Chương 1. PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN 1. Một số vấn đề lý luận cơ bản về viện kiểm sát nhân dân trong hệ thống bộ máy nhà nước 1. Sự cần thiết đối với việc tổ chức cơ quan Viện kiểm sát nhân dân trong bộ máy nhà nước Chúng ta không chấp nhận chế độ đa nguyên, đa Đảng cũng như nguyên tắc phân chia quyền lực triệt để trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước và không áp dụng cơ chế “ kìm chế - đối trọng”.
Xuất phát từ nguyên tắc tập trung dân chủ, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân, quyền lực nhà nước là thống nhất. Nhân dân trao quyền lực cho Quốc hội - cơ quan được thành lập thông qua phổ thông, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Quốc hội vừa là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, vừa là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất có quyền “lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước” (Điều 69- Hiến pháp 2013) nhằm đảm bảo cho mọi hoạt động của Nhà nước hướng vào những mục tiêu chung của cuộc cách mạng XHCN mà Đảng và Nhà nước đã đề ra. Tuy nhiên, do các điều kiện khách quan và vị trí Hiến định của mình nên Quốc hội thực hiện quyền giám sát thông qua việc xem xét các báo cáo hoạt động của Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân.
Ở địa phương, Hội đồng nhân dân là cơ quan đại biểu, cơ quan quyền lựcc của Nhà nước giám sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan nhà nước. Hình thức giám sát chủ yếu của Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp là thông qua báo cáo và chất vấn những người đứng đầu của các cơ quan, tổ chức tại các kỳ họp. Quốc hội là cơ quan làm việc theo chế độ hội nghị mỗi năm hai kỳ nên việc giám sát này trong thực tế cũng có nhiều hạn chế, hiệu quả chưa cao và công việc luôn ở trong tình trạng quá tải. Do đó, Quốc hội chỉ tập trung giám sát những vấn đề lớn liên quan sự sống còn của cả quốc gia, trật tự chung của toàn xã hội.
Để thực hiện công tác giám sát việc tuân theo pháp luật có hiệu quả nhằm đảm bảo tính thống nhất của pháp chế, thì Quốc hội phải cần đến sự trợ giúp của cơ quan chuyên môn thực hiện thường xuyên, coi đó như một công cụ giám sát hữu hiệu của mình. Với những lý do đó, Quốc hội đã tổ chức ra một hệ thống cơ quan và xác định nó thông qua Hiến pháp và Luật. Hệ thống cơ quan đó là Viện kiểm sát nhân dân. MSV: 12145184 – Nguyễn Bá Linh 4 Chuyên đề thực tập ngành Luật Như vậy, hệ thống cơ quan Viện kiểm sát nhân dân nằm trong khuôn khổ và nhằm đảm bảo tính thống nhất của quyền lực của Nhà nước ta.
Nó không phải là một yếu tố “đối trọng, hạn chế ” như cách tổ chức quyền lực theo nguyên tắc phân quyền ở các nước tư sản. Với việc tổ chức ra hệ thống cơ quan này là một trong những điều kiện tạo cơ sở pháp lý, hình thức cho quyền lực được tổ chức, được thực hiện một cách thống nhất trong điều kiện Nhà nước ta là Nhà nước XHCN của dân, do dân, vì dân, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, dưới sự lãnh đạo duy nhất, toàn diện và tuyệt đối của Đảng. Vị trí pháp lý và vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong bộ máy nhà nước với việc đảm bảo pháp chế 1. Vị trí pháp lý của Viện kiểm sát nhân dân Vị trí pháp lý của Viện kiểm sát nhân dân trong bộ máy nhà nước ta quy định bởi các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước được xác lập trong Hiến pháp.
Vận dụng tư tưởng của Lê-Nin và Hồ Chí Minh về tổ chức bộ máy nhà nước, Viện kiểm sát nhân dân được thành lập và thể hiện trong các Hiến pháp 1959, 1980, 1992, 2013 cũng như tại Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2014. Cùng với Quốc hội trong hệ thống bộ máy nhà nước ta còn có ba hệ thống cơ quan nhà nước khác nhau đó là: - Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước: gồm Chính phủ và Uỷ ban nhân dân các cấp (theo Điều 94 và Điều 110 Hiến pháp 2013). - Hệ thống cơ quan xét xử: gồm Toà án nhân dân các cấp (theo Điều 102 Hiến pháp 2013). - Hệ thống cơ quan kiểm sát: gồm Viện kiểm sát nhân dân các cấp (theo Điều 107 Hiến pháp 2013).
Tuy chỉ là một bộ phận trong bộ máy nhà nước nhưng Viện kiểm sát nhân dân lại tồn tại như một hệ thống tương đối độc lập và có một vị trí đặc biệt quan trọng trong bộ máy nhà nước không bị lệ thuộc trong tổ chức và hoạt động do cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất là Quốc hội bầu, chịu trách nhiệm và báo cáo trước Quốc hội. Chính vị trí độc lập trong bộ máy nhà nước là nhân tố đảm bảo cho Viện kiểm sát nhân dân thực hiện chức năng của mình một cách có hiệu quả. Điều đó được thể hiện: Thứ nhất: Ngoài Viện kiểm sát nhân dân không có cơ quan chức năng nào thực hiện quyền công tố Nhà nước. Đây là chức năng quan trọng mà luật giao cho Viện kiểm sát nhân dân đảm nhiệm, cho phép phân biệt vị trí của Viện kiểm sát nhân dân trong bộ máy nhà nước ta với các cơ quan khác của Nhà nước.
Đó là quyền truy tố kẻ phạm tội ra trước Toà án và nhân danh Nhà nước buộc tội kẻ MSV: 12145184 – Nguyễn Bá Linh 5 Chuyên đề thực tập ngành Luật phạm tội ra trước toà hay quyền phê chuẩn, thay đổi hoặc áp dụng các biện pháp ngăn chặn. Thứ hai: Chỉ có Viện kiểm sát nhân dân là hệ thống cơ quan duy nhất được pháp luật giao cho quyền kiểm sát các hoạt động tư pháp, góp phần đảm bảo cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất. Khác với Viện kiểm sát, Thanh tra Nhà nước - theo Pháp lệnh Thanh tra 1980- cũng có nhiệm vụ kiểm sát, Thanh tra việc chấp hành pháp luật, bảo vệ pháp chế nhưng chủ yếu để tăng cường kỷ luật trong quản lý nhà nước. Nghĩa là hoạt động Thanh tra chính là biện pháp quản lý, điều hành không thể thiếu để mỗi cơ quan quản lý tự xem xét và tổ chức thực hiện nhiệm vụ, kế hoạch và các quyết định của chính mình hoặc của cấp dưới trực thuộc.
Viện kiểm sát nhân dân trong quá trình thực hiện chức năng đặc thù của mình trong những trường hợp do luật định như: kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử hình sự, kiểm sát thi hành án và trong một số lĩnh vực khác. Trên cơ sở đó Viện kiểm sát nhân dân sẽ có một số thẩm quyền như: kiến nghị, kháng nghị. mà hầu hết các cơ quan nhà nước khác không có hoặc có không đầy đủ. Thứ ba: Hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân luôn xuất phát từ Luật và đảm bảo địa vị tối cao của Luật.
Có nghĩa là trong nghiệp vụ công tác của mình Viện kiểm sát nhân dân không làm theo mệnh lệnh của bất kỳ người nào, cơ quan nào nếu đó không phải là Luật hay trái với quy định của pháp luật. Vai trò của Viện kiểm sát nhân dân Hơn 40 năm hoạt động, Viện kiểm sát nhân dân các cấp đã góp phần phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm cũng như đại diện cho Nhà nước phát hiện, làm rõ và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi phạm tội. Với tư cách là cơ quan tiến hành tố tụng, bảo đảm thực hiện mục đích của tố tụng hình sự là: “Phát hiện chính xác nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội” (Điều 2 Bộ luật tố tụng hình sự). Vai trò công tố củaViện kiểm sát nhân dân được đề cao hơn, nhất là trong giai đoạn điều tra tội phạm được ưu tiên bên cạnh chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp vốn đã xem là vai trò chủ đạo của Viện kiểm sát nhân dân tồn tại trong một thời gian dài trước khi có Hiến pháp 2013 và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2014 ra đời.
Pháp luật hình sự nước ta quy định “không ai có thể bị coi là có tội và phải chịu hình phạt, khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật”. Với nguyên tắc suy đoán vô tội này thì trách nhiệm chứng minh thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân không chỉ kiểm sát các hoạt động tư pháp mà còn có trách nhiệm áp dụng MSV: 12145184 – Nguyễn Bá Linh 6 Chuyên đề thực tập ngành Luật mọi biện pháp luật định để đảm bảo cho việc phát hiện tội phạm và người phạm tội một cách chính xác, khách quan, đầy đủ trong tất cả các giai đoạn tố tụng. Đây là vai trò đặc thù xuất phát từ chức năng Hiến pháp do Quốc hội trao cho Viện kiểm sát nhân dân mà không trao cho cơ quan nhà nước khác.
Chức năng và nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân trong bộ máy nhà nước 1. Chức năng của Viện kiểm sát nhân dân Nói đến chức năng của Viện kiểm sát nhân dân cũng như các cơ quan nhà nước khác là xác định những phương hướng hoạt động chủ yếu của cơ quan nhà nước đó. Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960, 1981,1992 và 2014 đã thể hiện đồng thời hai chức năng: + Kiểm sát việc tuân theo pháp luật: bao gồm Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực hành chính, kinh tế, xã hội và kiểm sát các hoạt động tư pháp thông qua kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử, kiểm sát thi hành án, kiểm sát giam giữ cải tạo. + Thực hành quyền công tố trong quá trình điều tra và xét xử.
Trong bối cảnh cả nước đã và đang tiếp tục tiến hành cải cách tư pháp trên cơ sở quy định của Hiến pháp 2013 ngành kiểm sát đã điều chuyển chức năng của mình.