Chương 1, tác giả sử dụng chủ yếu phương pháp lich sử, phương pháp phân tích và tong hợp, phương pháp tiếp cận hệ thông đa ngành, liên ngành (lich sử, luật học, chính trị học, xã hội học.); phương pháp luật học so sánh đưa ra những van đề lí luận cơ bản về CNCT. - Chương 2, tác giả sử dụng chủ yếu phương pháp luật học so sánh, phân tích tong hợp, phương pháp lịch sử dé làm rõ các quy định của pháp luật hiện hành về CNCT trong pháp luật TTHS thực định của Duc và Việt Nam. - Chương 3, tác giả sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp hệ thống, phương pháp đối chiếu đưa ra quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả CNCT ở Việt Nam, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp trong giai đoạn hiện nay. Y nghĩa khoa học, ý nghĩa thực tiễn của Luận án Luận án là công trình nghiên cứu so sánh đâu tiên, toàn diện vê CNCT trong TTHS giữa Việt Nam và Đức - quôc gia có mô hình TTHS thiên vê thâm vân với nhiêu điêm tương đông và được đánh giá cao về sự dân chủ và bảo vệ quyên con người.
Kêt quả nghiên cứu của Luận án góp phân bô sung, hoàn thiện lí luận vê CNCT với vai trò là chức năng của một thiệt chê được nhà nước ủy quyên va dưới góc độ chức năng luận. Trên phương diện pháp luật, kết quả nghiên cứu, so sánh giữa pháp luật thực định của hai quốc gia và sự đánh giá, luận giải về tương đồng và khác biệt về CNCT giữa Việt Nam và Đức có ý nghĩa lí luận, nghiên cứu và thực tiễn cao. Các giải pháp, kinh nghiệm đối với Việt Nam về hoàn thiện pháp luật về CNCT và một số quy định có liên quan, về mô hình CQCT ở nước ta có giá trị thực tiễn sâu sắc, góp phần nâng cao hiệu quả công tố trong TTHS ở nước ta, đồng thời đáp ứng yêu câu của công cuộc cải cách tư pháp trong bôi cảnh hội nhập quôc tê sâu, rộng hiện nay. Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo trước hết cho công tác nghiên cứu, giảng dạy, tài liệu tham khảo quan trọng trong công tác xây dựng, hoàn thiện pháp luật về CNCT nói riêng, hoàn thiện pháp luật về TTHS nói chung.
10 PHAN TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tinh hình nghiên cứu ở Việt Nam Công tô không phải là khái niệm mới đối với pháp luật Việt Nam bởi, do nguyên nhân lịch sử, Việt Nam thuộc mô hình tố tụng thẩm van nên CNCT và cơ quan thực hiện chức năng này xuất hiện từ sớm. Qua thời gian tìm hiểu, tác giả nhận thấy, ở trong nước, vấn đề CNCT đã được đề cập trong một số công trình nghiên cứu với các cấp độ khác nhau. Tựu chung có thể chia làm hai nhóm: (i) các công trình nghiên cứu trực tiếp về công tổ và (ii) các công trình nghiên cứu có liên quan.
Các công trình nghiên cứu trực tiếp về công tố Các công trình nghiên cứu trực tiếp về công tố đã được công bố với số lượng nhiều và phong phú về nội dung, cấp độ. Trước tiên phải ké đến Luận án tiễn sĩ “Quyền công tố ở Việt Nam” của tác giả Lê Thị Tuyết Hoa. Trong nghiên cứu của mình, tác giả đã chỉ ra được bản chất của quyền công tô trong hoạt động TTHS là “quyển của Nhà nước giao cho Viện kiểm sát thực hiện theo quy định của Hiến pháp và pháp luật để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, thực hiện sự buộc tội đối với người đó trước Tòa án.” Tác giả cho rằng nội dung của quyền công tố chính là sự buộc tội đối với người đã thực hiện tội phạm và thực hành quyền công tố là chức năng của Viện kiểm sát trong các giai đoạn tố tụng”. Luận án được tác giả tiếp cận nghiên cứu theo hướng phân tích nội dung và thực trạng thực hành quyên công tố trong hai giai đoạn: giai đoạn điều tra vụ án hình sự và giai đoạn xét xử (bao gồm cả xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm, giám đốc thấm và tái thâm).
Tác giả phân tích số liệu thực tế của một số hoạt động tố tụng, qua đó cho thấy thành tựu đạt được cũng như những bất cập của việc thực hành quyên công tô của Viện kiêm sát. Š Lê Thị Tuyết Hoa, (2002), “Quyền công tô ở Việt Nam”, Luận án tiến sĩ, Viện nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật, Hà Nội, tr.36; 11 Có thé thay, tác giả đã góp phần không nhỏ trong việc làm rõ khái niệm quyên công tố và thực hành quyền công tố - van đề được bàn luận sôi nổi trong thời gian vừa qua. Tuy nhiên, Luận án, xuất phát từ phạm vi của đề tài và hướng tiếp cận, đã không đi sâu nghiên cứu một số nội dung của CNCT: Mot la, CNCT trong giai đoạn truy tổ chưa được phân tích. Hai la, CNCT không được nghiên cứu trong sự so sánh với pháp luật TTHS nước ngoài, đặc biệt đối với quốc gia có nhiều điểm tương đồng về nguồn gốc và đặc điểm của mô hình TTHS.
Do đó, đây sẽ là mục đích và hướng nghiên cứu của nghiên cứu sinh. Một điểm đáng lưu ý là Luận án được bảo vệ năm 2002. Những nghiên cứu và kiến nghị của tác giả Lê Thị Tuyết Hoa dành cho BLTTHS năm 1988. Hiện nay, BLTTHS đã được sửa đổi 02 lần (2003 và 2015).
BLTTHS năm 2015 có hiệu lực thi hành từ 01/01/2018. Do vậy, nghiên cứu của Luận án đã phần nào suy giảm tính ứng dụng đối với thực tiễn TTHS và yêu cầu Cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay. Đề án “Nghiên cứu việc chuyển Viện kiểm sát thành Viện cong to” dé cap lịch sử ngành kiểm sát của nước ta qua các thời ki gắn liền với su ra đời của 4 bản Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980 và 1992, sửa đổi 2001. Dé án đã chỉ ra những bất cập trong tô chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân như: một thời kì khá dai CNCT và thực hành quyền công tố chưa được nhận thức đúng dan; Nghị quyết của Đảng về Cải cách tư pháp và BLTTHS năm 2003 quy định Viện kiểm sát được trao trách nhiệm rất lớn nhưng cơ chế và nhiều quy định pháp luật cụ thể lại chưa đảm bảo để Viện kiểm sát thực hiện được đầy đủ trách nhiệm này; cuối cùng, đội ngũ cán bộ kiểm sát mặc dù đã có sự trưởng thành, từng bước đáp ứng yêu cầu thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao, song so với yêu cầu Cải cách tư pháp, nhất là chủ trương xây dựng nền công tố mạnh đòi hỏi phải mạnh hơn nữa, có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất trong sáng”.
? Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2010), Đề án “Nghiên cứu chuyển Viện kiểm sát thành Viện công 16”, tri12; Hiện nay, định hướng chuyên đôi Viện kiêm sát thành Viện Công tô đã ngừng, xem thêm Kết luận sô 79-KL/TW 12 Công trình nghiên cứu “Mộ số vấn dé v tăng cường trách nhiệm công to trong hoạt động diéu tra, gắn công tô với hoạt động điều tra theo yêu cấu cải cách tr pháp” của nhóm tác giả Nguyễn Hải Phong, Lê Thị Tuyết Hoa, Nguyễn Tiến Sơn và Trần Hưng Bình. Đây là sách tham khảo được nhóm tác giả thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao biên soạn. Ngay trong lời nói đầu, các tác giả đã khang định “bát cứ nước nào trên thé giới cũng phải sử dụng quyền công tô để chống lại những hành vi gây nguy hại đến sự thong trị và những lợi ích cơ bản của giai cấp câm quyên và cũng là để duy trì trật tự pháp luật, trật tự xã hội, bảo vệ quyên và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Đây là công trình nghiên cứu chuyên sâu về quyền công tố trong hoạt động điều tra.
Do đó, ngoài việc cung cấp lý luận chung về hoạt động công tố, hoạt động điều tra, mỗi quan hệ giữa thực hành quyền công tô và kiểm sát điều tra, các tác giả phân tích chuyên sâu về mục tiêu tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gan công tô với hoạt động điều tra. Theo các tác giả, ban chất mối quan hệ giữa CODT và Viện kiểm sát là mỗi quan hệ “phối hợp, phân công và chế ước”. Các đặc điểm về đối tượng, nội dung, phạm vi của công tố được phân tích u'!. Trên cơ sở đó, các tác giả đưa ra một số giải pháp nhằm tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gan công tố với hoạt động điều tra theo yêu câu cải cách tư pháp.
Trong cuốn sách Thực hành quyên công tô và kiểm sát các hoạt động tw pháp trong giai đoạn diéu tra của Lê Hữu Thé, Đỗ Văn Đương va Nông Xuân Trường, các tác giả cho răng, khái niệm quyền công tô phải được nghiên cứu xuất phát từ lịch sử nhà nước và pháp luật. Quyền công tố gắn liền với sự hình thành ngày 28/7/2010 của Bộ Chính trị về Đề án đồi mới tổ chức hoạt động của Toà án, Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra; '° Nguyễn Hai Phong, Lê Thị Tuyết Hoa, Nguyễn Tiến Sơn và Trần Hưng Bình, (2014), “Một số van đề về tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tô với hoạt động điều tra theo yêu cầu cải cách tư pháp”, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, tr.7; ` Nguyễn Hải Phong (chủ biên), “Một số van dé về tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra theo yêu cau cải cách tư pháp”, tlđd, tr. 17-64; 13 Nhà nước và cơ sở quyên công tô găn liên với sự nhân danh nhà nước (nhân danh công quyên) chống lại hình thức vi phạm pháp luật nghiêm trọng (tội phạm). Về cơ bản, các tác giả đã chỉ ra được bản chất của công tố là quyền lực công nhân danh nha nước.
Cơ sở của công tô là tội phạm và mục đích của công tố là nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Nói cách khác, đối tượng của quyền công tố là tội phạm và người phạm tội '. Theo các tác giả, nội dung của quyền công tổ là sự buộc tội. Quyền công tổ chi phát sinh trong TTHS và phát sinh ngay khi tội phạm xảy ra, kết thúc khi bản án có hiệu lực, không bị kháng nghị ”.
Một công trình nghiên cứu chuyên sâu khác về CNCT là Luận án Phó tiến sỹ luật học của Khuất Văn Nga, bảo vệ năm 1993, “Vi tri, vai trò của Viện kiểm sat nhân dan trong bộ máy Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.