Chương 1: Tổng quan nghiên cứu Chương 2: Một số vấn đề lý luận về lẩn tránh thuế PVTM và chống lẩn tránh thuế PVTM Chương 3: Thực trạng áp dụng các biện pháp chống lẩn tránh thuế PVTM của Hoa Kỳ đối với hàng xuất khẩu Việt Nam Chương 4: Giải pháp tăng cường ứng phó đối với các biện pháp chống lẩn tránh thuế phòng vệ thương mại của Hoa Kỳ nhằm thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa sang thị trường Hoa Kỳ 16 CHƯƠNG 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ LẨN TRÁNH THUẾ PHÒNG VỆ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ VÀ CHỐNG LẨN TRÁNH THUẾ PHÒNG VỆ THƯƠNG MẠI 2. CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG VỆ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ Phòng vệ thương mại (PVTM) là một thuật ngữ để chỉ các biện pháp hạn chế nhập khẩu một loại hàng hóa cụ thể nhằm bảo vệ ngành sản xuất hàng hoá đó tại nước nhập khẩu. Hiện nay, trong khuôn khổ của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), có ba biện pháp PVTM được công nhận và thể chế hóa cụ thể: (i) chống bán phá giá (CBPG) (áp dụng khi hàng hoá nhập khẩu bán phá giá, gây thiệt hại đáng kể cho sản xuất trong nước); (ii) chống trợ cấp (CTC) (áp dụng khi hàng hoá nhập khẩu được trợ cấp gây thiệt hại đáng kể cho sản xuất trong nước) và (iii) tự vệ (áp dụng khi hàng hoá gia tăng đột biến, gây thiệt hại nghiêm trọng cho sản xuất trong nước). Các biện pháp này đều được quy định chi tiết tại Hiệp định GATT 1994 và các Hiệp định chống bán phá giá, Hiệp định trợ cấp và các biện pháp đối kháng và Hiệp định Tự vệ của WTO.
Biện pháp chống bán phá giá 2. Khái niệm - Bán phá giá trong thương mại quốc tế có thể hiểu là hành vi hàng hóa được xuất khẩu từ nước này sang nước khác với mức giá thấp hơn giá bán của hàng hoá đó tại thị trường nội địa nước xuất khẩu nhằm mục đích chiếm lĩnh thị trường và loại bỏ được các đối thủ cạnh tranh. - Biện pháp CBPG là một trong các biện pháp PVTM thường được các quốc gia áp dụng nhằm đối phó với các ảnh hưởng xấu của các sản phẩm được bán phá giá trong thị trường xuất khẩu. Theo hiệp định chung về thuế quan và mậu dịch (GATT, Điều 6) và Hiệp định CBPG (Anti-dumping Agreement) của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) cho phép các quốc gia thành viên được quyền đưa ra những biện pháp thích hợp nhằm “bảo vệ” ngành sản xuất trong nước khi mà ngành này bị “thiệt hại thực sự” từ hành vi bán phá giá từ phía đối tác nước ngoài.
Từ “bảo vệ” đến “bảo hộ” đôi khi không có ranh giới rõ ràng. Chính vì thế, trong nhiều trường hợp quốc gia có thể bảo hộ ngành sản xuất trong nước của mình dưới danh nghĩa “bảo vệ ngành sản xuất trong nước”. Mục đích 17 Mục đích của các biện pháp CBPG là nhằm tạo dựng lại thế cạnh tranh cân bằng giữa sản phẩm trong nước và sản phẩm nhập khẩu, bảo vệ thị trường nội địa chống lại các hành vi cạnh tranh quốc tế không lành mạnh của doanh nghiệp bán phá giá. Cũng chính vì mục đích này mà việc áp dụng mức thuế CBPG được yêu cầu là không vượt quá biên độ bán phá giá, nhằm tránh tình trạng lạm dụng thuế CBPG làm công cụ bảo hộ bất hợp pháp thị trường nội địa.
Điều kiện áp dụng Không phải cứ có hiện tượng hàng hóa nước ngoài bán phá giá là nước nhập khẩu có thể áp dụng các biện pháp CBPG đối với hàng hoá đó. Theo quy định của WTO thì việc áp dụng các biện pháp CBPG chỉ có thể thực hiện nếu cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu, sau khi đã tiến hành điều tra CBPG, ra kết luận khẳng định sự tồn tại đồng thời của cả 03 điều kiện sau: - Hàng hoá nhập khẩu bị bán phá giá (với biên độ phá giá không thấp hơn 2%); - Ngành sản xuất sản phẩm tương tự của nước nhập khẩu bị thiệt hại đáng kể hoặc bị đe doạ thiệt hại đáng kể hoặc ngăn cản đáng kể sự hình thành của ngành sản xuất trong nước (gọi chung là yếu tố “thiệt hại”); - Có mối quan hệ nhân quả giữa việc hàng nhập khẩu bán phá giá và thiệt hại nói trên. Biện pháp chống trợ cấp 2. Khái niệm - Trợ cấp, theo Điều 1 Hiệp định SCM của Tổ chức thương mại thế giới WTO, được định nghĩa là một khoản đóng góp tài chính trực tiếp hoặc gián tiếp do một Chính phủ hoặc một cơ quan công cộng trên lãnh thổ của một nước thành viên và đem lại lợi ích cho ngành hoặc doanh nghiệp được nhận trợ cấp.
Trong WTO, trợ cấp được hiểu là bất kỳ hỗ trợ tài chính nào của Nhà nước hoặc một tổ chức công (trung ương hoặc địa phương) dưới một trong các hình thức sau mang lại lợi ích cho doanh nghiệp/ngành sản xuất: + Hỗ trợ trực tiếp bằng tiền chuyển ngay (ví dụ cấp vốn, cho vay, góp cổ phần) hoặc hứa chuyển (ví dụ bảo lãnh cho các khoản vay); + Miễn hoặc cho qua những khoản thu lẽ ra phải đóng (ví dụ ưu đãi thuế, tín dụng); + Mua hàng, cung cấp các dịch vụ hoặc hàng hoá (trừ cơ sở hạ tầng chung); 18 + Thanh toán tiền cho một nhà tài trợ hoặc giao cho một đơn vị tư nhân tiến hành các hoạt động nêu trên theo cách thức mà Chính phủ vẫn làm. Các khoản hỗ trợ này được hiểu là mang lại lợi ích cho đối tượng được hưởng hỗ trợ nếu nó được thực hiện theo cách mà một nhà đầu tư tư nhân, một ngân hàng thương mại…bình thường sẽ không khi nào làm như vậy (vì đi ngược lại những tính toán thương mại thông thường). - Biện pháp chống trợ cấp (còn gọi là biện pháp đối kháng) mà nước nhập khẩu tiến hành đối với một loại hàng hoá nhập khẩu từ một nước nhất định khi có những nghi ngờ rằng hàng hoá được trợ cấp (trừ trợ cấp đèn xanh) và gây thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất sản phẩm tương tự của nước nhập khẩu. Biện pháp này nhằm vào các nhà sản xuất xuất khẩu nước ngoài được trợ cấp (thông qua thủ tục điều tra CTC do nước nhập khẩu tiến hành) chứ không nhằm vào chính phủ nước ngoài đã thực hiện việc trợ cấp (WTO quy định các cơ chế xử lý khác mang tính đa phương cho trường hợp này).
Mục đích Cũng như biện pháp CBPG, biện pháp CTC được nước nhập khẩu sử dụng để đối phó với các hiện tượng trợ cấp (cạnh tranh không lành mạnh) từ nước ngoài gây thiệt hại. Tuy nhiên, không loại trừ khả năng công cụ này được dùng để chống lại sự gia tăng của hàng nhập khẩu giá rẻ. Điều kiện áp dụng - Không phải cứ có hiện tượng hàng hóa nước ngoài được trợ cấp là nước nhập khẩu có thể áp dụng các biện pháp CTC đối với hàng hoá đó. Theo quy định của WTO thì việc áp dụng các biện pháp CTC chỉ có thể thực hiện nếu cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu, sau khi đã tiến hành điều tra CTC, ra kết luận khẳng định sự tồn tại đồng thời của cả 03 điều kiện sau: + Hàng hoá nhập khẩu được trợ cấp (với biên độ trợ cấp - tức là trị giá phần trợ cấp trên trị giá hàng hóa liên quan - không thấp hơn 1%); + Ngành sản xuất sản phẩm tương tự của nước nhập khẩu bị thiệt hại đáng kể hoặc bị đe doạ thiệt hại đáng kể hoặc ngăn cản đáng kể sự hình thành của ngành sản xuất trong nước (gọi chung là yếu tố “thiệt hại”); + Có mối quan hệ nhân quả giữa việc hàng nhập khẩu được trợ cấp và thiệt hại nói trên.
Biện pháp tự vệ thương mại 2. Khái niệm Biện pháp tự vệ trong thương mại quốc tế là việc tạm thời hạn chế nhập khẩu đối với một hoặc một số hàng hóa khi việc nhập khẩu chúng tăng nhanh gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất trong nước. Biện pháp tự vệ chỉ được áp dụng đối với hàng hoá, không được áp dụng đối với dịch vụ, đầu tư hay sở hữu trí tuệ. Biện pháp tự vệ có thể được áp dụng kể cả khi các đối tác thương mại thực hiện kinh doanh một cách chính đáng, không có tình trạng bán phá giá hoặc trợ cấp.
Chính vì vậy, biện pháp tự vệ được áp dụng một cách khắt khe hơn so với hai biện pháp còn lại. Mỗi nước nhập khẩu là thành viên của WTO đều có quyền áp dụng biện pháp tự vệ để bảo vệ ngành sản xuất trong nước của mình nhưng phải “trả giá” cho những thiệt hại gây ra cho các nhà sản xuất nước ngoài như một hình thức cân bằng cam kết thương mại với nước khác trong trường hợp kết quả điều tra kết luận việc nước nhập khẩu áp dụng biện pháp tự vệ là quá mức cần thiết và không có cơ sở. Cụ thế, nước áp dụng biện pháp tự vệ phải bồi thường thương mại cho các nước có hàng hoá bị áp dụng biện pháp tự vệ theo các điều kiện nhất định. Nếu nước này không tuân thủ, WTO cho phép các nước liên quan được áp dụng biện pháp trả đũa.
Mục đích Khác với hai biện pháp trên, biện pháp tự vệ là công cụ khẩn cấp nhằm loại bỏ trước mắt những thiệt hại do tình trạng gia tăng bất thường của hàng hóa nhập khẩu, sử dụng để “đối phó" với hành vi thương mại hoàn toàn bình thường (không có hành vi vi phạm pháp luật hay cạnh tranh không lành mạnh). Trong hoàn cảnh buộc phải mở cửa thị trường và tự do hoá thương mại theo các cam kết WTO, các biện pháp tự vệ chính là “van an toàn” mà hầu hết các nước nhập khẩu là thành viên WTO đều mong muốn thực hiện khi cần thiết. Với chiếc van này, nước nhập khẩu có thể ngăn chặn tạm thời luồng nhập khẩu hàng hoá để giúp ngành sản xuất nội địa của mình tránh những đổ vỡ trong một số trường hợp khó khăn. Điều kiện sử dụng Một nước nhập khẩu chỉ có thể áp dụng biện pháp tự vệ sau khi đã tiến hành điều tra và chứng minh được sự tồn tại đồng thời 3 điều kiện sau: + Hàng hoá liên quan được nhập khẩu tăng đột biến về số lượng; 20 + Ngành sản xuất sản phẩm tương tự hoặc cạnh tranh trực tiếp với hàng hoá đó bị thiệt hại hoặc đe dọa thiệt hại nghiêm trọng; + Có mối quan hệ nhân quả giữa hiện tượng nhập khẩu tăng đột biến và thiệt hại hoặc đe dọa thiệt hại gây ra nói trên.