Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Chức năng công tố trong tố tụng hình sự Việt Nam và Đức" do nghiên cứu sinh Đàm Quang Ngọc thực hiện tại Trường Đại học Luật Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Trần Văn Độ. Luận án thuộc chuyên ngành Luật Hình sự và Tố tụng hình sự, mã số 9.04, được bảo vệ vào năm 2021.

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng theo Điều 107 Hiến pháp năm 2013 và Điều 20 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015, chức năng công tố (CNCT) được giao cho Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) thực hiện với tư cách là cơ quan duy nhất nắm giữ chức năng này. Tuy nhiên, thực tiễn thi hành BLTTHS bộc lộ hai nhóm bất cập lớn:

  1. Quy định về chức năng, nhiệm vụ, cơ chế làm việc của các cơ quan tiến hành tố tụng còn bất hợp lý; chưa xác định rõ phạm vi, nội dung quyền công tố; chưa có sự phân định chính xác giữa các chức năng cơ bản của tố tụng hình sự (TTHS). Có những quyền thuộc chức năng buộc tội lại không được giao cho Viện kiểm sát mà lại giao cho Tòa án trong quá trình xét xử; mối quan hệ giữa các chủ thể tố tụng (chỉ đạo, phối hợp, chế ước), đặc biệt giữa các chủ thể thực hiện chức năng buộc tội, chưa được xác định rõ ràng.
  2. Chưa có sự phân biệt rõ ràng giữa chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp.

Bên cạnh đó, Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020 đặt ra yêu cầu: "Xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và hoàn thiện tổ chức, bộ máy các cơ quan tư pháp", đồng thời nhấn mạnh việc tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, thực hiện cơ chế công tố gắn với hoạt động điều tra (được Kết luận năm 2020 của Bộ Chính trị tiếp tục khẳng định). Mặc dù BLTTHS năm 2015 đã có hiệu lực từ ngày 01/01/2018, các công trình khoa học trong nước trước đây chủ yếu dừng lại ở việc đánh giá quy định của BLTTHS năm 1988 hoặc năm 2003, chưa có công trình nào nghiên cứu so sánh chuyên sâu và toàn diện về CNCT giữa Việt Nam và Cộng hòa Liên bang Đức — quốc gia theo mô hình thẩm vấn đã tiếp thu thành công nhiều yếu tố tranh tụng và được đánh giá cao về tính khách quan, công tâm của cơ quan công tố (CQCT).

Mục đích nghiên cứu của luận án là so sánh pháp luật về CNCT trong TTHS Việt Nam và Đức, đánh giá tổng quan sự tương đồng và khác biệt, từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả CNCT trong mô hình TTHS Việt Nam. Luận án xác định ba nhiệm vụ cụ thể:

  1. Nghiên cứu lý luận chung về CNCT: khái niệm, đối tượng, chủ thể, nội dung, phạm vi; mối quan hệ giữa CNCT với chức năng xét xử, chức năng bào chữa, chức năng điều tra và chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp.
  2. Nghiên cứu CNCT trong pháp luật TTHS Đức và Việt Nam, so sánh pháp luật thực định giữa hai quốc gia, đánh giá tổng quan sự tương đồng, khác biệt và rút ra bài học kinh nghiệm.
  3. Kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về CNCT và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chức năng này trong TTHS Việt Nam.

Năm câu hỏi nghiên cứu được văn bản đặt ra gồm:

  1. CNCT nhìn từ góc độ lịch sử hình thành và thuyết chức năng luận là gì? Mối quan hệ giữa CNCT và chức năng khác trong TTHS nói chung, mối quan hệ giữa CNCT với chức năng kiểm soát hoạt động tư pháp, chức năng điều tra như thế nào?
  2. Với khái niệm CNCT theo thuyết chức năng luận đã được xây dựng thì: Nội dung của CNCT? Chủ thể tố tụng nắm giữ CNCT? Bản chất của mối quan hệ giữa chủ thể giữ CNCT và chủ thể giữ chức năng điều tra, chức năng buộc tội trong TTHS?
  3. Sự tương đồng trong tư duy lập pháp và pháp luật TTHS Việt Nam và pháp luật TTHS Đức?
  4. Sự khác biệt trong tư duy lập pháp và pháp luật TTHS Việt Nam và pháp luật TTHS Đức?
  5. Những yêu cầu và giải pháp để nâng cao hiệu quả của CNCT trong TTHS Việt Nam hiện nay từ kinh nghiệm của Đức?

Giả thiết nghiên cứu của tác giả là: Viện kiểm sát — cơ quan duy nhất giữ CNCT — đang được trao trách nhiệm rất lớn trong TTHS, tuy nhiên, những quy định cụ thể của pháp luật TTHS hiện hành chưa bảo đảm cơ chế thực chất để cơ quan này thực hiện hiệu quả chức năng của mình. Do đó, việc nghiên cứu củng cố lý luận về CNCT và học tập kinh nghiệm của Đức là cần thiết, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.

Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng: Những vấn đề lý luận về CNCT; pháp luật TTHS của Việt Nam và Đức về CNCT.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào khái niệm, đối tượng, chủ thể, nội dung, phạm vi của CNCT dưới giác độ là chức năng gắn liền với chủ thể độc lập; tập trung nghiên cứu giải pháp hoàn thiện pháp luật TTHS và giải pháp nghiên cứu thành lập Viện Công tố.
  • Phạm vi văn bản: Đối với Việt Nam, tập trung vào Hiến pháp năm 2013, BLTTHS năm 2015 và Luật Tổ chức VKSND năm 2014; đối với Đức, tập trung vào Luật Cơ bản (Hiến pháp) năm 1949, BLTTHS năm 1987 (sửa đổi, bổ sung năm 2014), Luật Tổ chức Tòa án năm 1975 (sửa đổi, bổ sung năm 2019 - Gerichtsverfassungsgesetz - GVG).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án phân chia các công trình nghiên cứu trước đây thành ba nhóm chính:

Nhóm các công trình trong nước nghiên cứu trực tiếp về công tố:

  • Luận án tiến sĩ "Quyền công tố ở Việt Nam" của Lê Thị Tuyết Hoa (2002) phân tích bản chất quyền công tố là quyền của Nhà nước giao cho Viện kiểm sát để truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội trước Tòa án; tuy nhiên công trình này gắn với BLTTHS năm 1988, chưa phân tích CNCT trong giai đoạn truy tố và thiếu sự so sánh quốc tế.
  • Đề án "Nghiên cứu việc chuyển Viện kiểm sát thành Viện công tố" của VKSND tối cao (2010) tổng kết lịch sử ngành kiểm sát qua các bản Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992 (sửa đổi năm 2001) và chỉ ra hạn chế trong nhận thức về quyền công tố.
  • Sách chuyên khảo "Một số vấn đề về tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra theo yêu cầu cải cách tư pháp" của nhóm tác giả Nguyễn Hải Phong, Lê Thị Tuyết Hoa, Nguyễn Tiến Sơn, Trần Hưng Bình (2014) làm rõ mối quan hệ phối hợp, phân công và chế ước giữa Cơ quan điều tra (CQĐT) và Viện kiểm sát.
  • Sách "Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra" của Lê Hữu Thể, Đỗ Văn Đương, Nông Xuân Trường (2008) xác định nội dung quyền công tố là sự buộc tội, phát sinh khi có tội phạm và kết thúc khi bản án có hiệu lực.
  • Luận án phó tiến sĩ của Khuất Văn Nga (1993) về vị trí, vai trò của VKSND trong bộ máy nhà nước.
  • Kỷ yếu tổng kết 50 năm công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự của VKSND tối cao (1960-2010).
  • Các bài viết học thuật của Trần Văn Độ (2001, 2015), Nguyễn Thái Phúc (2007), Lê Cảm (2007) về mô hình tổ chức Viện công tố.

Nhóm các công trình trong nước nghiên cứu gián tiếp và liên quan:

  • Luận án tiến sĩ của Nguyễn Mạnh Hùng (2012) về ba chức năng cơ bản trong TTHS (buộc tội, bào chữa, xét xử) theo Điều 10 BLTTHS năm 2003.
  • Luận án tiến sĩ của Lê Tiến Châu (2008) về chức năng xét xử trong TTHS.
  • Công trình của Lê Hữu Thể, Đỗ Văn Đương, Nguyễn Thị Thủy (2014) về đổi mới thủ tục TTHS, đề xuất duy trì quyền hạn của Viện kiểm sát và áp dụng nguyên tắc truy tố tùy nghi (miễn tố).
  • Công trình của Nguyễn Hòa Bình (chủ biên, 2015) phân tích điểm mới của BLTTHS năm 2015, trong đó Hoàng Nghĩa Mai làm rõ Điều 236 và Điều 237 quy định quyền hạn của Viện kiểm sát trong giai đoạn truy tố.
  • Các nghiên cứu về kiểm soát quyền lực tư pháp: Nguyễn Đăng Dung (2012, 2017) khẳng định CQĐT cần trực thuộc CQCT; Nguyễn Quốc Hùng (2016) đề xuất mô hình đáp ứng trong kiểm soát quyền lực tư pháp; nghiên cứu của Viện Chính sách công và pháp luật (2014), Phạm Hồng Thái (2012), Đào Trí Úc (2010).

Nhóm các công trình nghiên cứu ngoài nước:

  • Tại Đức: Elsner Beatrix và Julia Peters (2006) nghiên cứu chức năng của CQCT Đức đối phó với sự quá tải án; Hans-Jörg Albrecht (2000) phân tích thẩm quyền quyết định truy tố trong quan hệ với CQĐT và Tòa án; John H. Langbein (1974) và Joachim Herrmann (1974) nghiên cứu về nguyên tắc truy tố bắt buộc và quyền tùy nghi truy tố tại Đức; Shawn Marie Boyne (2011, 2014) làm rõ tính tư pháp của CQCT Đức.
  • Tại Châu Âu và Hoa Kỳ: Báo cáo so sánh của Open Society Institute Sofia (2008) khảo sát 9 quốc gia; Joerg Martin Jehle và Mariane Wade (2006) khảo sát quyền năng truy tố tại 6 nước châu Âu; Despina Kyprianou (2008) phân tích hệ thống công tố Đảo Síp so sánh với Anh, Pháp, Đức; Jacqueline Hodgson (2005) nghiên cứu tố tụng hình sự Pháp; Tony Paul Marguery (1970) khảo sát lịch sử CQCT ở Pháp, Séc, Hà Lan, Ba Lan; Andrew Sanders (1996) nghiên cứu công tố trong hệ thống thông luật; Elaine Nugent-Borakove (2008) và Hội đồng Nghiên cứu Quốc gia Hoa Kỳ (2001) phân tích vai trò của Công tố viên Hoa Kỳ dưới góc độ kiểm soát xã hội; Timothy Waters (2014), Jörg-Martin Jehle (2000), Chrisje Brants và Allard Ringnalda (2011), Yue Ma (2002, 2008) nghiên cứu về sự đan xen và hội tụ giữa hai mô hình tố tụng tranh tụng và thẩm vấn.

Khoảng trống mà luận án lựa chọn giải quyết: Các công trình nước ngoài thường đồng nhất thuật ngữ "chức năng công tố" với "chức năng của cơ quan công tố"; các công trình trong nước chưa áp dụng thuyết chức năng luận để giải quyết triệt để mối quan hệ giữa CNCT với chức năng buộc tội, chức năng điều tra và chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp. Đồng thời, chưa có công trình nào thực hiện so sánh đối chiếu toàn diện về CNCT giữa pháp luật thực định Việt Nam và Đức nhằm phục vụ mục tiêu cải cách tư pháp hiện nay.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên bốn trụ cột lý thuyết chính:

  1. Quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và chiến lược cải cách tư pháp.
  2. Lý thuyết về chức năng tố tụng và mô hình TTHS (mô hình thẩm vấn và mô hình tranh tụng, sự vận hành của các chức năng tố tụng trong từng mô hình).
  3. Thuyết chức năng luận (Functionalism), trong đó tiếp thu quan điểm của M.H. Lessnoff (1969) xác định chức năng là sự đóng góp của một hoạt động bộ phận vào sự tồn tại và vận hành của hệ thống tổng thể; chức năng luôn gắn liền với một thiết chế xã hội nhất định.
  4. Lý thuyết về luật học so sánh.

Về phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu:

  • Phương pháp luận chỉ đạo: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và Pháp luật; quán triệt quan điểm của V.I. Lênin về việc xem xét hiện tượng pháp lý trong quá trình vận động lịch sử.
  • Luận án sử dụng cách tiếp cận đa ngành và liên ngành: luật học, lịch sử, chính trị học và xã hội học.
  • Các phương pháp nghiên cứu cụ thể:
    • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Sử dụng xuyên suốt các chương để xử lý dữ liệu lập pháp và quan điểm học thuật.
    • Phương pháp lịch sử: Chủ yếu sử dụng ở Phần Tổng quan và Chương 1 để truy nguyên nguồn gốc ra đời của công tố qua các thời kỳ (La Mã, trung cổ, thế kỷ 12-16 tại Anh, Pháp, Đức và lịch sử lập hiến Việt Nam).
    • Phương pháp luật học so sánh: Áp dụng ở Chương 1 và trọng tâm ở Chương 2 nhằm đối chiếu các quy định pháp luật thực định giữa Việt Nam và Đức.
    • Phương pháp hệ thống và đối chiếu lý luận với thực tiễn: Sử dụng ở Chương 3 để xây dựng các yêu cầu và giải pháp cải cách.

Nguồn tư liệu nghiên cứu gồm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam (Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992, 2013; BLTTHS năm 1988, 2003, 2015; Luật Tổ chức VKSND năm 2014); văn bản quy phạm pháp luật của Đức (Hiến pháp năm 1949, BLTTHS năm 1987 sửa đổi 2014, Luật Tổ chức Tòa án GVG năm 1975 sửa đổi 2019); các nghị quyết, đề án cải cách tư pháp của Đảng và VKSND tối cao; cùng sách chuyên khảo, bài báo khoa học trong nước và quốc tế.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Lịch sử hình thành và lí luận về chức năng công tố trong tố tụng hình sự

Tác giả phân tích tiến trình lịch sử: Thời kỳ La Mã và đầu trung cổ áp dụng cơ chế tự giải quyết và trả đũa cá nhân (tư tố). Đến thế kỷ 12 và 13, chế độ bộ lạc chuyển thành các quốc gia lãnh thổ, nhận thức về tội phạm thay đổi từ hành vi xâm phạm cá nhân sang hành vi xâm phạm trật tự công và lợi ích nhà nước.

  • Tại Anh: Duy trì chế định tư tố đến tận cuối thế kỷ 19; cảnh sát nắm quyền truy tố thực tế trước Tòa án quận; Văn phòng Giám đốc CQCT (DPP) thành lập năm 1879; Đạo luật Tư pháp hình sự năm 2003 mới chính thức chuyển thẩm quyền buộc tội từ cảnh sát sang CQCT độc lập.
  • Tại Pháp: Xuất phát từ chức danh Công tố viên của Nhà vua (Procureur du Roi) bảo vệ lợi ích hoàng gia, đến thế kỷ 16 phát triển thành Ministère Public độc quyền khởi tố nhân danh nhà nước.
  • Tại Đức: Tư tố dần tàn lụi từ thế kỷ 12 đến thế kỷ 16 do quy định người khởi kiện cá nhân phải đặt tiền bảo đảm hoặc bị tạm giam cùng bị cáo nếu không có tiền bảo đảm, nhường chỗ cho công tố chính thức.

Từ góc độ thuyết chức năng luận, tác giả khẳng định quyền công tố là quyền lực của Nhà nước xuất hiện cùng với sự ra đời của Nhà nước, nhưng CNCT chỉ thực sự hình thành khi Nhà nước trao quyền đó cho một thiết chế độc lập (CQCT) thay mặt nhà nước thực hiện việc buộc tội vì lợi ích công cộng. Đối tượng của CNCT là tội phạm và người phạm tội; phạm vi chỉ phát sinh trong TTHS. Về mối quan hệ giữa các chức năng, luận án phân tích CNCT là hạt nhân của chức năng buộc tội, có sự độc lập tương đối và chế ước với chức năng điều tra, chức năng xét xử và chức năng bào chữa; đồng thời chỉ ra tính chất đặc thù của việc kết hợp CNCT với chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp ở Việt Nam.

Chương 2. Chức năng công tố trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam và Đức

Chương này so sánh hệ thống pháp luật thực định giữa hai quốc gia thuộc truyền thống tố tụng thẩm vấn. Tác giả khái quát các điểm tương đồng và khác biệt cốt lõi qua bảng tổng hợp sau:

Tiêu chí so sánh Pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam Pháp luật Tố tụng hình sự Đức
Vị trí thể chế của cơ quan công tố Viện kiểm sát là cơ quan nhà nước độc lập trong bộ máy, do Quốc hội lập ra, báo cáo công tác trước Quốc hội. CQCT (Staatsanwaltschaft) đặt bên cạnh Tòa án nhưng độc lập với Tòa án về nghiệp vụ, thuộc hệ thống hành pháp tư pháp do Bộ Tư pháp quản lý.
Phạm vi chức năng được giao Thực hiện hai chức năng song song: Thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp. Chỉ thực hiện duy nhất chức năng công tố (điều tra, truy tố và duy trì buộc tội trước Tòa án).
Mối quan hệ với Cơ quan điều tra CQĐT độc lập thuộc ngành công an, quân đội. Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra; quan hệ là phối hợp, phân công và chế ước. CQCT trực tiếp chỉ đạo điều tra; cảnh sát điều tra hoạt động với tư cách là cơ quan hỗ trợ, thừa hành mệnh lệnh tố tụng của Công tố viên.
Nguyên tắc truy tố Áp dụng nguyên tắc truy tố bắt buộc (khoản 1 Điều 20 BLTTHS 2015); quy định đình chỉ vụ án rất chặt chẽ, chưa áp dụng cơ chế thỏa thuận nhận tội. Áp dụng nguyên tắc truy tố bắt buộc (Legalitätsprinzip) kết hợp mở rộng nguyên tắc tùy nghi truy tố (Opportunitätsprinzip) để giảm tải tư pháp.
Vai trò của Tòa án trong việc buộc tội Tòa án có quyền khởi tố vụ án hình sự tại phiên tòa (Điều 153 BLTTHS 2015); có quyền trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung chứng cứ buộc tội. Tòa án tuyệt đối không thực hiện hành vi buộc tội, tuân thủ nguyên tắc không có khởi tố thì không có xét xử (nemo judex sine actore).

Tác giả đánh giá rằng, mặc dù cả hai nước đều nhấn mạnh mục tiêu tìm kiếm sự thật khách quan và bảo vệ quyền con người, nhưng CHLB Đức đã giải quyết triệt để việc phân công quyền lực: CQCT nắm trọn vẹn quyền điều tra và buộc tội, trả Tòa án về đúng vị trí trung tâm xét xử độc lập, đồng thời giảm tải tư pháp hiệu quả thông qua nguyên tắc tùy nghi truy tố.

Chương 3. Yêu cầu và giải pháp nâng cao hiệu quả chức năng công tố trong tố tụng hình sự Việt Nam từ kinh nghiệm của Đức

Dựa trên kinh nghiệm của Đức, tác giả xác định ba yêu cầu đối với việc đổi mới CNCT ở Việt Nam: (1) Phù hợp với chủ trương cải cách tư pháp của Đảng và quy định của Hiến pháp năm 2013; (2) Bảo đảm quyền con người, quyền công dân phù hợp với chuẩn mực quốc tế; (3) Phân định rạch ròi ba chức năng cơ bản của TTHS (buộc tội, bào chữa, xét xử) và gắn công tố chặt chẽ với hoạt động điều tra.

Hệ thống giải pháp cụ thể được luận án đề xuất gồm:

  • Hoàn thiện quy định của BLTTHS năm 2015:
    • Tăng cường quyền năng của Kiểm sát viên trong hoạt động điều tra, chuyển từ cơ chế kiểm sát thuần túy sang cơ chế Viện kiểm sát trực tiếp chỉ đạo định hướng chứng cứ, chịu trách nhiệm chính về chất lượng chứng cứ buộc tội trước Tòa án.
    • Bãi bỏ quyền khởi tố vụ án hình sự của Tòa án tại phiên tòa (sửa đổi Điều 153 BLTTHS năm 2015) nhằm loại bỏ sự đan xen chức năng buộc tội vào chức năng xét xử, bảo đảm tính vô tư khách quan của thẩm phán.
    • Hạn chế việc Tòa án trả hồ sơ để yêu cầu điều tra bổ sung những vấn đề phục vụ việc buộc tội nếu Viện kiểm sát không chứng minh được.
  • Tiếp thu có chọn lọc nguyên tắc tùy nghi truy tố từ pháp luật Đức:
    • Nghiên cứu bổ sung chế định miễn truy tố có điều kiện đối với các tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm do người chưa thành niên thực hiện, hoặc khi người phạm tội đã khắc phục hoàn toàn hậu quả và bồi thường thiệt hại, có sự đồng thuận của nạn nhân.
  • Hoàn thiện tổ chức bộ máy cơ quan công tố:
    • Phân định cụ thể, rạch ròi về mặt lập pháp và quy trình nghiệp vụ giữa hoạt động "thực hành quyền công tố" và "kiểm sát hoạt động tư pháp" trong nội bộ Viện kiểm sát.
    • Tiếp tục nghiên cứu mô hình tổ chức Viện Công tố phù hợp với lộ trình cải cách thể chế tư pháp, tăng cường tính độc lập nghề nghiệp và trách nhiệm cá nhân của Kiểm sát viên khi thực hành quyền công tố và tranh tụng.

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận, luận án đóng góp các điểm mới:

  • Phân định rõ ràng giữa quyền công tố (thuộc tính quyền lực nhà nước) và CNCT (phương diện hoạt động của thiết chế độc lập được nhà nước giao quyền buộc tội vì lợi ích công cộng).
  • Sử dụng thuyết chức năng luận để chứng minh tính độc lập và vị trí trung tâm của CNCT đối với chức năng buộc tội, xác định lại bản chất của mối quan hệ giữa công tố và điều tra là quan hệ chỉ huy - hỗ trợ về mặt nghiệp vụ chứng minh tội phạm.

Về mặt thực tiễn và giải pháp:

  • Cung cấp bức tranh so sánh đối chiếu hệ thống giữa pháp luật thực định Việt Nam và CHLB Đức về vị trí thể chế, thẩm quyền điều tra, nguyên tắc truy tố và mối quan hệ với Tòa án.
  • Đề xuất sửa đổi các điều luật cụ thể trong BLTTHS năm 2015 nhằm tách bạch hoàn toàn chức năng buộc tội khỏi Tòa án (bãi bỏ Điều 153 về quyền khởi tố tại phiên tòa của Tòa án).
  • Kiến nghị thể chế hóa nguyên tắc truy tố tùy nghi có kiểm soát nhằm giảm tải áp lực cho hệ thống tư pháp hình sự Việt Nam.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Văn bản luận án nêu rõ một số giới hạn nghiên cứu:

  • Do điều kiện và thời gian nghiên cứu có hạn, luận án tập trung chủ yếu vào pháp luật thực định Việt Nam (BLTTHS năm 2015, Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức VKSND năm 2014) và pháp luật Đức (Hiến pháp năm 1949, BLTTHS năm 1987 sửa đổi 2014, Luật Tổ chức Tòa án năm 1975 sửa đổi 2019).
  • Vấn đề giao thoa và ưu nhược điểm chi tiết của mô hình tố tụng ở các quốc gia khác ngoài Đức và Việt Nam nằm ngoài phạm vi nghiên cứu sâu của đề tài.
  • Về giải pháp tổ chức, luận án chỉ tập trung vào giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật TTHS và định hướng nghiên cứu mô hình Viện Công tố.

Hướng nghiên cứu tiếp theo được gợi mở:

  • Đánh giá thực tiễn thi hành BLTTHS năm 2015 qua dữ liệu thực nghiệm nhiều năm hơn sau khi luật có hiệu lực.
  • Nghiên cứu cơ chế kiểm soát tư pháp của Tòa án đối với quyền tùy nghi truy tố của Viện kiểm sát nếu chế định này được đưa vào pháp luật Việt Nam.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn cho các nhóm đối tượng:

  • Cơ quan lập pháp và các cơ quan tư pháp trung ương: Cung cấp luận cứ khoa học phục vụ Ban Chỉ đạo Cải cách tư pháp Trung ương, VKSND tối cao, Tòa án nhân dân tối cao trong việc nghiên cứu sửa đổi, bổ sung BLTTHS năm 2015 và định hướng hoàn thiện mô hình cơ quan tư pháp hình sự.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành luật: Phần lý luận ở Chương 1 (lịch sử công tố và thuyết chức năng luận) và nội dung so sánh thực định ở Chương 2 là nguồn tư liệu tham khảo hệ thống về luật học so sánh và tố tụng hình sự.
  • Cán bộ thực tiễn (Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán): Hữu ích trong việc nhận thức đúng đắn vai trò của từng chủ thể tố tụng, hạn chế tình trạng đan xen chức năng trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử.

Câu hỏi thường gặp

1. Theo luận án, quyền công tố khác chức năng công tố ở điểm nào?
Luận án kết luận quyền công tố là quyền lực của Nhà nước, xuất hiện gắn liền với sự ra đời của Nhà nước nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự người vi phạm pháp luật. Trong khi đó, CNCT theo thuyết chức năng luận chỉ hình thành khi Nhà nước ủy quyền cho một thiết chế độc lập (CQCT) thay mặt nhà nước thực hiện việc buộc tội vì lợi ích công cộng. Nếu một cơ quan tiến hành tố tụng không hoạt động độc lập hoặc không nhân danh lợi ích công thì hoạt động đó không cấu thành CNCT đúng nghĩa.

2. Nguyên nhân lịch sử nào khiến chế định tư tố suy giảm và nhường chỗ cho công tố tại Đức?
Theo các tài liệu lịch sử được tác giả viện dẫn (Esmein, Langbein), từ thế kỷ 12 đến thế kỷ 16 tại Đức, quan niệm về tội phạm chuyển biến từ việc cá nhân sang hành vi xâm hại trật tự công. Đồng thời, pháp luật TTHS Đức thời kỳ này bắt buộc người khởi kiện cá nhân phải nộp một khoản tiền bảo đảm do Tòa án ấn định để bồi thường nếu việc buộc tội thất bại; nếu không có tiền, người khởi kiện có thể bị tạm giam cùng với bị cáo cho đến khi xét xử. Quy định ngặt nghèo này đã khiến chế định tư tố suy tàn và công tố chính thức thay thế hoàn toàn.

3. Mối quan hệ giữa Cơ quan công tố và Cơ quan điều tra ở CHLB Đức được tổ chức ra sao?
Ở Đức, CQCT là chủ thể chỉ đạo trực tiếp và toàn diện hoạt động điều tra, quyết định toàn bộ các biện pháp tố tụng và ngăn chặn trong giai đoạn tiền xét xử. Cảnh sát điều tra không phải là cơ quan tố tụng độc lập mà hoạt động với tư cách là cơ quan hỗ trợ, thừa hành các mệnh lệnh điều tra do Công tố viên ban hành.

4. Vì sao luận án kiến nghị bãi bỏ quyền khởi tố vụ án hình sự của Tòa án tại phiên tòa ở Việt Nam?
Theo tác giả, Điều 153 BLTTHS năm 2015 cho phép Tòa án khởi tố vụ án hình sự tại phiên tòa là sự đan xen giữa chức năng xét xử và chức năng buộc tội. Tòa án là cơ quan tài phán độc lập, đứng ở vị trí trung tâm để phán quyết vô tư; việc Tòa án tự mình khởi tố làm mất đi tính khách quan, vi phạm nguyên tắc cơ bản của tố tụng là không có ai vừa là người buộc tội vừa là người xét xử (nemo judex sine actore).

5. Luận án đề xuất áp dụng nguyên tắc truy tố tùy nghi từ kinh nghiệm Đức vào Việt Nam như thế nào?
Luận án đề xuất áp dụng nguyên tắc tùy nghi truy tố có điều kiện đối với các vụ án ít nghiêm trọng, người phạm tội đã bồi thường thiệt hại và đạt được thỏa thuận với người bị hại, hoặc đối với người chưa thành niên. Cơ chế này giúp giảm tải áp lực cho các cơ quan tiến hành tố tụng, tiết kiệm ngân sách nhà nước và thúc đẩy phục hồi xã hội mà vẫn bảo đảm trật tự pháp luật.

Kết luận

Luận án của Đàm Quang Ngọc là công trình nghiên cứu so sánh chuyên sâu về chức năng công tố giữa TTHS Việt Nam và CHLB Đức trên nền tảng thuyết chức năng luận và phương pháp lịch sử. Tác giả đã làm rõ bản chất lý luận của chức năng công tố, chỉ ra những bất cập trong việc phân định các chức năng tố tụng theo BLTTHS năm 2015, đồng thời phân tích kinh nghiệm tổ chức cơ quan công tố của Đức. Trên cơ sở đó, luận án đề xuất các giải pháp lập pháp cụ thể nhằm phân định rạch ròi giữa buộc tội và xét xử, tăng cường vai trò của Viện kiểm sát trong giai đoạn điều tra và nghiên cứu thể chế hóa nguyên tắc truy tố tùy nghi tại Việt Nam.