Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp ngành Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành của tác giả Nguyễn Ngọc Hạ (Trường Đại học Quản lý và Công nghệ Hải Phòng, 2020) đặt trọng tâm vào việc khai thác các giá trị lịch sử - văn hóa phục vụ giáo dục thông qua hoạt động lữ hành. Bối cảnh thực tiễn được tác giả xác định dựa trên định hướng của UNESCO về bốn trụ cột giáo dục thế kỷ 21: Học để biết (To learn), Học để làm (To do), Học để tồn tại (To be) và Học để chung sống (To live together). Tại Việt Nam, nhu cầu chuyển dịch từ phương thức truyền thụ lý thuyết thuần túy sang các hoạt động dã ngoại, trải nghiệm thực tế và rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh ngày càng gia tăng nhằm giảm tải áp lực học tập.
Hải Phòng là địa phương sở hữu nguồn tài nguyên nhân văn phong phú, nổi bật với truyền thống khoa bảng và là quê hương của ba vị Trạng nguyên thời phong kiến: Lê Ích Mộc, Trần Tất Văn và Nguyễn Bỉnh Khiêm. Mặc dù ngành du lịch thành phố có sự tăng trưởng về cơ sở lưu trú và lữ hành, loại hình du lịch kết hợp học tập và trải nghiệm di sản văn hóa vẫn chưa được quy hoạch và khai thác tương xứng với tiềm năng. Xuất phát từ thực tế đó, đề tài giải quyết các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Tìm hiểu cuộc đời, thân thế, sự nghiệp và di sản của ba vị Trạng nguyên: Lê Ích Mộc, Trần Tất Văn và Nguyễn Bỉnh Khiêm.
- Xác định các điều kiện tiền đề (nhu cầu của học sinh, thị trường khách, hạ tầng kỹ thuật, truyền thống hiếu học) để xây dựng chương trình du lịch học tập trên địa bàn Hải Phòng.
- Khảo sát và phân tích thực trạng khai thác các khu di tích đền Trạng nguyên phục vụ hoạt động du lịch.
- Đề xuất hệ thống giải pháp và kiến nghị nhằm khai thác hiệu quả các đền Trạng nguyên gắn với việc thiết kế sản phẩm du lịch học tập.
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là cuộc đời, sự nghiệp và hệ thống di tích đền thờ ba vị Trạng nguyên. Phạm vi nghiên cứu về không gian tập trung tại ba điểm di tích:
- Đền Trạng nguyên Lê Ích Mộc tại xã Quảng Thanh, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.
- Đền Trạng nguyên Trần Tất Văn tại xã Thái Sơn, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng.
- Đền Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm tại thôn Trung Am, xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.
Phạm vi thời gian của đề tài bao quát số liệu hoạt động du lịch, giáo dục thành phố Hải Phòng giai đoạn 2018–2019, cùng quá trình khảo sát thực địa được hoàn thành vào tháng 6 năm 2020.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận tiếp cận loại hình du lịch học tập (Study tourism / Education tourism) dựa trên khái niệm của Bodger (1998): du lịch giáo dục là loại hình mà khách du lịch di chuyển đến một địa điểm theo hình thức cá nhân hoặc đoàn thể với động cơ chủ yếu là thu nhận các trải nghiệm liên quan trực tiếp đến việc học tập. Loại hình này thường liên kết chặt chẽ với du lịch sinh thái, du lịch di sản, du lịch nông thôn và các chương trình trao đổi học sinh, sinh viên. Tác giả tổng hợp các nhóm nhân tố tác động đến nhu cầu du lịch học tập gồm: đặc điểm nhân khẩu học cá nhân (tuổi, giới tính, cấp học, thu nhập), mối quan tâm môi trường, mức độ nhận thức về ý nghĩa chuyến đi, động cơ nội tại và các tác động xã hội từ gia đình, nhà trường.
Về cơ sở lịch sử, tác giả hệ thống hóa quy chế khoa cử phong kiến Việt Nam kéo dài 744 năm (1075–1919) với 2.898 vị đỗ đại khoa (trong đó có 50 Trạng nguyên), dựa trên các văn bản quy phạm và thư tịch cổ như Khâm Định Đại Nam Hội điển sự lệ, Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Việt đỉnh nguyên, Lê triều thông sử, Công dư tiệp ký và Bạch Vân am thi tập. Hệ thống thi cử được khảo cứu chi tiết qua ba cấp độ thi Hương (tam trường, tứ trường), thi Hội và thi Đình, cùng các quy định trường quy nghiêm ngặt (xử lý các lỗi phạm húy, khiếm trung, cấm tì ố, bất túc, bất cập, ngoại hàm).
Tác giả kết hợp ba phương pháp nghiên cứu chính:
- Phương pháp thu thập và xử lý thông tin: tổng hợp tư liệu lịch sử, báo cáo ngành du lịch và số liệu thống kê giáo dục.
- Phương pháp điền dã: khảo sát thực tế hiện trạng kiến trúc, cảnh quan, cơ sở vật chất kỹ thuật và chụp ảnh, phỏng vấn ban quản lý các di tích.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh: đối chiếu các nguồn dữ liệu thực địa với tài liệu thứ cấp để đánh giá thực trạng và xây dựng chương trình tour.
| Hạng mục dữ liệu |
Nguồn trích xuất |
Nội dung phản ánh trong đề tài |
| Số liệu du lịch Hải Phòng |
Sở Du lịch / Báo cáo thành phố (2018–2019) |
Lượng khách, doanh thu, cơ sở lưu trú, đơn vị lữ hành, đội ngũ hướng dẫn viên |
| Số liệu giáo dục - khuyến học |
Quyết định khen thưởng của UBND TP Hải Phòng (2019) |
120 học sinh, sinh viên tiêu biểu, tổng kinh phí khen thưởng 1,2 tỷ đồng |
| Thư tịch và tư liệu lịch sử |
Đại Việt sử ký toàn thư, Công dư tiệp ký, gia phả |
Tiểu sử, công trạng thi cử, tác phẩm văn học, bi ký của ba vị Trạng nguyên |
| Dữ liệu khảo sát thực địa |
Ban quản lý di tích, Vietravel Hải Phòng, điền dã (2020) |
Hiện trạng hạ tầng giao thông, công trình phụ trợ, lượng khách theo mùa lễ hội |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Các điều kiện để xây dựng các chương trình du lịch học tập cho học sinh Hải Phòng
Chương 1 phân tích các điều kiện tổng thể về kinh tế - xã hội, hạ tầng ngành du lịch, cơ sở văn hóa và tiềm năng thị trường của thành phố Hải Phòng. Về hiện trạng ngành du lịch, năm 2019 Hải Phòng đón 9.200 lượt khách (tăng 16,3% so với 2018), trong đó lượng khách quốc tế đạt 930.000 lượt (tăng 8,25%). Thành phố có 490 cơ sở lưu trú đạt tiêu chuẩn từ 1 đến 5 sao với 11.074 phòng (bao gồm 56 tàu thủy lưu trú du lịch với 375 phòng); 66 doanh nghiệp kinh doanh lữ hành (34 quốc tế, 25 nội địa, 7 chi nhánh/đại lý); lực lượng hướng dẫn viên năm 2018 có 610 người được cấp thẻ (268 thẻ quốc tế, 342 thẻ nội địa).
Về yếu tố con người và truyền thống khoa bảng, tác giả phân tích thân thế ba vị Trạng nguyên tiêu biểu:
- Trạng nguyên Lê Ích Mộc (1458–1538): người làng Quảng Cư, huyện Thủy Đường. Ông xuất thân tu hành tại chùa Ráng, đỗ Đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ đệ nhất danh tại khoa thi Nhâm Tuất niên hiệu Cảnh Thống thứ 5 (1502) đời Lê Hiến Tông khi đã 44 tuổi. Ông làm quan đến chức Tả thị lang, sau đó về quê tu sửa chùa Diên Phúc, mở trường dạy học và cùng dân làng trồng rừng lim phòng hộ.
- Trạng nguyên Trần Tất Văn (1428–1527): người làng Nguyệt Áng, huyện An Lão. Ông đỗ đầu khoa thi Bính Tuất niên hiệu Thống Nguyên thứ 5 (1526) đời Lê Cung Hoàng. Làm quan dưới triều Mạc đến chức Thượng thư, tước Hàn Xuyên bá, ông là tác giả bài biểu "Lui vạn binh" gửi tướng Mao Bá Ôn của nhà Minh. Tại quê nhà, ông đã hưng công xây dựng chùa Vĩnh Khoái và làm cầu đá xanh 3 nhịp dài 6–7 mét.
- Trạng nguyên Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491–1585): người làng Trung Am, huyện Vĩnh Lại. Ông đỗ Trạng nguyên khoa thi Ất Mùi niên hiệu Đại Chính thứ 6 (1535) đời Mạc Thái Tông ở tuổi 45. Sau khi dâng sớ trảm 18 lộng thần không thành, ông về quê dựng am Bạch Vân, mở trường dạy học bên sông Hàn, được suy tôn là Tuyết Giang phu tử. Ông để lại di sản đồ sộ với Bạch Vân am thi tập (khoảng 1.000 bài thơ chữ Hán, hiện còn khoảng 800 bài), Bạch Vân quốc ngữ thi tập (khoảng 180 bài thơ chữ Nôm), văn bia Trung Tân quán bi ký, cùng hệ thống Sấm ký và tư tưởng sử dụng quốc hiệu "Việt Nam".
Về điều kiện phát triển sản phẩm, đối tượng học sinh - sinh viên Hải Phòng và các tỉnh lân cận (Quảng Ninh, Hải Dương) là nguồn khách tiềm năng lớn nhưng có khả năng chi trả hạn chế, phụ thuộc vào trợ cấp gia đình. Tác giả minh chứng truyền thống hiếu học địa phương qua số liệu năm 2019: thành phố trích ngân sách 1,2 tỷ đồng khen thưởng 120 học sinh, sinh viên tiêu biểu (64 giải quốc gia và quốc tế, 24 thủ khoa đại học, 32 học sinh đạt điểm xét tuyển đại học từ 27,00 trở lên).
Chương 2: Thực trạng về việc khai thác các di tích của ba Trạng nguyên ở Hải Phòng phục vụ du lịch
Chương 2 trình bày chi tiết kết quả điền dã, tập trung vào hiện trạng kiến trúc và khả năng tiếp cận tại cụm di tích Đền Trạng nguyên Lê Ích Mộc (xã Quảng Thanh, huyện Thủy Nguyên):
- Cổng tam quan: xây dựng bằng chất liệu gạch đỏ và gỗ sơn đỏ, gồm 3 khối cổng. Cổng chính thiết kế mái chồng diêm 2 tầng 8 mái lợp ngói âm dương, trên đỉnh đắp lưỡng long chầu nguyệt, trán cổng có biểu tượng thánh chỉ mạ vàng ghi danh khu tưởng niệm cùng đôi câu đối chữ Hán.
- Khuôn viên sân đền: lát đá xi măng, bố trí cây xanh do người dân hiến tặng, ao nhỏ có cầu đá bắc qua, cột cờ tam cấp lát đá hoa đen, bức phù điêu chạm khắc tích Trạng nguyên vinh quy bái tổ kèm tiêu ngữ "Tiên học lễ - Hậu học văn", lư hương đá và đôi trụ biểu đỉnh nghê chầu. Khu vực đốt vàng mã, nhà vệ sinh và hệ thống thùng rác được bố trí riêng biệt.
- Đền thờ tưởng niệm: tọa lạc trên bệ đá cao 17 bậc, hai bên lan can đắp rồng vàng giữ ngọc. Công trình gồm 3 gian mái đao cong vút theo hướng chính Nam; gian chính bài trí ngai và tượng Trạng nguyên bằng gỗ có giá trị điêu khắc từ thế kỷ XIX, hai bên phối thờ các vị khoa bảng cùng bia đá lưu danh có lồng khung kính bảo vệ.
- Lăng mộ Trạng nguyên: nằm trên sườn núi Lăng, nối bằng đường bê tông có hành lang bảo vệ và giếng ngọc. Mộ xây cấu trúc 3 tầng hình tròn giật cấp nhìn ra sông Việt, phía trước có phương đình 2 tầng 8 mái đặt bát hương đá tròn cổ truyền; phía sau có bức bình phong khắc dòng chữ "Hương Các Lưu Quốc Sử". Công trình được UBND xã Quảng Thanh làm chủ đầu tư trùng tu từ ngày 29/11/2014 đến ngày 03/04/2015.
Khảo sát tình hình khai thác cho thấy di tích chưa có bộ phận chuyên trách thống kê lượng khách. Hoạt động tham quan chủ yếu mang tính mùa vụ, tập trung vào dịp lễ hội đầu xuân sau Tết Nguyên Đán (ngày cao điểm đạt trên 1.000 khách, phần lớn là khách lẻ) và giai đoạn học sinh kết thúc năm học (tháng 5–6).
Đánh giá tổng thể điều kiện hạ tầng và dịch vụ tại ba khu di tích cho thấy: đường giao thông tiếp cận một số điểm di tích còn hẹp, chưa thuận tiện cho phương tiện chở khách du lịch cỡ lớn; hệ thống cơ sở vật chất phụ trợ (ăn uống, giải khát, nghỉ ngơi, điểm dừng chân) tại chỗ còn nghèo nàn và cách xa trung tâm; hoạt động liên kết với các công ty lữ hành tổ chức tour chuyên đề học tập định kỳ chưa được hình thành rõ nét.
Chương 3: Một số kiến nghị và giải pháp nhằm khai thác có hiệu quả các đền Trạng nguyên trên địa bàn Hải Phòng
Dựa trên thực trạng khảo sát, tác giả đề xuất 5 nhóm giải pháp tổng thể:
- Công tác bảo vệ và tôn tạo: lập quy hoạch tổng thể bảo tồn các hạng mục di tích nguyên bản, giữ gìn cảnh quan tự nhiên và các dấu tích lịch sử (rừng lim, cầu đá, bia ký).
- Huy động vốn đầu tư: đa dạng hóa các nguồn tài chính, kết hợp ngân sách nhà nước với nguồn vốn xã hội hóa từ các tổ chức, doanh nghiệp và nhân dân địa phương.
- Nâng cấp cơ sở hạ tầng và vật chất kỹ thuật: mở rộng và trải nhựa hệ thống đường giao thông kết nối liên huyện; cải tạo bãi đỗ xe đạt chuẩn; xây dựng các trung tâm tiếp đón khách tham quan và khu dịch vụ vệ sinh đồng bộ.
- Đào tạo nguồn nhân lực: chuẩn hóa đội ngũ thuyết minh viên tại điểm, trang bị kiến thức chuyên sâu về lịch sử khoa bảng địa phương và kỹ năng sư phạm tương tác với học sinh.
- Xúc tiến và quảng bá: đẩy mạnh truyền thông trên các phương tiện thông tin đại chúng, xuất bản ấn phẩm giới thiệu di tích, xây dựng trang tin điện tử và phối hợp với ngành giáo dục đưa nội dung ngoại khóa vào trường học.
Đồng thời, khóa luận xác định trách nhiệm của các bên liên quan thông qua hệ thống kiến nghị:
- Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hải Phòng: xây dựng đề án phát triển tuyến điểm du lịch chuyên đề danh nhân; tổ chức các lớp tập huấn nghiệp vụ cho ban quản lý di tích.
- Chính quyền địa phương các huyện Thủy Nguyên, An Lão, Vĩnh Bảo: tăng cường quản lý an ninh trật tự, vệ sinh môi trường, tạo quỹ đất phát triển dịch vụ hỗ trợ.
- Ban quản lý các đền Trạng: phân công nhân sự thống kê lượng khách, nâng cấp bảng biển chỉ dẫn, bố trí tài liệu hướng dẫn và tổ chức không gian dâng hương, báo công trang nghiêm.
- Các công ty lữ hành (đặc biệt là Vietravel Hải Phòng): khảo sát thực tế để thiết kế các chương trình du lịch học tập trải nghiệm phù hợp với tâm lý học sinh từng cấp học.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã tổng hợp toàn diện các cứ liệu lịch sử và dữ liệu thực tiễn về ba di tích Trạng nguyên trên địa bàn Hải Phòng phục vụ định hướng phát triển sản phẩm du lịch học tập. Các kết quả cụ thể bao gồm:
| Nội dung |
Kết quả ghi nhận trong văn bản |
| Dữ liệu du lịch địa phương |
Năm 2019: 9.200 lượt khách (tăng 16,3%), 930.000 khách quốc tế (tăng 8,25%); 490 cơ sở lưu trú (11.074 phòng); 66 đơn vị lữ hành; 610 hướng dẫn viên (2018) |
| Tiềm năng thị trường học đường |
120 học sinh, sinh viên tiêu biểu được khen thưởng năm 2019 (ngân sách 1,2 tỷ đồng); áp lực học tập đòi hỏi các tour dã ngoại trải nghiệm thực tế |
| Khảo sát thực địa di tích |
Mô tả chi tiết kiến trúc đền và lăng mộ Trạng nguyên Lê Ích Mộc (bệ đá 17 bậc, mộ 3 tầng tròn, công trình trùng tu 2014–2015); phản ánh tình trạng quá tải cục bộ mùa lễ hội (>1.000 khách/ngày) và hạn chế giao thông |
| Đề xuất ứng dụng |
5 nhóm giải pháp quản lý - hạ tầng - nhân lực; 4 nhóm kiến nghị cụ thể cho cơ quan quản lý, địa phương, ban quản lý và doanh nghiệp lữ hành |
Đóng góp của đề tài thể hiện ở việc kết nối lý luận về du lịch giáo dục (theo Bodger) với truyền thống khoa bảng địa phương, đề xuất hướng khai thác mới cho các di tích lịch sử thay vì chỉ dừng lại ở hoạt động du lịch tâm linh mùa vụ truyền thống.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt dữ liệu, công tác thu thập số liệu định lượng về lượng khách và doanh thu tại các đền Trạng nguyên chưa đạt tính liên tục do ban quản lý địa phương chưa có hệ thống ghi chép, theo dõi chuyên trách; các con số chủ yếu dựa trên ước tính vào mùa cao điểm lễ hội. Bên cạnh đó, nội dung khảo sát thực địa trong văn bản tập trung sâu vào khu di tích Đền Trạng nguyên Lê Ích Mộc, trong khi phần phân tích điều kiện hạ tầng tại di tích Đền Trạng nguyên Trần Tất Văn và Đền Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm chưa được trình bày chi tiết tương đương.
Về hướng nghiên cứu tiếp, văn bản gợi mở việc mở rộng phạm vi liên kết tuyến du lịch học tập giữa Hải Phòng với các trung tâm khoa bảng lân cận ở vùng đồng bằng sông Hồng (như Văn miếu Mao Điền - Hải Dương, các di tích triều Mạc); đồng thời nghiên cứu tích hợp sâu hơn các hoạt động giáo dục trải nghiệm, trò chơi dân gian và chương trình thực hành kỹ năng sống vào lịch trình tour học sinh.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:
- Sinh viên chuyên ngành Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành, Việt Nam học, Lịch sử học tham khảo phương pháp tiếp cận nghiên cứu phát triển sản phẩm du lịch chuyên đề từ tài nguyên di sản văn hóa phi vật thể và nhân vật lịch sử.
- Các doanh nghiệp lữ hành trên địa bàn Hải Phòng và miền Bắc tham khảo các tiêu chí khảo sát điểm đến để xây dựng tour ngoại khóa, du lịch học đường (school tour) dành cho đối tượng học sinh phổ thông.
- Ban quản lý các di tích tại Thủy Nguyên, An Lão, Vĩnh Bảo và cơ quan quản lý văn hóa - du lịch địa phương sử dụng trong công tác quy hoạch điểm dừng chân, tổ chức luồng tuyến đón tiếp và chuẩn hóa nội dung thuyết minh phục vụ đối tượng khách nghiên cứu, học tập.
Câu hỏi thường gặp
Khóa luận nghiên cứu về những di tích gắn với các vị Trạng nguyên nào tại Hải Phòng?
Đề tài tập trung vào ba di tích: Đền thờ Trạng nguyên Lê Ích Mộc (xã Quảng Thanh, huyện Thủy Nguyên), Đền thờ Trạng nguyên Trần Tất Văn (xã Thái Sơn, huyện An Lão) và Đền thờ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (thôn Trung Am, xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo).
Khái niệm "Du lịch học tập" được định nghĩa như thế nào trong đề tài?
Tác giả trích dẫn định nghĩa của Bodger (1998): du lịch giáo dục/học tập là loại hình du lịch mà khách di chuyển đến một địa điểm theo hình thức cá nhân hoặc đoàn thể với động cơ chủ yếu nhằm có được các trải nghiệm liên quan trực tiếp đến việc học tập, kết hợp giữa du lịch sinh thái, du lịch di sản, du lịch nông thôn và trao đổi học sinh.
Hạ tầng và công tác thống kê khách tại Đền Trạng nguyên Lê Ích Mộc được ghi nhận ra sao?
Đền có kiến trúc 3 gian, bệ đá cao 17 bậc, lăng mộ hình tròn 3 bậc được trùng tu hoàn thành năm 2015. Địa phương chưa có bộ phận chuyên trách theo dõi số lượng khách; khách tập trung vào đầu xuân sau Tết (có ngày trên 1.000 khách lẻ) và tháng 5–6; đường giao thông vào di tích còn hẹp, gây khó khăn cho các xe chở đoàn khách lớn.
Số liệu nào chứng minh tiềm năng phát triển du lịch học tập tại Hải Phòng được nêu trong văn bản?
Năm 2019, Hải Phòng có 490 cơ sở lưu trú (11.074 phòng), 66 đơn vị lữ hành và 610 hướng dẫn viên (năm 2018). Về nguồn khách tiềm năng, thành phố có truyền thống hiếu học rõ nét, tiêu biểu là việc trích ngân sách 1,2 tỷ đồng khen thưởng 120 học sinh, sinh viên xuất sắc năm 2019 (gồm 64 giải quốc gia/quốc tế, 24 thủ khoa đại học và 32 học sinh đạt điểm thi THPT quốc gia từ 27 trở lên).
Các giải pháp chính được tác giả đề xuất để khai thác hiệu quả các đền Trạng nguyên là gì?
Khóa luận đề xuất 5 nhóm giải pháp: tôn tạo và bảo vệ di tích; thu hút vốn đầu tư; nâng cấp cơ sở hạ tầng giao thông và dịch vụ phụ trợ; đào tạo nguồn nhân lực thuyết minh tại điểm; tăng cường xúc tiến, quảng bá và liên kết chặt chẽ giữa nhà trường, cơ quan quản lý và các công ty lữ hành.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Nguyễn Ngọc Hạ đã hệ thống hóa các giá trị lịch sử khoa bảng của ba vị Trạng nguyên Lê Ích Mộc, Trần Tất Văn và Nguyễn Bỉnh Khiêm nhằm phục vụ mục tiêu phát triển sản phẩm du lịch học tập tại Hải Phòng. Tác giả đã khảo sát thực trạng cơ sở vật chất, khả năng tiếp cận và lượng khách tại các điểm di tích, qua đó chỉ rõ các rào cản về giao thông và dịch vụ phụ trợ. Trên cơ sở đó, công trình đề xuất hệ thống giải pháp và kiến nghị khả thi nhằm kết nối di sản văn hóa với chương trình trải nghiệm học đường, góp phần đa dạng hóa sản phẩm du lịch của thành phố.