƣợng chuyển dịch CCKTNT của tỉnh chƣa cao, thiếu ổn định và bền vững. Vì vậy, để giải quyết những khó khăn, hạn chế trong việc thực hiện các CS chuyển dịch CCKTNT của tỉnh Ninh Bình trong thời gian tới; cần phải có sự điều chỉnh, bổ sung và hoàn thiện CS sao cho phù hợp, đáp ứng với điều kiện thực tế và nguyện vọng của ngƣời dân nông thôn. Việc nghiên cứu cơ bản về lý luận và kinh nghiệm thực tiễn cùng với việc phân tích đánh giá ƣu, nhƣợc điểm của các CS đã và đang thực hiện của tỉnh Ninh Bình trong thời gian qua có ý nghĩa quan trọng và cần thiết.
Do vậy, nghiên cứu sinh (NCS) lựa chọn đề tài:―Chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn của tỉnh Ninh Bình‖ làm luận án tiến sỹ kinh tế, chuyên ngành Quản lý kinh tế vừa có tính cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn. Tổng quan tình hình nghiên cứu 2. Các công trình nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và các nhân tố ảnh hưởng đến sự chuyển dịch Việc xác lập một CCKTNT hợp lý là nhân tố hàng đầu quyết định tăng trƣởng và phát triển kinh tế nông thôn. Chính vì vậy, nghiên cứu chuyển dịch CCKTNT luôn là một vấn đề hấp dẫn các nhà khoa học trong và ngoài nƣớc.
Dƣới đây là một 4 số công trình nghiên cứu tiêu biểu, cụ thể: Ở nước ngoài, nghiên cứu của Arthus Lewis (1950) ([39], [40]) với công trình “Lý thuyết về phát triển kinh tế” đã giải thích quy luật khách quan của quá trình chuyển dịch từ khu vực nông nghiệp truyền thống, lạc hậu sang khu vực công nghiệp hiện đại, giữa nông thôn và thành thị, giữa chuyển dịch dân cƣ và đô thị hóa trong quá trình phát triển kinh tế của các nƣớc phát triển. Rostow (1960) ([39], [40]) trong cuốn “Các giai đoạn phát triển kinh tế” đã chỉ ra quá trình chuyển dịch CCKT nói chung và CCKTNT nói riêng trải qua 5 giai đoạn và mỗi giai đoạn sẽ tƣơng ứng với một dạng CCKT nhất định, đó là: Giai đoạn1 - Xã hội truyền thống với dạng CCKT là Nông nghiệp, Giai đoạn 2 - Giai đoạn chuẩn bị cất cánh dạng CCKT là NN – CN, Giai đoạn 3 - Giai đoạn cất cánh dạng CCKT là CN - NN – DV, Giai đoạn 4 - Giai đoạn trƣởng thành, dạng CCKT là CN - DV – NN, Giai đoạn 5 - Tiêu dùng cao, dạng CCKT là DV - CN. Rostow nhấn mạnh mỗi quốc gia, hay mỗi địa phƣơng đều phải trải qua 5 giai đoạn này mà không bỏ qua bất kỳ giai đoạn nào; đồng thời qua mỗi giai đoạn CCKT sẽ chuyển dịch theo hƣớng ngày càng tích cực và hiệu quả hơn. (1961) [96], “The role of agriculture in econmic development” đã trình bày quá trình phát triển khu vực nông nghiệp nông thôn thành 3 giai đoạn: (1) Giai đoạn chuẩn bị cho sự phát triển NN; (2) Tăng hiệu suất cho quá trình sản xuất NN bằng việc thực hiện tiết kiệm vốn và tăng lao động, khi dân số nông thôn tăng cao, nhu cầu về lƣơng thực thực phẩm lớn trong khi mức đầu tƣ cho NN còn thấp; (3) Giai đoạn phát triển NN thông qua kỹ thuật “cần nhiều vốn và tiết kiệm lao động”, thực hiện công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn.Oshima (1986) ([39],[40]) trong tác phẩm “Tăng trưởng kinh tế ở các nước Châu Á gió mùa‖ đã đƣa ra những quan điểm mới về chuyển dịch CCKT trên cơ sở phù hợp với đặc điểm về điều kiện tự nhiên, hoạt động kinh tế ở các quốc gia thuộc khu vực Châu Á.(1988) [88], “Structural transformation”, cho rằng mỗi quốc gia hay mỗi địa phƣơng trong quá trình phát triển kinh tế cần phải lựa chọn cho mình một sự chuyển dịch CCKTNT một cách có hiệu quả trên cơ sở khai thác tối đa mọi 5 tiềm lực và lợi thế so sánh của từng quốc gia, từng vùng, từng địa phƣơng.
Đặc biệt sự chuyển dịch CCKTNT cần chú trọng vào việc nâng cao năng suất lao động và phát triển các ngành nghề phi NN.