Chương 1 TÔNG QUAN 1. Cơ sở di truyền tính trạng năng suất trên vịt Các tính trạng năng suất của vịt đều là các tính trạng số lượng với đặc điểm là có thé cân đong, đo đếm được, có giá trị biến thiên liên tục và phân bé tần suất theo quy luật phân bố chuẩn. Đây là các tính trạng do nhiều gen qui định và chịu ảnh hưởng rất lớn bởi các điều kiện ngoại cảnh. Khả năng di truyền của mỗi tính trạng là khác nhau và nó được đánh giá thông qua đại lượng đặc trưng là hệ số di truyền.
Dựa trên giá trị hệ số đi truyền của tính trạng để định hướng, lựa chọn phương pháp chọn lọc phù hợp trong các chương trình nhân giống vật nuôi. Đối với những tính trạng sinh sản, năng suất trứng được coi là tính trang quan trọng nhất và đa phần các kết quả nghiên cứu về khả năng di truyền đều tập trung vảo tính trạng này. Năng suất trứng chịu ảnh hưởng lớn của ngoại cảnh và di truyền thường ở mức trung bình và thấp. Các kết quả nghiên cứu trên nhóm vịt chuyên trứng cho thấy hệ số di truyền nằm trong khoảng 0,10-0,22 (Cheng và ctv, 1995 va 1996; Poivey va ctv, 2001; Liu và ctv, 2013; Lin và ctv, 2017; Rouvier va ctv, 2017; Vũ Hoang Trung, 2019).
Nghiên cứu trên nhóm vit chuyên thịt của một số tác giả cho thấy, khả năng di truyền đối với tính trạng này có phần cao hơn so với nhóm vịt chuyên trứng, mức biến động từ 0,20-0,34 (Nguyễn Đức Trọng và ctv, 2009a; Dương Xuân Tuyền và ctv, 2006a và 2015; Phạm Văn Chung, 2018). Như vậy, việc chọn lọc và cải tiễn di truyền tính trang năng suất trứng đối với vịt chuyên thịt cũng sẽ có hiệu quả. Một số tác giả đã cho thấy hiệu quả chọn lọc đối với năng suất trứng đạt 0,52-1,59 qua/thé hé (Duong Xuan Tuyén va ctv, 2006a; 2016; Nguyễn Văn Duy, 2012; Pham Van Chung, 2018). Bên cạnh năng suất trứng thi tính trạng khối lượng trứng cũng được một số tác giả nghiên cứu khả năng di truyền.
Theo Pingel (1990) khối lượng trứng mang tính chất đặc trưng cho loài và có khả năng di truyền cao. Theo trích dẫn của Pingel (1990), báo cáo về hệ số di truyền khối lượng trứng vịt Bắc Kinh của Sochocka và ctv năm 1971 là 0,47; của Cerveny và ctv năm 1986 là 0,40. Kết quả khác về hệ số di truyền khối lượng trứng của vịt Bắc Kinh là 0,21-0,61 (Wezyk và ctv, 1985). Cheng và ctv, (1995 và 1996) nghiên cứu trên vịt chuyên trứng Brown Tsaiya cho biết, khả năng di truyền của khối lượng trứng ở mức trung bình (h?=0,33-0,34).
Khả năng di truyền tính trang khối lượng trứng của vịt từ nghiên cứu trong nước mới chỉ ghi nhận hai kết vừa công bố của Lê Thanh Hải và ctv (2020b, 2020c) trên giống vịt Biên dòng mái VB4 với h?=0,44 và trên vịt chuyên thịt dong mái V27 với hˆ=0,59. Nhìn chung, kết quả về khả năng di truyền tính trạng khối lượng trứng trên vịt là rất ít, cần có thêm các nghiên cứu dé có thé đánh giá về khả năng di truyền của tính trạng này. Ngoài các tính trạng trên, một số tính trạng khác cũng được nghiên cứu về khả năng di truyền. Có thể tổng hợp một số kết quả nghiên cứu đơn lẻ như sau: Nghiên cứu về ấp nở cho thấy, khả năng đi truyền số vịt con nở ra có mức thấp, từ 0,14-0,19 (Poivey và ctv, 2001; Liu và ctv, 2013).
Nguyễn Văn Thiện và ctv (1995) cho biết, hệ số di truyền về tỷ lệ trứng có phôi chỉ từ 0,11-0,13. Kết quả của Chen và ctv (2017), hệ số di truyền tỷ lệ trứng có phôi của vịt Bắc Kinh là 0,14. Nghiên cứu di truyền và chọn lọc vịt trên thế giới Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu chọn lọc trên vịt. Mục tiêu là nghiên cứu các tham số di truyền, chọn lọc cải tiến di truyền các chỉ tiêu năng suất và tạo dòng mới.
Các công trình đã công bố các tham số đi truyền như hệ số di truyền và tương quan di truyền, giá trị giống, khuynh hướng di truyền, tiến bộ di truyền. Về phương pháp ước lượng tham số di truyền, các tác giả áp dụng phương pháp REML, là phương pháp cho độ chính xác tương đối cao. Về chọn lọc, các tác giả đã đi sâu phân tích đánh giá được về mặt di truyền cho từng tính trạng của từng cá thể. Đó là phương pháp chọn giống tiên tiễn dựa trên giá trị giống (BV) ước tinh bằng BLUP (dự đoán tuyến tính vô tư tốt nhất), phương pháp chỉ số chọn lọc xây dựng trên giá trị giống và các hệ số kinh tế của từng tính trạng (thay thế cho phương pháp chọn lọc cũ là chỉ dựa trên giá trị kiểu hình).
Giá trị giống phụ thuộc vào độ lớn của hệ sé đi truyền và chênh lệch giữa năng suất của cá thé đó với trung bình năng suất nhóm tương đồng (Chen và ctv, 2003); Cheng và ctv, 2009; Hall, 2005; Hall va Martin, 2005; Poivey va ctv, 2001). Phương pháp đánh giá chính xác và toàn diện hơn so với phương pháp đánh giá chỉ thông qua các giá trị kiểu hình. Mô hình thống kê dé phân tích di truyền thường là mô hình thú đa tính trạng. Mô hình tong quát có dạng như sau: Y = Xb + Zu + e; Trong đó: Y: Véc tơ của các quan sát về giá trị kiểu hình; b: Véc tơ các ảnh hưởng có định; u: Véc tơ các anh hưởng ngẫu nhiên (giá trị gây giống của các cá thể); e: Véc tơ các sai số ngẫu nhiên; X: Ma trận tới liên quan đến các ảnh hưởng cố định; Z: Ma trận tới liên quan đến các ảnh hưởng ngẫu nhiên.
Đã có một số công trình nghiên cứu về di truyền và chọn lọc nâng cao năng suất sinh sản và chất lượng trứng được công bố: Trên giống vịt Brown Tsaiya, Cheng và ctv (1996) đã chọn lọc qua 5 thế hệ. Phân tích MM-REML được áp dụng cho mô hình thú trên 12 tính trạng gồm chiều dai lông ở 20 tuần tuổi; khối lượng co thé ở 20 tuần tuổi và 40 tuần tuổi; tuổi đẻ trứng đầu tiên; số lượng trứng 40 và 52 tuần tuôi; độ chịu lực vỏ trứng ở 30 và 40 tuần tuổi; khối lượng trứng ở 30 và 40 tuần tuôi; khối lượng lòng đỏ trứng ở 40 tuần tuổi; và ty lệ khối lượng trứng so với khối lượng cơ thé ở 40 tuần tuổi. Kết quả cho thấy khả năng di truyền ở mức thấp (h?: 0,094, 0,107, 0,125, 0,125, 0,125, 0,191 và 0,201 đối với lần lượt các tính trạng độ chịu lực vỏ trứng ở 40 và 30 tuần tuôi, số lượng trứng 52 và 40 tuần tuổi, chiều dài lông ở 20 tuần tuổi, khối lượng lòng đỏ trứng ở 40 tuần tuổi và tuổi đẻ trứng đầu tiên), đến trung bình (lần lượt là 0,327, 0,336, 0,333, 0,425 và 0,499 cho và tỷ lệ khối lượng trứng so với khối lượng cơ thể ở 40 tuần tuổi, khối lượng trứng ở 40 tuần tuổi, khối lượng trứng ở 30 tuần tuổi, khối lượng co thé ở 20 tuần tuổi và 40 tuần tuổi). Khối lượng trứng, khối lượng cơ thé và độ chịu lực của vỏ trứng có mỗi tương quan thuận về mặt di truyền.
Tác giả khuyến nghị xây dựng chỉ số chọn lọc tuyến tính cho số lượng trứng 52 tuần tuổi với các tinh trạng khối lượng trứng ở 40 tuần tuổi, khối lượng cơ thé ở 40 tuần tuổi và độ chịu lực vỏ trứng ở 40 tuần tuổi là giải pháp tốt dé cải thiện hiệu quả khả năng sản xuất trứng với giống vịt này. Cũng trên giống vit Brown Tsaiya, Cheng va ctv (1996) sử dung chi số chọn lọc, phương pháp BLUP, mô hình thú đa tính trạng (MT-BLUP) trên vit Tsaiya Đài Loan. Giá trị giống của khối lượng trứng 40 tuần tuổi, khối lượng cơ thê 40 tuần tuổi, độ chịu lực của vỏ trứng 40 tuần tuôi và năng suất trứng 52 tuần tuổi được sử dụng vào phương trình tính chỉ số chọn lọc. Kết quả sau 4 thế hệ chọn lọc, tiến bộ di truyền khối lượng cơ thé 40 tuần tuổi đạt 0,91 g, khối lượng trứng 0,05 g, độ chịu lực của vỏ trứng 0,035 kg/cm? và năng suất trứng 52 tuần tuổi là 213 quả.
Ismoyowati và ctv (2011) tién hanh chon loc nang cao nang suất trứng ở 120 ngày đẻ trên vịt Tegal, kết quả khối lượng cơ thể ở thế hệ xuất phát của vịt Tegal là 550,18 g, thế hệ 1 khối lượng cơ thé đạt 1554,65 g và sự sai khác về khối lượng cơ thé ở 2 thé hệ, năng suất trứng đến 120 ngày đẻ ở thế hệ xuất phát là 78,0 quả/mái sau 1 thế hệ chọn loc đã tăng lên 88,12 quả/mái/120 ngày đẻ. Ngoài cải tiền năng suất trứng và chất lượng trứng, một số nghiên cứu đã tiễn hành chon lọc dé nâng cao tỷ lệ trứng có phôi. Cheng va ctv (2009) đã tiến hành chọn lọc nhằm tăng tỷ lệ trứng có phôi đối với vịt Brown Tsaiya. Sau 12 thế hệ chon lọc, tỷ lệ trứng có phôi sau khi thụ tinh nhân tao 2-8 ngày trên dòng vit chon lọc (S) đạt 89,14%, trong khi dòng vịt đối chứng (T) chi đạt 61,46%.
Các thông số di truyền về sinh sản của 2 dong vịt trong nghiên cứu nay đã được Poivey và ctv (2001) phân tích và cho biết hệ số di truyền của số trứng có phôi, số trứng chết phôi, thời gian tối da sau khi thụ tinh nhân tạo dé trứng có phôi và số vịt nở dong S theo thứ tự là 0,30, 0,06, 0,28 và 0,18, kết quả tương ứng ở dòng T là 0,26, 0,09, 0,21 và 0,19. Hệ số tương quan di truyền của dòng S và dòng T giữa số trứng có phôi và thời gian tối đa sau khi thụ tinh nhân tạo (0,96 và 0,92), giữa số trứng có phôi và số vịt nở (0,86 và 0,91), và giữa thời gian tối đa sau khi thu tinh nhân tạo và số vit nở (0,90 và 0,82). Điều nay cho thấy, có thé cải tiến tỷ lệ phôi thông qua chọn lọc tính trạng số lượng trứng có phôi. Liu và ctv (2015) nghiên cứu chọn lọc trên một dòng vịt tại Đài Loan dé nâng cao thời gian có phôi đối với trứng vịt sau mỗi lần thụ tinh.
Dữ liệu cá thé theo dõi gồm số lượng trứng được ấp, số lượng trứng có phôi vào lúc 7 ngày ấp trứng, tổng số phôi chết, thời gian có phôi tối đa và số lượng vịt con nở với màu lông. Kết quả phân tích cho thấy khả năng di truyền là thấp đối với số lượng trứng được ấp (h”=0,07) và tổng số phôi chết (h”=0,07) ; thời gian có phôi tối đa (h”=0,13), số lượng vịt con nở (h?=0,20) và số lượng trứng có phôi vào lúc 7 ngày ấp trứng (h?=0,23) có khả năng di truyền từ thấp đến trung bình.