Chương 1: Những vấn đề lý luận về chính sách xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp có lợi thế của một địa phương. Chương 2: Thực trạng chính sách xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp có lợi thế của tỉnh Bắc Giang. Chương 3: Định hướng và hoàn thiện chính sách xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp có lợi thế của tỉnh Bắc Giang. 7 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH XUẤT KHẨU SẢN PHẨM NÔNG NGHIỆP CÓ LỢI THẾ CỦA MỘT ĐỊA PHƢƠNG 1.
Khái niệm về sản phẩm nông nghiệp có lợi thế và chính sách, đặc điểm xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp có lợi thế 1. Khái niệm sản phẩm nông nghiệp có lợi thế Mỗi nền kinh tế phát triển trên thế giới đều gắn với một số sản phẩm có lợi thế cạnh tranh tranh. Những sản phẩm này trở thành yếu tố chủ lực, định hướng phát triển cho các sản phẩm khác và đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế của một quốc gia hoặc vùng lãnh thổ. Chẳng hạn như Nhật Bản từ sau thế chiến thứ II (1951 – 1973) đã trở thành nền kinh tế lớn của thế giới với GDP tăng trưởng gấp 20 lần giai đoạn trước.
Đóng góp vào sự phát triển thần kỳ của Nhật Bản chính là các sản phẩm chủ lực như tàu biển, xe máy, đồ điện tử, máy ảnh, ô tô, sản phẩm hóa chất,… Trung Quốc cũng là nước có tốc độ tăng trưởng thần kỳ, đạt tốc độ 9,5%/năm, vươn lên đứng thứ 2 thế giới nhờ vào việc chuyển đồi từ nền công nghiệp không dựa vào lợi thế sang nền công nghiệp dựa trên lợi thế nguồn nhân công dồi dào, giá rẻ. Ở Việt Nam, các sản phẩm chủ lực như gạo, cà phê, tiêu, điều, thủy sản, dệt may, giày dép,… đã là nhân tố thúc đẩy kinh tế tăng trưởng nhanh và giúp Việt Nam định vị được thương hiệu trên thị trường thế giới. Các sản phẩm có lợi thế cạnh tranh đóng vai trò quan trọng như vậy nhưng khái niệm về sản phẩm có lợi thế lại chưa được hiểu rõ ràng, thống nhất trong các công trình nghiên cứu cũng như còn tồn tại cách hiểu khác nhau giữa các quốc gia, địa phương. “Lợi thế” có nhiều cấp độ và mức độ khác nhau như lợi thế tuyệt đối, lợi thế so sánh, lợi thế cạnh tranh, lợi thế tự nhiên… Lợi thế tuyệt đối là khái niệm để chỉ sự vượt trội hơn về lượng tuyệt đối nước này với nước khác về cùng một loại sản phẩm dựa trên các yếu tố: giá thành sản xuất thấp hơn, năng suất lao động cao hơn.
8 Khái niệm về sản phẩm tuyệt đối được đưa ra bởi nhà kinh tế người Scotland - Adam Smith (1723-1790) từ cuối thế kỷ XVIII. Theo Adam Smith, một quốc gia được coi là có lợi thế tuyệt đối về một sản phẩm nếu có thể sản xuất và bán sản phẩm đó với chi phí thấp hơn so với bất kỳ quốc gia nào khác, hoặc là quốc gia duy nhất có thể sản xuất được sản phẩm đó. Ông lập luận rằng một nước không nhất thiết phải sản xuất tất cả các mặt hàng tiêu dùng trong nước mà ngược lại mỗi nước có thể tập trung sản xuất những mặt hàng mà mình có lợi thế tuyệt đối và sau đó buôn bán với các nước để đổi lấy mặt hàng mà mình không sản xuất. Lợi thế so sánh: khác với lợi thế tuyệt đối, lợi thế so sánh chỉ sự khác biệt về chi phí cơ hội để sản xuất ra một sản phẩm so với các sản phẩm khác.
Khái niệm lợi thế so sánh được đưa ra lần đầu tiên bởi Robert Toens vào năm 1815 nhưng được phát triển thành lý thuyết bởi nhà kinh tế học cổ điển người Anh - David Ricardo (1772-1823). Theo David Ricardo, một quốc gia (phạm vi hẹp hơn là một địa phương, một khu vực) được coi là có lợi thế so sánh trong việc sản xuất một sản phẩm nếu họ có thể sản xuất sản phẩm đó với chi phí cơ hội thấp hơn. Một nước nên thực hiện chuyên môn hóa sản xuất mặt hàng mà nước đó có thể sản xuất với hiệu quả cao hơn trong tương quan so với mặt hàng khác và trao đổi với nước khác. Thương mại tự do sẽ giúp gia tăng sản lượng của toàn thế giới và mang lại lợi ích cho tất cả các nước tham gia, ngay cả khi một nước kém hiệu quả hơn trọng việc sản xuất tất cả các mặt hàng.
Lợi thế so sánh bao gồm: lợi thế so sánh tĩnh và lợi thế so sánh động. Lợi thế so sánh tĩnh là lợi thế đang có mà không phải đầu tư lớn về vốn, trí tuệ như lợi thế về điều kiện tự nhiên, số lượng nguồn nhân lực,… Đây là loại lợi thế cấp thấp. Lợi thế so sánh động là lợi thế về vốn, tri thức, khoa học công nghệ, lao động chất lượng cao. Đây là lợi thế so sánh mềm, lợi thế cấp cao.
Lợi thế so sánh động luôn biến đổi. Một quốc gia phải tận dụng lợi thế so sánh tĩnh, đồng thời luôn phải chú trọng đầu tư vào lợi thế so sánh động để tránh tụt hậu và bị giảm lợi thế so với các quốc gia có sự đầu tư về những yếu tố làm nên so sánh động. Lợi thế cạnh tranh: là những nguồn lực, lợi thế của ngành, địa phương, quốc gia mà nhờ đó các doanh nghiệp kinh doanh trên thị trường quốc tế tạo ra một số ưu 9 thế vượt trội so với đối thủ cạnh tranh trực tiếp. Lợi thế cạnh tranh được phân tích trong cuốn sách “Lợi thế cạnh tranh quốc gia” của Micheal Porter xuất bản năm 1990.
Trong cuốn sách tác giả đã đưa ra mô hình “Viên kim cương” để chỉ ra 4 yếu tố chính của lợi thế cạnh tranh, đó là: các yếu tố sản xuất; điều kiện về cầu; các ngành hỗ trợ và cuối cùng là chiến lược, cơ cấu của doanh nghiệp. Ngoài ra có 2 yếu tố bổ sung là vai trò của nhà nước và thời cơ. Lợi thế tự nhiên: là lợi thế về điều kiện tự nhiên thuận lợi cho quá trình sản xuất sản phẩm như tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý, khí hậu, thổ nhưỡng, nguồn nguyên vật liệu, thị trường tiêu thụ,… Từ việc phân tích các khái niệm về lợi thế có thể hiểu: lợi thế là phạm trù để chỉ những điều kiện thuận lợi tạo ra ưu thế của một doanh nghiệp, vùng, địa phương, quốc gia trong việc sản xuất và tiêu thụ hàng hóa để thu được lợi ích cao hơn đối thủ cạnh tranh. Theo cách phân tích về “lợi thế” có thể hiểu “sản phẩm có lợi thế” là các sản phẩm đặc trưng, tạo ra ưu thế của một doanh nghiệp, địa phương, quốc gia.
Các sản phẩm này có tính ưu việt hơn các sản phẩm khác của cùng một địa phương, quốc gia và có khả năng cạnh tranh với sản phẩm cùng loại của địa phương, quốc gia khác trong sản xuất và tiêu thụ. Sản phẩm có lợi thế đóng vai trò then chốt, quyết định đối với việc thực hiện các mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ đặt ra trong thời kỳ nhất định về phát triển kinh tế của một nước, vùng lãnh thổ hay một địa phương. Đây là những sản phẩm chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu ngành; có nhịp độ tăng trưởng cao; có tỷ lệ giá trị gia tăng cao; có vị trí chi phối và ảnh hưởng đến sự phát triển đối với các sản phẩm khác; có sức cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước. Với khái niệm như trên, sản phẩm có lợi thế được xem xét trên các góc độ của lợi thế: lợi thế so sánh, lợi thế cạnh tranh và lợi thế tự nhiên.
Sản phẩm nông nghiệp có lợi thế là một loại của sản phẩm có lợi thế. Sản phẩm nông nghiệp có lợi thế của một địa phương là sản phẩm có nguồn gốc từ hoạt động nông nghiệp, có giá trị sản xuất cao, khai thác tối đa những lợi thế của địa 10 phương, có giá trị xuất khẩu lớn, chiếm tỷ lệ cao trong tổng kim ngạch xuất khẩu nông sản và góp phần thay đổi cơ cấu kinh tế của một địa phương. Tiêu chí đánh giá sản phẩm nông nghiệp có lợi thế: Một sản phẩm nông nghiệp được đánh giá là có lợi thế khi đảm bảo các tiêu chí sau: - Có giá trị sản xuất và xuất khẩu lớn, chiếm tỷ lệ cao trong tổng kim ngạch xuất khẩu nông sản của địa phương - Có sức cạnh tranh cao so với các sản phẩm nông nghiệp khác - Có năng suất lao động cao - Gây được hiệu quả tốt theo phản ứng dây chuyền đến sự phát triển các sản phẩm nông nghiệp khác của cùng địa phương - Khai thác tối đa lợi thế của địa phương về điều kiện tự nhiên, công nghệ sản xuất, cơ sở hạ tầng,. - Góp phần làm thay đổi cơ cấu kinh tế của địa phương.
Ngoài các chỉ tiêu định tính, một số quốc gia/địa phương sử dụng các chỉ tiêu định lượng để đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm lợi thế như: Hệ số lợi thế so sánh (RCA); Hệ số thương mại ròng (NTR); Hệ số địa phương hóa (LQ); Hệ số bảo hộ hiệu dụng (EPR); Hệ số chi phí nguồn lực trong nước (DRC). Đặc trƣng của sản phẩm nông nghiệp có lợi thế: Thứ nhất, sản phẩm nông nghiệp có lợi thế mang tính đặc trưng cho nền nông nghiệp của một địa phương hoặc một quốc gia. Để lựa chọn và phát triển một sản phẩm nông nghiệp có lợi thế cần dựa vào đặc thù của mỗi quốc gia hoặc mỗi địa phương, đặc biệt cần dựa vào đặc thù của ngành nông nghiệp của các quốc gia, địa phương này (ví dụ như điều kiện sản xuất nông nghiệp, tập quán sản xuất, văn hóa vùng miền…). Sản phẩm nông nghiệp có lợi thế một phần là do những giá trị đặc trưng của quốc gia, địa phương đó.
Người tiêu dùng lựa chọn sản phẩm đó cũng bởi những nét riêng, những đặc trưng của sản phẩm. Thậm chí, nhiều sản phẩm nông nghiệp có lợi thế còn là biểu tượng văn hóa 11 của quốc gia, địa phương tạo nên thương hiệu trên thị trường quốc tế. Ví dụ lúa gạo Việt Nam là biểu tượng cho nền nông nghiệp lúa nước của nước ta,… Thứ hai, sản phẩm nông nghiệp có lợi thế có quy mô sản xuất lớn và có tính đồng nhất cao. Sản phẩm nông nghiệp có lợi thế được sản xuất ra để trao đổi mua bán nên cần phải có quy mô sản xuất lớn và phải được sản xuất tập trung để đảm bảo khối lượng cung ứng ra thị trường.
Đồng thời, phải có chất lượng, mẫu mã giống nhau đối với cùng loại sản phẩm.