CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ TRUYỀN THÔNG MÔI TRƯỜNG: 1. Khái niệm truyền thông: 1. Khái niệm: “Truyền thông là quá trình trao đổi thông tin, ý tưởng, tình cảm, suy nghĩ, thái độ, chia sẻ kinh nghiệm giữa hai hay một nhóm người với nhau để tạo ra một sự đồng thuận cao hơn, một sức mạnh lớn hơn” [13].
Truyền thông là một phần không thể thiếu trong đời sống sinh hoạt của con người, với ý nghĩa: Là một công cụ thiết yếu để đạt được các mục tiêu của chính sách hay một dự án và đòi hỏi một cách tiếp cận có hệ thống được lên kế hoạch trước, liên quan. Đóng vai trò quan trọng trong lập chương trình hay xác định dự án, ban hành, thực thi, kiểm soát, đánh giá chính sách hoặc dự án và duy trì sự kiểm soát. Đóng vai trò tích cực để đưa thông tin vào trong cuộc tranh luận nhằm đạt được từ phía những lãnh đạo, nhà chính trị, cũng nhằm sắp xếp các vấn đề trong cương trình nghị sự của xã hội và chuẩn bị những bước khởi đầu cho sự phát triển của xã hội. Bày tỏ sự quan tâm của mọi tầng lớp trong xã hội, từ những người dân thương đến các nhà hoạch định chính sách hay những người cung cấp dịch vụ.
Một phần quan trọng của truyền thông là lắng nghe, làm rõ vấn đề, sự tiếp thu, thái độ, thiện chí tham gia của mọi người, các hoạt động thực tiễn, những trở ngại dễ thay đổi và các lợi ích tiềm ẩn. Điều này cho phép có thể dựa vào những nỗ lực truyền thông để giải quyết các vấn đề dẫn tới những hoạt động không phù hợp gây ra do thiếu kiến thức, thái độ hay khả năng thực hiện hành động. Truyền thông sẽ có hiệu quả nhất khi được kết nối với các vấn đề cụ thể nhớ đó các hoạt động khả thi và thuận lợi có thể thấy rõ được. Thành phần cơ bản của truyền thông: Các thành phần cơ bản của truyền thông bao gồm: Người gửi (nguồn): Ngườn thông tin càng có uy tín thì sự thay đổi thái độ, quan điểm của người nhận càng lớn.
4 Thông điệp (nội dung, thông tin): Các thông điệp với những hấp dẫn về kinh tế thường có hiệu quả cao. Kênh truyền (mang thông điệp): các kênh truyền thu hút nhiều giác quan sẽ làm thay đổi tốt hơn – hiệu quả truyền thông cao hơn. Người nhận (nơi nhận thông tin): hiệu quả phụ thuộc vào các đặc điểm xã hội, quan điểm, thái độ, trình độ học vấn… của người nhận. Mô hình truyền thông đơn giản Như mô hình trên, truyền thông có vẻ như là một chu trình đơn giản, dễ dàng.
Trong thực tế, rất hiếm khi diễn ra suôn sẻ như vậy. Việc sử dụng mô hình giản lược này không phải là cung cấp giải pháp cho quá trình truyền thông mà chính là các tham số để phân tích các quá trình truyền thông và để xác định ra các khiếm khuyết nhằm cải thiện chúng một cách có hiệu quả hơn. Các phương thức tiếp cận: Phương thức một chiều: Trong phương thức này, người gửi chỉ gửi hoặc truyền thông điệp tới người nhận mà người nhận không có điều kiện trao đổi lại thông tin với người gửi một cách trực tiếp. Phương thức truyền thông này thường được sử dụng để phổ biến thông tin đặc biệt là trong các trường hợp khẩn cấp như: cháy nhà, động đất, núi lửa, vỡ đê… Đây là loại truyền thông đơn giản nhất.
Thông điệp Người gửi Kênh truyền Người nhận 5 Phương thức hai chiều: Trong phương thức này, người gửi và người nhận thông điệp có thể trao đổi với nhau. Người gửi khởi đầu quá trình và người nhận trả lời lại. Như vậy có sự phản hồi từ phía người nhận. Mô hình truyền thông hai chiều thường được áo dụng ở các cơ quan thăm dò dư luận, hoặc các nhóm chuyên gia chuyên nghiên cứu về ý kiến phản hồi của khách hang (của cộng đồng), của các công ty… Thông điệp Người gửi Kênh truyền Người nhận Phản hồi Phương thức ba chiều: Phương thức này về cơ bản giống phương pháp truyền thông hai chiều.
Duy có một điểm khác đó là: Người gửi thông điệp bắt đầu quá trình bằng việc thu nhập và phân tích đặc điểm của người nhận, rồi sau đó mới gửi thông điệp. Như vậy, gửi thông điệp là bước thứ hai. Và bước thứ ba là thu nhận thông tin phản hồi. Những thông tin mà người gửi thu thập tại bước thứ nhất nhằm xác định rõ người nhận, để xây dựng một nội dung thông điệp và kênh truyền thông thích hợp.
Phương thức này thường được sử dụng để tổ chức các chiến dịch truyền thông lớn. Theo thuật ngữ kỹ thuật, người ta gọi quá trình thứ nhất là phân tích đối tượng hay còn gọi là quá trình “nạp vào”, quá trình thứ hai là gửi thông điệp hay còn gọi là quá trình “đưa ra” và quá trình thứ ba là thu thập ý kiến hay là quá trình “phản hồi”. Nạp vào thông điệp Đưa ra Người gửi Kênh truyền Người nhận Phản hồi 6 1. Các khó khăn trong quá trình truyền thông Đối tượng tham gia truyền thông có những cách tư duy khác nhau, có vốn từ vựng khác nhau, thậm chí có những cách diễn giải khác nhau về một sự kiện, một bức tranh cổ động hoặc một cuốn phim thuộc một chủ thể để trong chương trình truyền thông.
Bản thân công tác quản lý môi trường đang phải đối mặt với các mâu thuẫn trong suy nghĩ, thái độ, hành vi về môi trường giữa các nhóm người khác nhau, giữa người này với người khác và ngay cả bản thân một con người. Hơn nữa, nếu trên mô hình truyền thông ở trên, có thể thấy có nhiều yếu tố gây nhiễu và làm giảm hiệu quả của cả quá trình. Bởi vì, những gì được người gửi nói ra hay muốn chuyển đến người nhận không phải lúc nào cũng được áp dụng để làm ngay. Các vấn đề liên quan đến quá trình nghe – nói – hiểu – thực hiện luôn gặp những trở ngại nhất định.
Dưới đây là năm trở ngại có thể thấy rõ được qua mỗi một quá trình: Hình 1. Năm khó khăn gặp phải trong quá trình truyền thông Kết luận cuối cùng rút ra là mặc dù việc thực sự thay đổi hành vi của cá nhân hay tập thể là rất cần thiết đối với mọi quá trình phát triển nhưng rất khó đạt được. Những trở ngại cần phải vượt qua trong quá trình này phải trở thành mối quan tâm thường trực của mọi nhà giáo dục, tư vấn, truyền thông hay nhà quản lý chính sách môi trường. Khái niệm truyền thông môi trường: Những người thực hiện các dự án hay chương trình môi trường thường nghĩ rằng các sự kiện khoa học và sự quan tâm đến môi trường của họ có sức thuyết phục, tuy nhiên, người dân thường nhận thức vấn đề thông qua xúc cảm và giao tiếp xã hội hơn là bằng lý lẽ và kiến thức.
Những xung đột, mâu thuẫn về lợi ích giữa những người trong cuộc không được điều đình, hoà giải với nhau. Cách tiếp cận đối đầu nhau đã dẫn đến thông tin một chiều, không quan tâm đến sự hiểu biết và hoàn toàn không dựa vào cách truyền thông hai chiều là hình thức truyền thông hướng về “cùng chia sẻ” và về các tình huống “đôi bến cùng có lợi”. Khái niệm: “Truyền thông môi trường là một quá trình tương tác hai chiều, giúp cho mọi đối tượng tham gia vào quá trình đó cũng tạo ra và chia sẻ với nhau các thông tin môi trường, với mục đích đạt được sự hiểu biết chung về các chủ đề môi trường có liên quan, và từ đó có năng lực cùng chia sẻ trách nhiệm bảo vệ môi trường cùng với nhau. Hiểu biết chung sẽ tạo ra nền móng của sự nhất trí chung, và từ đó có thể đưa ra các hành động cá nhân và tập thể để bảo vệ môi trường.
"Truyền thông môi trường là một quá trình tương tác xã hội hai chiều nhằm giúp cho những người có liên quan hiểu được các yếu tố môi trường then chốt, mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau của chúng và cách tác động vào các vấn đề có liên quan một cách thích hợp để giải quyết các vấn đề về môi trường". “Truyền thông môi trường là một công cụ quan trọng, cơ bản của quản lý môi trường, nó tác động trực tiếp hoặc gián tiếp làm thay đổi thái độ, hành vi của con người trong cộng đồng từ đó thúc đẩy họ tự nguyện tham gia vào các hoạt động bảo vệ môi trường từ đơn giản nhất đến phức tạp nhất, và không những chỉ tự mình tham gia mà còn lôi cuốn những người khác cùng tham gia tạo ra các kết quả có tình đại chúng”. Mục tiêu - Ý nghĩa: Mục tiêu Nâng cao nhận thức của công dân về bảo vệ môi trường, cơ sở pháp luật, các chủ trường của Đảng, chính sách của Nhà nước về sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường, từ đó thay đổi thái độ, hành vi về môi trường, tạo lập cách ứng xử thân thiện với môi trường, tham gia tình nguyện các hoạt động bảo vệ môi trường. 8 Thương lượng, hoà giải các xung đột, khiếu nại, tranh chấp về môi trường giữa các cơ quan trong nhân dân, tạo cơ hội cho mọi thành phần trong xã hội được nếu lên ý kiến và tham gi vào việc bảo vệ môi trường.
Khả năng thay đổi các hành vi sẽ được hữu hiệu hơn thông qua đối thoại thường xuyên trong xã hội. Xây dựng nguồn nhân lực và mạng lưới giáo dục – truyền thông môi trường, góp phần thực hiện thành công xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường Ý nghĩa Nâng cao nhận thức của đối tượng về các vấn đề môi trường được đề cập tới. Thay đổi thái độ của đối tượng về vấn đề môi trường. Xác định tiêu chí và hướng dẫn cách lựa chọn hành vi môi trường có tính bền vững và lâu dài.
Để thực hiện được nguyên lý “Bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn dân”, các hoạt động bảo vệ môi trường thực sự là hoạt động thường xuyên của cộng đồng cần phải có hệ thống các công cụ và các giải pháp. Trong đó, truyền thông môi trường là một công cụ không thể thiếu được trong công tác quản lý môi trường.