Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH ỨNG PHÓ VỚI VẤN ĐỀ GIẢM SINH 1. Một số vấn đề lý luận về giảm sinh 1. Một số khái niệm Mức sinh Mức sinh là mức độ tái sản suất con người của một dân số trong một khoảng thời gian nhất định. Có nhiều chỉ tiêu đo lường mức sinh, trong đó các chỉ tiêu phổ biến nhất là: mức sinh thô (CBR), tổng tỷ suất sinh (TFR), và số con trung bình mỗi phụ nữ khi hết tuổi sinh đẻ (mức sinh đoàn hệ).
Tổng tỷ suất sinh Tổng tỷ suất sinh (TFR) trong khoảng thời gian nhất định là số con trung bình của đoàn hệ phụ nữ giả định nếu trải qua mức sinh tương ứng với tổng số con sinh ra trung bình trong khoảng thời gian này của các nhóm phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ (từ 15 đến 49 tuổi). Mức sinh thay thế là mức sinh sao cho mỗi phụ nữ có trung bình 2 con còn sống cho đến tuổi sinh đẻ. Điều này tương ứng với TFR bằng khoảng 2,1 con. TFR thấp hơn 1,3 được coi mức sinh thay thế rất thấp (lowest-low fertility).
Quá độ dân số Quá độ dân số là tình hình của một dân số trong đó sinh và chết hoặc ít nhất là một nhân tố đã rời bỏ xu hướng truyền thống để giảm dần. Theo đó, lý thuyết quá độ dân số mô tả và giải thích sự chuyển đổi mang tính quy luật của các dân số từ mức chết và mức sinh cùng cao sang mức chết và mức sinh thấp do tác động của quá trình hiện đại hoá và công nghiệp hoá. Do mức chết thường giảm trước mức sinh nên dẫn đến giai đoạn có mức sinh cao hơn mức chết và quy mô dân số tăng nhanh [32]. Chính sách dân số Có nhiều khái niệm khác nhau về chính sách dân số với cùng nội dung cơ bản.
Chẳng hạn, theo cuốn Bách khoa thư về dân số của nhà xuất bản Macmillan “chính sách dân số có thể được định nghĩa là việc xây dựng hoặc sửa đổi thể chế và/hoặc chương trình cụ thể có chủ đích của các chính phủ nhằm tác động trực tiếp 14 hoặc gián tiếp đến biến đổi đặc trưng nhân khẩu học, chủ yếu bao gồm các quá trình dân số như mức sinh, mức chết, và di cư” [42]. Các chính sách dân số cụ thể trong thực thế cũng khá đa dạng và có thể phân loại chủ yếu qua các tiêu chí: khía cạnh dân số nào, trực tiếp hay gián tiếp, riêng biệt hay kết hợp, can thiệp hay không can thiệp, quốc gia hay quốc tế. Pháp lệnh Dân số ban hành năm 2003 (và được sửa đổi năm 2008, hợp nhất năm 2013) tuy không trực tiếp giải thích thế nào là chính sách dân số, nhưng có khái niệm “Công tác dân số là việc quản lý và tổ chức thực hiện các hoạt động tác động đến quy mô dân số, cơ cấu dân số, phân bố dân cư và nâng cao chất lượng dân số” [9]. Chính sách sinh đẻ và kế hoạch hoá gia đình Chính sách dân số thường bao gồm chính sách sinh đẻ.
Trong nghiên cứu này, chính sách sinh đẻ được hiểu là những nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt nam (Đảng CSVN), những chiến lược, quy định về mặt pháp lý, những chương trình quản lý, điều hành và những hoạt động khác của chính phủ hay các cơ quan quản lý nhà nước trực tiếp nhằm thay đổi, điều chỉnh hành vi sinh đẻ hoặc mức sinh trong dân số Việt Nam. Kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ) là các biện pháp để các cá nhân và các cặp vợ chồng chủ động đạt được số con mong muốn cũng như khoảng cách và thời gian sinh con [95]. KHHĐG được thực hiện chủ yếu thông qua sử dụng các biện pháp tránh thai và điều trị vô sinh không tự nguyện. Theo Pháp lệnh Dân số ban hành năm 2013, “Kế hoạch hóa gia đình là nỗ lực của Nhà nước, xã hội để mỗi cá nhân, cặp vợ chồng chủ động, tự nguyện quyết định số con, thời gian sinh con và khoảng cách giữa các lần sinh nhằm bảo vệ sức khỏe, nuôi dạy con có trách nhiệm, phù hợp với chuẩn mực xã hội và điều kiện sống của gia đình” [95].
Như vậy, chính sách KHHGĐ chính là nội dung cơ bản của chính sách sinh đẻ. Lý thuyết về quá độ dân số và giảm sinh Quá độ dân số và mức sinh Năm 1929, lý thuyết quá độ dân số ra đời gắn với tên tuổi của nhà dân số học người Mỹ Warran Thompson - người đã quan sát sự thay đổi mức sinh và mức chết ở nhiều quốc gia trong khoảng thời gian 200 năm. Lý thuyết này sau đó được phát 15 triển bởi rất nhiều học giả và có nhiều phiên bản khác nhau. Về cơ bản, lý thuyết quá độ dân số mô tả và giải thích sự chuyển đổi mang tính quy luật của các dân số từ mức chết và mức sinh cùng cao sang mức chết và mức sinh thấp do tác động của quá trình hiện đại hoá và công nghiệp hoá.
Do mức chết thường giảm trước mức sinh nên dẫn đến giai đoạn có mức sinh cao hơn mức chết và quy mô dân số tăng nhanh [32]. Những dự báo dựa trên mô hình lý thuyết nhân khẩu học cổ điển cho rằng mức sinh sẽ tăng giảm xung quanh mức thay thế trong giai đoạn công nghiệp hoá trên quy mô toàn cầu. Tuy nhiên, những dự báo này đã bị phủ định bởi sự bùng nổ của thế hệ hậu chiến (Baby Boomers), và ngay sau đó là hiện tượng tỷ lệ sinh giảm sâu so với tỷ lệ tử ở nhiều nước Tây Âu. Khi các nước Scandinavian và khối các nước nói tiếng Đức trải qua giai đoạn mức sinh giảm xuống dưới mức thay thế, mô hình lý thuyết biến đổi dân số II lập luận rằng xu hướng này là kết quả của chuỗi thay đổi từ chủ nghĩa cá nhân sang chủ nghĩa thế tục ở các quốc gia công nghiệp [94].
Lý thuyết này cũng dự đoán rằng suy giảm mức sinh sẽ diễn ra cùng với sự biến đổi của mô hình gia đình hậu hiện đại như tăng tỷ lệ sống chung trước hôn nhân, cha mẹ đơn thân hay ly hôn. Đầu thập niên 90, tổng tỷ suất sinh (TFR) ở khu vực này giảm xuống mức thấp nhất trong lịch sử (1,3), thấp hơn rất nhiều so với khu vực Đông Âu và Nam Âu [62]. Cú sốc tiếp theo với giới nghiên cứu là mức sinh giảm sâu ngoài sức tưởng tượng ở các nước Đông Á vào đầu những năm 2000 (thấp hơn 1,3). Các khuôn khổ lý thuyết vào thời điểm đó được xem là đã thất bại trong việc dự đoán quá trình quá độ dân số ở Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan.
Nhiều học giả đã chỉ ra rằng không nhất thiết phải chờ đến khi xã hội được công nghiệp hoá, hiện đại hoá mức sinh mới giảm [25]. Điều kiện sống làm chuyển đổi nhận thức của các cặp vợ chồng đối với lợi ích của sinh đẻ và ảnh hưởng lớn đến nhu cầu có con và điều này xảy ra trước thời kỳ công nghiệp hoá. Cũng theo Becker những động cơ hạ thấp mức sinh trong giai đoạn này luôn được ẩn giấu [25]. Mức sinh cũng giảm trong bối cảnh nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong công tác tuyên truyền, vận động người dân và cung cấp những dịch vụ kế hoạch hoá gia đình thuận lợi.
Mức sinh ở một số quốc gia nghèo và đang phát triển có thể giảm 16 xuống trước khi bước vào giai đoạn công nghiệp hoá và hiện đại hoá mà Việt Nam là một ví dụ điển hình. Các yếu tố tác động đến mức sinh Các nhà dân số học và xã hội học dân số đặc biệt chú ý đến các biến số trung gian có ảnh hưởng đến mức sinh. Kingsley Davis và Judith Blake đã trình bày một khung phân tích trong đó các biến số trung gian ảnh hưởng đến mức sinh được chú trọng. Theo đó, các nhân tố muốn ảnh hưởng đến mức sinh đều phải tác động thông qua 11 biến số trung gian [58].
Sau đó, khung phân tích của Davis và Blake đã trở thành “cuốn cẩm nang” cho các nghiên cứu phân tích ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội đến mức sinh. Năm 1978, Bongaarts phát triển lược đồ này và đưa ra mô hình gồm 7 yếu tố quyết định mức sinh gần sát và tổng kết rằng sự khác nhau về mức sinh chủ yếu chịu ảnh hưởng của bốn biến số cơ bản là: Tỷ lệ phụ nữ kết hôn; Sử dụng các biện pháp tránh thai; Nạo phá thai; Vô sinh không tự nguyện (ví dụ như tác động tránh thai của việc cho con bú và nuôi con bằng sữa mẹ sau khi sinh). Bongaarts đã chứng minh dao động của mức sinh ở những dân số có mức sinh cao gần với mức sinh tự nhiên chủ yếu là do việc nuôi con bằng sữa mẹ [26]. Mức sinh được điều chỉnh và kiểm soát phần nào đó nhờ vào phương tiện tránh thai tự nhiên này.
Bongaarts cũng phát hiện sự kết hợp các biến số như thực hiện tránh thai, gia tăng nạo phá thai và kết hôn muộn là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến giảm sinh ở nhiều quốc gia, trong đó có cả trường hợp Việt Nam [49]. Mô hình của Bongaarts xây dựng năm 1978 tuy vẫn có thể áp dụng để phân tích khi mức sinh gần mức thay thế hoặc thấp hơn nhưng không còn nhiều ý nghĩa ở những dân số có trình độ phát triển kinh tế trung bình trở lên, nơi nhu cầu tránh thai và nạo phá thai dễ dàng được đáp ứng. Vì vậy, Bongaarts đã xây dựng một mô hình ước lượng mức sinh từ số con mong muốn cùng với 6 nhóm yếu tố tác động bao gồm ba yếu tố làm tăng mức sinh (sinh con ngoài ý muốn; sinh thay thế con bị chết; sở thích có con trai/con gái) và ba chỉ số làm giảm mức sinh (tăng tuổi phụ nữ khi sinh con; vô sinh; những yếu tố cạnh tranh với sinh con) [27;28]. Trong đó những yếu tố cạnh tranh với sinh con là tập hợp những lý do ngăn cản phụ nữ đạt được số con mong muốn như: theo đuổi sự nghiệp, giáo dục bậc cao, không có chồng, chi 17 phí chăm nuôi con đắt đỏ, chính sách hạn chế sinh đẻ… Mô hình của Boogaarts đã được áp dụng trong nhiều nghiên cứu về mức sinh và tỏ ra khá chính xác, đặc biệt là các phân tích mức sinh trung bình và thấp ở một số nước phát triển cũng như các quốc gia đang phát triển [75].
Hiện tượng trì hoãn sinh con diễn ra ở hầu hết các nước đã công nghiệp hoá. Ở Nhật Bản, hiện tượng trì hoãn sinh con tăng nhanh sau năm 2000 và hiện tượng này còn diễn ra nhanh hơn ở Hàn Quốc.