CHƯƠNG 1 CÁC NGHIÊN CỨU VỀ BỘ BA BẤT KHẢ THI 1.1 MÔ HÌNH BỘ BA BẤT KHẢ THI (THE IMPOSSIBLE TRINITY). Là mô hình kinh tế độc lập được viết bởi Mundell và Fleming hay mô hình Mundell-Fleming. Mô hình là sự mở rộng của mô hình IS-LM. Trong khi mô hình IS-LM truyền thống được giải quyết trong nền kinh tế đóng thì Mundell và Fleming lại cố gắng mô tả nó trong một nền kinh tế mở.
Đặc trưng của mô hình Mundell và Fleming là mô tả mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái danh nghĩa với sản lượng của nền kinh tế (giống như mối quan hệ giữa lãi suất và sản lượng trong mô hình IS-LM). Như vậy, trong ngắn hạn, lý thuyết Bộ ba bất khả thi là một chính sách kinh tế quốc tế, theo đó một quốc gia không thể đạt được đồng thời một lúc ba mục tiêu chính sách vĩ mô: - CSTT độc lập - Tự do hoá dòng vốn - Ổn định tỷ giá. Điều đó có nghĩa một quốc gia chỉ có thể đạt được tối đa 2 trong 3 mục tiêu trên.1 Sơ đồ Bộ ba bất khả thi. Nguồn: ACI (2008) 123doc 4 Mỗi cạnh là mục tiêu tốt nhất mà không thể cùng lúc đạt được đó là CSTT độc lập, ổn định tỷ giá và tự do hóa vốn, đối nghịch với mỗi cạnh là mỗi đỉnh: - Đỉnh tam giác trên cùng là thị trường vốn đóng, là sự kết hợp giữa CSTT độc lập và cố định tỷ giá nhưng không có tự do hóa dòng vốn.
Mô hình này những quốc gia đang phát triển ưu tiên áp dụng giữa cuối những năm 1980. - Đỉnh tam giác bên trái ký hiệu là chế độ thả nổi tỷ giá, là sự kết hợp giữa CSTT độc lập và tự do hóa dòng vốn. Mô hình này Mỹ ưu tiên áp dụng trong vòng ba thập kỷ qua. - Đỉnh tam giác bên phải ký hiệu là liên minh tiền tệ, là sự kết hợp giữa tỷ giá cố định và tự do hóa dòng vốn nhưng không có CSTT độc lập.
Mô hình này các quốc gia trong khối liên minh Châu Âu và Argentina ưu tiên áp dụng trong suốt những năm 1990. - Tuy nhiên trong hai thập kỷ qua để điều hành kinh tế vĩ mô hiệu quả, các quốc gia đang phát triển đã phát triển thêm một nhánh của bộ ba bất khả thi trong điều hành tỷ giá đó là chế độ tỷ giá hỗn hợp thông qua mối quan hệ với DTNH. DTNH là nguyên nhân để điều chỉnh bộ ba bất khả thi vừa là mục tiêu của các nước có nền kinh tế mới nổi. Sau khủng hoảng tại các quốc gia Đông Á 1997, các quốc gia có sự gia tăng DTNH, ngày nay khoảng ¾ DTNH ở các quốc gia đang phát triển hầu hết là các nước ở Châu Á, đặc biệt là Trung Quốc.1 Độc lập tiền tệ Giúp cho Chính phủ chủ động trong việc sử dụng các công cụ CSTT để điều tiết nền kinh tế.
CSTT nhắm vào hai mục tiêu là lãi suất và lượng cung tiền. Thông thường không thể thực hiện đồng thời hai mục tiêu này. Để điều tiết chu kỳ kinh tế ở tình trạng bình thường thì mục tiêu lãi suất được lựa chọn, còn khi kinh tế quá nóng hay kinh tế quá lạnh, CSTT sẽ nhằm vào mục tiêu trực tiếp hơn, đó là lượng cung tiền. 123doc 5 Do đó CSTT độc lập được xem như là một quy trình mà tại đó những nhà điều hành tiền tệ của quốc gia kiểm soát nguồn cung tiền.2 Hội nhập tài chính Nghĩa là dòng vốn được tự do ra vào nền kinh tế, đây là điều khó cưỡng lại trong quá trình hội nhập kinh tế.
Các luồn vốn vào và ra như các khoản đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI, FPI… 1.3 Ổn định tỷ giá. Trong một hệ thống tỷ giá hối đoái cố định, tỷ giá hối đoái hoặc được giữ không đổi hoặc chỉ được cho phép giao động trong một phạm vi rất hẹp. Nếu một tỷ giá hối đoái bắt đầu giao động quá nhiều, các Chính phủ có thể can thiệp để duy trì tỷ giá hối đoái trong vòng giới hạn của phạm vi này. Như vậy tỷ giá hối đoái cố định, đôi khi còn được gọi là tỷ giá hối đoái neo, là một kiểu chế độ tỷ giá hối đoái trong đó giá trị của một đồng tiền được gắn với giá trị của một đồng tiền khác hay với một rổ các đồng tiền khác, hay với một thước đo giá trị khác, như vàng chẳng hạn.
Khi giá trị tham khảo tăng hoặc giảm, thì giá trị của đồng tiền neo vào cũng tăng hoặc giảm. Đồng tiền sử dụng chế độ tỷ giá hối đoái cố định gọi là đồng tiền cố định. Tỷ giá hối đoái cố định là một lựa chọn chế độ tỷ giá ngược hoàn toàn với tỷ giá hối đoái thả nổi.2 ĐỊNH LƯỢNG CÁC CHỈ SỐ CỦA BỘ BA BẤT KHẢ THI. Hiện tồn tại rất nhiều mô hình đo lường các chỉ số bộ bất khả thi song tất cả chúng điều có những ưu và nhược điểm khác nhau, thuận lợi và khó khăn riêng.
Chúng ta điểm qua một số các mô hình của các tác giả sau: - Rose (1996): Đề xuất đo lường độc lập tiền tệ bằng cách xem phản ứng của tỷ giá đối với thay đổi trong sản lượng, lãi suất và cung tiền. Tuy nhiên nhược điểm của phương pháp này là khó phân biệt được trên thực tế đâu là cú sốc cung và cầu tiền tệ. 123doc 6 - Obstfeld, Jay C.Shambaugh và Taylor (2005) đề xuất đo lường chỉ số MI bằng cách tiếp cận dựa trên lãi suất danh nghĩa ngắn hạn. - Joshua Aizenman, Menzie D.Chinn và Hiro Ito (2010) xây dựng cách đo lường chỉ số MI, theo đó mức độ độc lập tiền tệ được đo lường dựa trên tương quan tuyến tính theo năm của lãi suất hàng tháng giữa quốc gia sở tại và quốc gia cơ sở.
Trong khuôn khổ bài viết, tác giả định lượng chỉ số độc lập tiền tệ và chỉ số ổn định tỷ giá theo mô hình của Joshua Aizenman, Menzie D.Chinn và Hiro Ito (2008) Riêng chỉ số đo lường mức độ hội nhập tài chính (KAOPEN) đo lường chúng rất khó khăn mặc dù đã có rất nhiều phương pháp nhưng hầu như không đo lường một cách đầy đủ mức độ phức tạp của kiểm soát tài khoản vốn. Do đó mà đo lường chỉ số này còn nhiều thách thức cho các nhà nghiên cứu. Một số phương pháp biết đến như: - Quinn (1997, 2003): Đo lường thông qua cường độ kiểm soát vốn. - Lane & Milesi-Ferretti (2006): Tác giả đưa ra ý kiến rằng để biết mức độ kiểm soát vốn trên thực tế một quốc gia đang đeo đuổi ta cần đo lường số lượng nợ và tài sản nước ngoài trong cán cân thanh toán.
- Chinn & Ito (2007-2010) đưa ra đề xuất sử dụng độ mở tài khoản vốn KAOPEN để đo lường mức độ hội nhập tài chính. KAOPEN dựa trên các thông tin báo cáo thường niên về cơ chế tỷ giá và những hạn chế ngoại hối do IMF phát hành. Chỉ số Chinn-Ito biến thiên giữa 0 và 1. Giá trị của chỉ số này cao hơn chỉ ra rằng một đất nước cởi mở hơn với các giao dịch vốn xuyên quốc gia.
Chỉ số này được tính toán dựa trên nhóm 171 quốc gia (không bao gồm Mỹ) cho giai đoạn từ 1970 đến 2010.1 Đo lường chỉ số KAOPEN của VN theo tính toán của ACI.40 - Hutchison, Sengupta và Singh (2010): Theo đó độ mở của tài khoản vốn trên thực tế đó là tỷ số dòng tài chính xuyên quốc gia trong cán cân thanh toán quốc tế so với GDP. Trong khuôn khổ bài viết, tác giả định lượng theo mô hình của Hutchison, Sengupta và Singh (2010).1 Định lượng chỉ tiêu Độc lập tiền tệ (MI) theo ACI (2008). Joshua Aizenman, Menzie D.Chinn và Hiro Ito đề xuất đo MI bằng sự tương quan tính theo năm của lãi suất hàng tháng giữa quốc gia chủ nhà “Home country” và quốc gia so sánh “Base country” Trong đó: i: Quốc gia chủ nhà; Trong bài viết này áp dụng cho VN. j: Quốc gia so sánh; Trong bài viết này áp dụng cho Mỹ.
Nước so sánh là nước có CSTT liên kết, tương đồng (và có thể là quốc gia giao thương nhiều) với nước chủ nhà. Những nước làm cơ sở so sánh như: Mỹ, Anh, Pháp, Úc, Bỉ, Nam Phi, Malaisia. Lãi suất trên thị trường tiền tệ được sử dụng trong phương pháp này. MI biến thiên trong khoảng 0 và 1; MI càng tiến về đến 1 thì chứng tỏ CSTT càng độc lập và ngược lại.
123doc 8 Nhóm tác giả ACI cũng đưa ra kết quả tính toán chỉ số này cho hơn 170 quốc gia dựa trên dữ liệu của IMF là lãi suất chiết khấu và lãi suất tiền gửi hàng tháng của quốc gia so sánh và quốc gia chủ nhà.2: Đo lường chỉ số MI của VN theo tính toán của ACI.46 Kết quả cho thấy CSTT của VN ở mức độ trung bình so với CSTT của Mỹ.2 Định lượng chỉ tiêu ổn định tỷ giá hối đoái (ERS) theo ACI (2008). Để đo lường ERS ta sử dụng độ lệch chuẩn tỷ giá hối đoái được tính theo năm dựa trên dữ liệu của tỷ giá hối đoái hàng tháng của nước chủ nhà và nước so sánh. Chỉ số ERS được xác định bằng: là giá trị tuyệt đối của tỷ giá hối đoái trong tháng so với tháng 12 của năm được tính toán. là độ lệch chuẩn hàng năm của tỷ giá hối đoái tính theo tháng giữa nước chủ nhà và đất nước so sánh.
ERS biến thiên trong khoảng 0 và 1; ERS càng tiến về đến 1 thì mức độ ổn định của tỷ giá nước đang so sánh so với nước chủ nhà và ngược lại. Theo ACI nếu chỉ đơn thuần áp dụng công thức này thì ERS có xu hướng rất nhỏ. Điều này có thể là nó sẽ phóng đại mức độ linh hoạt của tỷ giá đặc biệt là khi tỷ giá giao động trong biên độ hẹp nhưng lại không được định giá lại thường xuyên. 123doc 9 Do đó ACI đã áp dụng một ngưỡng giá trị cho tỷ giá đó là nếu mức độ giao động hàng tháng của tỷ giá hối đoái trong biên độ ± 0.33 thì tỷ giá được xem là cố định và ERS =1.
Kết quả tính toán của ACI về chỉ số ERS như sau: Bảng 1.3: Đo lường chỉ số ERS của VN theo tính toán của ACI.46 Theo tính toán của ACI thì chế độ tỷ giá của VN giao động trong biên độ hẹp, gần như cố định. Tuy nhiên ERM biến động từ năm 2007 trở đi, VND mất giá so với USD. Dữ liệu tính toán của ACI dựa trên tỷ giá hàng tháng USD/VND từ nguồn IMF là tỷ giá BQLNH do NHNN công bố.3 Định lượng chỉ tiêu mức độ hội nhập tài chính (KAOPEN) theo Hutchison, Sengupta và Singh (2010).