Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong tổ chức bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Viện kiểm sát nhân dân giữ vị trí cơ quan tư pháp hiến định, thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp. Hệ thống Viện kiểm sát nhân dân được tổ chức theo nguyên tắc tập trung thống nhất lãnh đạo trong ngành và độc lập với các cơ quan địa phương. Trong mô hình ba cấp kiểm sát (trung ương, tỉnh, huyện), Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện là cấp cơ sở trực tiếp nắm bắt tình hình chấp hành pháp luật và đấu tranh phòng ngừa tội phạm trên địa bàn. Thực tiễn áp dụng pháp luật tại Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái cho thấy bên cạnh các kết quả công tác đạt được, hoạt động tư pháp tại địa phương vẫn gặp phải khó khăn, vướng mắc trong việc bảo đảm pháp chế và phòng ngừa oan sai.
Nhằm làm rõ cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp, đề tài xác định các nhiệm vụ nghiên cứu:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và các quy định của pháp luật Việt Nam về vị trí, chức năng, nhiệm vụ, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân (trọng tâm là cấp huyện).
- Phân tích thực trạng tổ chức bộ máy, mối quan hệ công tác và kết quả thực hiện các khâu công tác nghiệp vụ tại Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái.
- Xác định những hạn chế, vướng mắc phát sinh từ thực tiễn cơ sở và đề xuất phương hướng, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của ngành kiểm sát.
Đối tượng nghiên cứu là những vấn đề lý luận và thực tiễn pháp lý về tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện. Phạm vi nghiên cứu về không gian tập trung tại Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái; phạm vi nội dung giới hạn ở việc tìm hiểu cơ cấu tổ chức, các khâu nghiệp vụ kiểm sát (hình sự, dân sự, thi hành án, khiếu tố) và mối quan hệ phối hợp với các cơ quan liên quan, không đi sâu phân tích toàn diện lý luận chức năng chung của toàn bộ hệ thống cơ quan nhà nước.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Đề tài xây dựng trên hệ thống văn bản pháp luật và văn kiện chỉ đạo của Đảng:
- Hiến pháp năm 2013 (các điều 69, 94, 102, 107, 108, 109, 110).
- Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 (thay thế các đạo luật năm 1960, 1981, 1992).
- Bộ luật Tố tụng hình sự (Điều 2, 143a, 154) và Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (Điều 174 khoản 2).
- Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới.
- Chỉ thị số 53/CT-TW của Bộ Chính trị về công tác tư pháp và phòng chống oan sai.
- Quyết định số 01/2003/VKSTC-TCCB, Quyết định số 120/QĐ-VTC và Quyết định số 121/2003/QĐ-VKSTC của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao về bộ máy làm việc của Viện kiểm sát nhân dân các cấp.
Tác giả vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin; kết hợp phương pháp phân tích, tổng hợp quy định pháp luật với phương pháp thống kê, so sánh, đối chiếu số liệu báo cáo nghiệp vụ thực tế tại Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghĩa Lộ so với cùng kỳ năm 2014. Nguồn dữ liệu sử dụng gồm các văn bản quy phạm pháp luật, tài liệu bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm sát và hồ sơ, số liệu thống kê công tác thực tế của đơn vị thực tập.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Pháp luật Việt Nam về tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân
Chương 1 làm rõ vị trí pháp lý của Viện kiểm sát nhân dân trong bộ máy nhà nước thống nhất quyền lực dưới sự lãnh đạo của Đảng, không áp dụng mô hình phân quyền "kiềm chế - đối trọng". Nhằm khắc phục tình trạng quá tải trong hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội và giám sát của Hội đồng nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân được thiết lập như một công cụ chuyên môn thường xuyên để bảo đảm tính thống nhất của pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Khác với các đạo luật kiểm sát trước đây quy định chức năng "kiểm sát chung" (kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực hành chính, kinh tế, xã hội), Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 thể chế hóa Nghị quyết 08-NQ/TW của Bộ Chính trị, điều chuyển phạm vi chức năng:
- Thu hẹp phạm vi kiểm sát: Viện kiểm sát nhân dân thôi thực hiện chức năng kiểm sát chung, chỉ tập trung kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực hoạt động tư pháp.
- Thứ tự ưu tiên chức năng: Đặt chức năng thực hành quyền công tố lên hàng đầu, là chức năng cơ bản thứ nhất nhân danh công quyền trong tố tụng hình sự, đồng thời kết hợp chặt chẽ với chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp từ giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố đến xét xử và thi hành án.
Về nguyên tắc tổ chức, Viện kiểm sát nhân dân vận hành theo hai nguyên tắc đặc thù:
- Nguyên tắc tập trung thống nhất lãnh đạo trong ngành: Toàn ngành đặt dưới sự lãnh đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; tại mỗi đơn vị, Viện trưởng là người quyết định và chịu trách nhiệm cá nhân, kết hợp cơ chế thảo luận tập thể trong Ủy ban kiểm sát ở cấp tối cao và cấp tỉnh.
- Nguyên tắc độc lập không lệ thuộc vào bất kỳ cơ quan nào ở địa phương: Viện kiểm sát nhân dân không tổ chức theo chế độ trực thuộc hai chiều, không chịu sự lãnh đạo của Ủy ban nhân dân hay Hội đồng nhân dân cùng cấp, chỉ tuân thủ Hiến pháp, pháp luật và chỉ thị của cấp trên.
Về cơ cấu hệ thống, Luật năm 2014 xác định 4 cấp kiểm sát (Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện) và Viện kiểm sát quân sự các cấp. Tại cấp huyện, bộ máy làm việc gồm 3 bộ phận nghiệp vụ chuyên môn:
- Bộ phận thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử và kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam.
- Bộ phận kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính, kinh tế, lao động và kiểm sát thi hành án.
- Bộ phận văn phòng tổng hợp, thống kê tội phạm và khiếu tố.
Chương này cũng phân định cụ thể thẩm quyền của Kiểm sát viên trong từng giai đoạn tố tụng hình sự (đề ra yêu cầu điều tra bằng văn bản theo Điều 143a, 154 BLTTHS, trực tiếp hỏi cung, phúc cung, phê chuẩn/hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, tham gia xét hỏi, đọc cáo trạng, luận tội tại phiên tòa) và tố tụng dân sự (kiểm sát thụ lý theo Điều 174 khoản 2 BLTTDS 2004, tham gia 100% phiên họp việc dân sự, tham gia các phiên tòa có khiếu nại về thu thập chứng cứ, kháng nghị phúc thẩm).
Chương 2: Tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghĩa Lộ - tỉnh Yên Bái
Chương 2 mô tả cơ cấu tổ chức và các mối quan hệ phối hợp công tác của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghĩa Lộ:
- Quan hệ với Cơ quan điều tra - Công an thị xã Nghĩa Lộ: Duy trì chế độ giao ban định kỳ vào chiều thứ Năm hàng tuần để thông báo tình hình tiếp nhận, xử lý tin báo tố giác tội phạm; Kiểm sát viên mượn hồ sơ nghiên cứu 02 lần/tháng để đề ra yêu cầu điều tra; phối hợp liên ngành đánh giá chứng cứ và điều khoản áp dụng trước khi kết thúc điều tra.
- Quan hệ với Cơ quan thi hành án thị xã Nghĩa Lộ: Trực tiếp kiểm sát việc ra quyết định và tổ chức thi hành án, giải quyết khiếu nại, tố cáo và ban hành kiến nghị khắc phục vi phạm.
- Quan hệ với Hội đồng nhân dân thị xã Nghĩa Lộ: Chịu sự giám sát của Hội đồng nhân dân, Viện trưởng báo cáo tình hình chấp hành pháp luật và trả lời chất vấn của đại biểu tại các kỳ họp.
- Quan hệ với Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái: Thực hiện chế độ họp giao ban tháng và tổng kết công tác năm.
Bảng tổng hợp kết quả công tác thực tế của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghĩa Lộ:
| Lĩnh vực công tác |
Chỉ tiêu theo dõi |
Khối lượng thụ lý / Tổng số |
Kết quả giải quyết |
Tỷ lệ đạt được / Đánh giá |
| Tin báo, tố giác tội phạm |
Tiếp nhận, xác minh tin báo |
50 tin (3 cũ, 47 mới) |
Giải quyết 48 tin (khởi tố 32, không khởi tố 11, tạm dừng xác minh 4, chuyển đi 1; tồn 2) |
Đạt 96% (vượt 6% kế hoạch, tăng 4% so với 2014) |
| Kiểm sát điều tra hình sự |
Số vụ án / Số bị can thụ lý |
58 vụ / 52 bị can (44 vụ mới khởi tố, 6 vụ cũ, 3 chuyển đến, 1 phục hồi, 1 thụ lý lại, 3 ĐTBS) |
Giải quyết 53 vụ / 49 bị can (đề nghị truy tố 31 vụ/45 bị can, KLĐTBS 2 vụ/2 bị can, tạm đình chỉ 12 vụ, chuyển đi 2 vụ, nhập 6 vụ; tồn 5 vụ/3 bị can) |
Đạt 91,5% (vượt 11,5% kế hoạch, tăng 2,8% so với 2014) |
| Thực hành quyền công tố truy tố |
Số vụ / Số bị can truy tố |
34 vụ / 48 bị can (1 cũ, 33 mới) |
Giải quyết 34 vụ / 48 bị can (truy tố 31 vụ/45 bị can, tạm đình chỉ 1 vụ, đình chỉ 1 vụ do bị can chết, trả ĐTBS 1 vụ; tồn 0) |
Đạt 100% (vượt 5% kế hoạch, tăng 2,5% so với 2014) |
| Kiểm sát xét xử hình sự |
Số vụ / Số bị cáo xét xử |
43 vụ / 67 bị cáo (12 cũ, 31 mới) |
Giải quyết 42 vụ / 66 bị cáo (xét xử 40 vụ/64 bị cáo, Tòa trả ĐTBS 2 vụ; tồn 1 vụ/1 bị cáo) |
Đạt 97,7%; tổ chức 6 phiên tòa rút kinh nghiệm, 15 phiên lưu động |
| Tạm giữ, tạm giam |
Bắt, phê chuẩn tạm giữ |
11 trường hợp (khẩn cấp 2, quả tang 7, đầu thú 1, truy nã 1) |
Giải quyết 11 trường hợp (chuyển tạm giam 7, áp dụng biện pháp khác 3, chuyển nơi truy nã 1) |
Đạt 100%; tiến hành 4 cuộc kiểm sát toàn diện nhà tạm giữ |
| Kiểm sát thi hành án hình sự |
Án treo và cải tạo không giam giữ |
29 trường hợp án treo (16 cũ, 13 mới); 6 cải tạo không giam giữ |
Đã thi hành xong 9 án treo (tồn 20 đang thi hành); thi hành xong 1 cải tạo không giam giữ (tồn 5) |
Đảm bảo đúng quy định pháp luật |
| Kiểm sát giải quyết án Dân sự - HNGĐ |
Vụ việc dân sự, hôn nhân & gia đình |
97 vụ án (14 tranh chấp, 83 HNGĐ); 1 việc HNGĐ |
Giải quyết 84 vụ (công nhận thỏa thuận 63, đình chỉ 14, xét xử 6, chuyển nơi khác 1; tồn 13 vụ); mở phiên họp 1 việc HNGĐ |
Đạt 86,5% |
| Kiểm sát thi hành án dân sự |
Việc thi hành án dân sự |
338 việc (70 cũ, 268 mới) |
Kết thúc thi hành 263 việc, đình chỉ 5, ủy thác 9 việc; còn lại 63 việc (18 đang thi hành, 45 chưa có điều kiện) |
Ban hành 01 kiến nghị khắc phục vi phạm sổ quỹ và biên bản xác minh |
| Giải quyết khiếu tố tư pháp |
Tiếp công dân và giải quyết đơn |
Tiếp 01 lượt công dân; tiếp nhận 6 đơn / 5 vụ việc |
Chuyển Cơ quan điều tra 6 đơn/5 việc; đang giải quyết 1 đơn thuộc thẩm quyền VKS |
Đạt 85,7% |
Cơ cấu tội phạm khởi tố mới tại địa phương tập trung vào tội Trộm cắp tài sản (29 vụ/16 bị can), Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (4 vụ/3 bị can), Mua bán trái phép chất ma túy (2 vụ/2 bị can), Cố ý gây thương tích (2 vụ/2 bị can), Cướp tài sản (2 vụ/5 bị can), Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (2 vụ/5 bị can), Đánh bạc (1 vụ/4 bị can), Cưỡng đoạt tài sản (1 vụ/1 bị can), Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (1 vụ/1 bị can). Trong kỳ công tác, đơn vị không để xảy ra trường hợp bắt giữ oan sai, không có trường hợp truy tố bị Tòa án tuyên không phạm tội.
Chương 3: Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân
Chương 3 đề xuất các phương hướng và giải pháp hoàn thiện:
- Về tổ chức bộ máy và cán bộ:
- Kiện toàn tổ chức bộ máy theo quy định của Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014; phân định rành mạch thẩm quyền, trách nhiệm của từng bộ phận.
- Xây dựng tiêu chuẩn đội ngũ cán bộ kiểm sát theo phương châm "vững về chính trị, giỏi về nghiệp vụ, gương mẫu về phẩm chất đạo đức, có tinh thần đấu tranh bảo vệ chân lý, giữ nguyên tắc".
- Chuyển hướng và đổi mới công tác đào tạo tại hai trường Kiểm sát gắn với tinh thần Nghị quyết 08-NQ/TW của Bộ Chính trị.
- Đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị làm việc và ban hành chế độ chính sách đãi ngộ thỏa đáng cho cán bộ, Kiểm sát viên cấp huyện.
- Về phương thức hoạt động nghiệp vụ:
- Giữ vững sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác kiểm sát; phối hợp chặt chẽ liên ngành Công an - Viện kiểm sát - Tòa án trên nguyên tắc tuân thủ pháp luật, tránh tình trạng nể nang, thỏa hiệp hoặc xuôi chiều.
- Nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố gắn liền với hoạt động điều tra; tăng cường kỹ năng tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên tòa; hạn chế tối đa việc trả hồ sơ điều tra bổ sung.
- Thực hiện nghiêm túc Chỉ thị 53/CT-TW của Bộ Chính trị, quy định rõ trách nhiệm của Viện kiểm sát địa phương nếu để xảy ra oan sai trong việc phê chuẩn bắt, tạm giữ, tạm giam.
- Tăng cường kiểm sát thi hành án, giải quyết khiếu tố và kiểm sát giải quyết các vụ việc dân sự, kinh tế, hành chính.
- Giải quyết vướng mắc cụ thể tại cơ sở: Hoàn thiện quy định về cơ chế điều phối cán bộ, chế độ bảo đảm quyền lợi cho Kiểm sát viên cấp huyện, quy trình bồi thường oan sai trong tố tụng hình sự và quy chế phối hợp liên ngành.
Kết quả và đóng góp
Nghiên cứu đạt được các kết quả cụ thể:
- Làm rõ cơ sở pháp lý về sự chuyển dịch chức năng của Viện kiểm sát nhân dân theo Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014, khẳng định tính tất yếu của việc chấm dứt chức năng kiểm sát chung để tập trung vào thực hành quyền công tố và kiểm sát tư pháp.
- Phản ánh trung thực thực trạng công tác tại Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghĩa Lộ thông qua hệ thống số liệu định lượng: tỷ lệ giải quyết tin báo đạt 96%, tỷ lệ kiểm sát điều tra đạt 91,5%, tỷ lệ truy tố đạt 100%, tỷ lệ xét xử đạt 97,7%, kiểm sát giải quyết án dân sự đạt 86,5%, không có án oan sai hoặc đình chỉ do không phạm tội.
- Chỉ ra các vi phạm thực tế trong thi hành án dân sự tại địa bàn (không khóa sổ quỹ cuối ngày, thiếu xác nhận của tổ trưởng tổ dân phố trong biên bản xác minh) và ghi nhận việc ban hành 01 kiến nghị khắc phục có hiệu lực.
- Đóng góp luận cứ thực tiễn từ cấp huyện miền núi vào tiến trình cải cách tư pháp, bổ sung nguồn dữ liệu khảo sát cơ sở mà các công trình nghiên cứu lý luận chung trước đó chưa đề cập chi tiết.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Dữ liệu thực nghiệm của đề tài giới hạn tại một đơn vị kiểm sát cấp huyện miền núi (thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái); trong kỳ khảo sát chưa phát sinh các vụ án hành chính, kinh doanh thương mại, lao động nên chưa phản ánh được đầy đủ nghiệp vụ kiểm sát ở các lĩnh vực này.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Cần mở rộng phạm vi khảo sát sang các địa bàn đô thị có quy mô án kinh doanh thương mại và hành chính phức tạp; nghiên cứu sâu hơn cơ chế giải quyết bồi thường oan sai theo Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và tác động của các quy chế phối hợp liên ngành mới đối với tính độc lập của Kiểm sát viên.
Giá trị tham khảo
Tài liệu có giá trị tham khảo cho:
- Sinh viên, học viên ngành Luật trong việc nghiên cứu môn học Luật Tổ chức cơ quan tư pháp, Luật Tố tụng hình sự, Luật Tố tụng dân sự.
- Cán bộ, Kiểm sát viên, chuyên viên nghiệp vụ tại Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện tham khảo mô hình phối hợp liên ngành (giao ban tin báo tội phạm thứ Năm hàng tuần, quy trình mượn hồ sơ 02 lần/tháng để đề ra yêu cầu điều tra).
- Các nhà nghiên cứu tham khảo số liệu thực tế về cơ cấu tội phạm và kết quả giải quyết án tại địa bàn miền núi tỉnh Yên Bái.
Câu hỏi thường gặp
1. Viện kiểm sát nhân dân hoạt động theo nguyên tắc độc lập nhưng chịu sự giám sát của Hội đồng nhân dân cùng cấp như thế nào?
Viện kiểm sát nhân dân không chịu sự lãnh đạo của chính quyền địa phương và không trực thuộc hai chiều. Mối quan hệ với Hội đồng nhân dân là quan hệ chịu sự giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện có trách nhiệm báo cáo tình hình chấp hành pháp luật tại địa phương và trả lời chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân tại các kỳ họp định kỳ.
2. Quy chế phối hợp điều tra giữa Viện kiểm sát và Công an thị xã Nghĩa Lộ được thực hiện cụ thể ra sao?
Hai cơ quan duy trì họp giao ban vào chiều thứ Năm hàng tuần để thông tin tình hình tội phạm và kết quả xử lý tin báo. Trong quá trình điều tra, mỗi tháng 02 lần Kiểm sát viên mượn hồ sơ có biên bản giao nhận để nghiên cứu và đề ra yêu cầu điều tra bằng văn bản; trước khi kết thúc điều tra, Điều tra viên thông báo để hai bên thống nhất đánh giá chứng cứ, tội danh và điều khoản áp dụng nhằm tránh việc phải trả hồ sơ điều tra bổ sung.
3. Trong tố tụng dân sự sơ thẩm, Viện kiểm sát nhân dân tham gia các phiên tòa, phiên họp trong trường hợp nào?
Theo quy định được viện dẫn trong đề tài, Viện kiểm sát không tham gia 100% phiên tòa dân sự mà chỉ tham gia đối với các vụ án do Tòa án thu thập chứng cứ mà đương sự có khiếu nại; ngược lại, Viện kiểm sát tham gia 100% các phiên họp giải quyết việc dân sự của Tòa án để kiểm sát việc tuân theo pháp luật.
4. Kết quả giải quyết án hình sự tại Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghĩa Lộ có điểm nổi bật nào về chỉ tiêu thi đua?
Đơn vị giải quyết 48/50 tin báo tội phạm (đạt 96%, vượt 6% kế hoạch); giải quyết 53/58 vụ án điều tra (đạt 91,5%, vượt 11,5% kế hoạch); giải quyết 34/34 vụ án truy tố (đạt 100%, vượt 5% kế hoạch); không có trường hợp nào bắt giữ oan sai, không có vụ án nào Viện kiểm sát truy tố mà Tòa án tuyên không phạm tội, và tỷ lệ trả hồ sơ điều tra bổ sung tính vào chỉ tiêu thi đua bằng 0.
5. Cơ cấu tội phạm khởi tố mới trên địa bàn thị xã Nghĩa Lộ tập trung chủ yếu vào loại tội danh nào?
Trong số 44 vụ án mới khởi tố trong kỳ báo cáo, tội Trộm cắp tài sản chiếm tỷ trọng lớn nhất với 29 vụ (16 bị can), các tội danh còn lại gồm Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (4 vụ), Ma túy (2 vụ), Cố ý gây thương tích (2 vụ), Cướp tài sản (2 vụ), Lừa đảo (2 vụ), Đánh bạc (1 vụ), Cưỡng đoạt tài sản (1 vụ) và Vi phạm giao thông đường bộ (1 vụ).
Kết luận
Chuyên đề tốt nghiệp đã phân tích hệ thống cơ sở pháp lý về tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân theo tinh thần Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014, làm rõ sự chuyển trọng tâm vào chức năng công tố và kiểm sát tư pháp. Khảo sát thực tế tại Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghĩa Lộ (Yên Bái) cung cấp bức tranh chi tiết về các chỉ tiêu nghiệp vụ, cơ chế phối hợp liên ngành Công an - Viện kiểm sát - Tòa án ở cấp cơ sở. Các giải pháp hoàn thiện về tổ chức cán bộ, nâng cao kỹ năng tranh tụng và tăng cường kiểm soát quyền lực tư pháp được đề xuất có giá trị thực tiễn đối với tiến trình cải cách tư pháp hiện nay.