CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ 1. KHÁI NIỆM TỶ GIÁ 1. Khái niệm tỷ giá hối đoái Tỷ giá hối đoái giữa hai nước là mức giá tại đó đồng tiền của một nước có thể biểu hiện qua đồng tiền của nước khác, và là tương quan sức mua giữa đồng nội tệ và đồng ngoại tệ. Tỷ giá hối đoái một mặt nó phản ánh sức mua của đồng nội tệ, mặt khác nó thể hiện quan hệ cung cầu ngoại hối.
Tỷ giá hối đoái danh nghĩa song phương (NER) Là giá cả của một đồng tiền so với một đồng tiền khác mà chưa đề cập đến chênh lệch lạm phát giữa hai nước. Vì vậy, đối với một quốc gia, khi tỷ giá danh nghĩa tăng hay giảm có thể không đồng nghĩa với sự tăng hay giảm sức cạnh tranh của quốc gia này. Hiện nay trên thế giới có hai phương pháp niêm yết tỷ giá là phương pháp trực tiếp và phương pháp gián tiếp. Phương pháp trực tiếp : là phương pháp biểu hiện một đơn vị ngoại tệ bằng các đơn vị nội tệ.
Ví dụ: Tại Việt Nam, ta có tỷ giá USD/VND = 20.058, giá của 1 đôla Mỹ (USD) tính theo đồng Việt Nam (VND) là 20. Phương pháp gián tiếp : là giá của một đơn vị nội tệ tính theo số đơn vị ngoại tệ. Ví dụ : Tại thị trường hối đoái London, ta có tỷ giá GBP/USD = 1,6191, nghĩa là yết giá 1 bảng Anh=1,6191 đôla Mỹ Theo thông lệ quốc tế chỉ có năm loại đồng tiền mạnh trên thế giới, bao gồm GBP, AUD, NZD, EUR, SDR (quyền rút vốn đặc biệt), niêm yết giá trực tiếp. USD yết giá trực tiếp với mọi đồng tiền trừ 5 đồng tiền trên.
Tất cả các loại tiền khác ngoài sáu đồng tiền nêu trên thì phải niêm yết giá gián tiếp. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Tỷ giá danh nghĩa đa phương (NEER) NEER không phải là tỷ giá, nó là một chỉ số được tính bằng cách chọn ra một số loại ngoại tệ đặc trưng, tạo nên một rổ tiền tệ, và tính tỷ giá trung bình các tỷ giá danh nghĩa của các đồng tiền có tham gia vào rổ tiền tệ với tỷ trọng tỷ giá tương ứng. Tỷ trọng của các tỷ giá song phương có thể lấy tỷ trọng thương mại của nước có đồng nội tệ đem tính NEER so các nước có đồng tiền trong rổ được chọn.
Gọi t = 0 là kỳ gốc, (t = 0,1,2, …i) là các thời kỳ nghiên cứu. E01, E02, … E0n, là tỷ giá danh nghĩa của đồng nội tệ với đồng ngoại tệ thứ n trong rổ tiền tệ tại thời điểm t = 0 (kỳ gốc). Ei1, Ei 2, … Ein, tỷ giá danh nghĩa của đồng nội tệ với đồng ngoại tệ thứ n trong rổ tiền tệ tại thời điểm t = i. wn là tỷ trọng thương mại của đồng tiền các nước.
Nếu so sánh tỷ giá danh nghĩa so với kỳ gốc, ta có: + Tại thời kỳ t=0: Chỉ số tỷ giá danh nghĩa của đồng nội tệ với ngoại tệ thứ n là e0n = E0n / E0n = 1. + Tại thời kỳ t=i: Chỉ số tỷ giá danh nghĩa của đồng nội tệ với ngoại tệ thứ n là ein = Ein/ E0n. Ta có công thức tính tỷ giá danh nghĩa đa phương (NEER) như sau: n NEERi eij. Tỷ giá hối đoái thực Là tỷ giá danh nghĩa1 được điều chỉnh bởi tỷ lệ lạm phát giữa trong nước và nước ngoài, do đó nó là chỉ số phản ánh tương quan sức mua giữa nội tệ và ngoại tệ.
Tỷ giá thực thay đổi đồng nghĩa với sự thay đổi sức cạnh tranh thương mại quốc tế 1 Có hai phương pháp niêm yết tỷ giá - phương pháp yết giá trực tiếp: ngoại tệ là đồng tiền yết giá, nội tệ là đồng tiền định giá; phương pháp yết giá gián tiếp: nội tệ là đồng tiền yết giá, ngoại tệ là đồng tiền định giá. Trong suốt luận văn này, tác giả sử dụng phương pháp yết giá trực tiếp để tính toán. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 giữa các quốc gia. Vì thế có thể xem tỷ giá thực là thước đo sức cạnh tranh trong mậu dịch quốc tế của một quốc gia so với một quốc gia khác.
Tỷ giá thực song phương bao gồm 2 loại là: Tỷ giá thực song phương ở trạng thái tĩnh và ở trạng thái động. Tỷ giá thực song phương ở trạng thái tĩnh Tỷ giá thực song phương được xét tại một thời điểm. Ta có công thức tính như sau: P * E. P P Trong đó: er: Tỷ giá thực, biểu diễn dạng chỉ số.
E: Tỷ giá danh nghĩa, là số đơn vị nội tệ trên một đơn vị ngoại tệ P*: Mức giá ở nước ngoài bằng ngoại tệ. P: Mức giá ở trong nước bằng nội tệ. Trong công thức trên, tử số là giá cả hàng hóa được quy về đồng nội tệ và đem chia cho mẫu số là giá hàng hóa trong nước, cũng được tính bằng nội tệ. Vì thế tỷ giá thực là một chỉ số so sánh mức giá nước ngoài so với mức giá trong nước.
Nếu er = 1, ta nói rằng đồng tiền trong nước và đồng ngoại tệ có ngang giá sức mua. Nếu er >1, đồng nội tệ được định giá thực thấp, đồng nội tệ mua được ít hàng hóa hơn ở nước ngoài so với trong nước. Khi đồng nội tệ định giá thực thấp, về lý thuyết sẽ khuyến khích xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu. Nếu er <1, đồng nội tệ được định giá thực cao, đồng nội tệ sẽ mua được nhiều hàng hóa hơn ở nước ngoài so với trong nước.
Do đó, ngược lại với trường hợp trên, đồng nội tệ định giá cao sẽ hạn chế xuất khẩu và tăng nhập khẩu. Tỷ giá thực song phương ở trạng thái động Hiện nay không có quốc gia nào tính toán và công bố giá của một rổ hàng hóa đồng nhất về chủng loại, mẫu mã và chất lượng, thay vào đó họ chỉ công bố chỉ số giá tiêu dùng (CPI), cho nên tỷ giá thực ở trạng thái tĩnh chỉ mang ý nghĩa lý thuyết. Vì vậy, người ta sử dụng tỷ giá ở trạng thái động để tính toán sự vận động của tỷ giá thực LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 từ thời kỳ này sang thời kỳ khác thông qua việc điều chỉnh tỷ giá danh nghĩa với chênh lệch lạm phát giữa hai quốc gia có đồng tiền đem so sánh.100% Tại thời điểm t: CPI t0 Trong đó: 0 - et là chỉ số tỷ giá danh nghĩa thời điểm t so với thời điểm 0. 0 - ert là chỉ số tỷ giá thực thời điểm t so với thời điểm 0.
0* - CPI t là chỉ số giá ở nước ngoài thời điểm t so với thời điểm 0. 0 - CPI t là chỉ số giá ở trong nước thời điểm t so với thời điểm 0. Mối quan hệ giữa tỷ giá thực và tỷ giá danh nghĩa: Với các yếu tố khác không đổi và tỷ lệ lạm phát trong nước và nước ngoài là như nhau, tỷ giá danh nghĩa tăng làm cho tỷ giá thực tăng. Điều này hàm ý, nếu giá hàng hóa không co giãn trong ngắn hạn, khi phá giá nội tệ sẽ giúp cải thiện sức cạnh tranh của thương mại quốc tế.
Đây là một trong những nội dung quan trọng của chính sách tỷ giá. Tỷ giá thực đa phương (REER) Tỷ giá thực song phương chỉ cho chúng ta biết được sự lên giá hay xuống giá của đồng nội tệ so với một đồng ngoại tệ. Ngày nay, quan hệ thương mại là đa phương, một nước có quan hệ buôn bán với rất nhiều nước trên thế giới. Vấn đề được đặt ra là tại một thời điểm nhất định làm sao có thể biết được đồng nội tệ lên giá hay giảm giá so với các đồng tiền của các quốc gia khác có quan hệ mậu dịch, hay nói cách khác là làm sao để có thể biết được tương quan sức mua hàng hóa của đồng nội tệ với các đồng ngoại tệ để làm cơ sở đánh giá tác động của tỷ giá đối với cán cân thương mại của quốc gia? Để có cái nhìn toàn diện hơn về vị thế cạnh tranh của hàng hóa trong nước với các đối tác thương mại khác người ta dùng tỷ giá thực đa phương.
Tỷ giá thực đa phương bằng tỷ giá danh nghĩa đa phương đã được điều chỉnh bằng tỷ lệ lạm phát ở trong nước với tất cả các nước trong rổ tiền tệ. Do đó, nó phản LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 ánh tương quan sức mua giữa nội tệ với tất cả các đồng tiền còn lại. Để tính được tỷ giá thực đa phương (REER) ta tiến hành một số bước: + Bước 1: Tính tỷ giá tỷ giá danh nghĩa đa phương (NEER) + Bước 2: Tính chỉ số lạm phát trung bình của tất cả các đồng tiền trong rổ tiền tệ theo tỷ trọng quan hệ thương mại của mỗi nước. + Bước 3: Tính REER theo công thức: CPI i*w n CPI i*w REERi NEERi.
KHÁI NIỆM CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ VÀ CHẾ ĐỘ TỶ GIÁ 1. Chính sách tỷ giá Là những hoạt động của Chính phủ mà đại diện là là NHTW, thông qua một chế độ tỷ giá nhất định hay còn gọi là cơ chế điều hành tỷ giá và hệ thống các công cụ can thiệp nhằm duy trì một mức tỷ giá cố định hay tác động đến tỷ giá biến động đến một mức cần thiết phù hợp với mục tiêu chính sách kinh tế quốc gia. Chính sách tỷ giá là một bộ phận hữu cơ và quan trọng đặc biệt trong chính sách quản lý ngoại hối và chính sách quản lý kinh tế vĩ mô. Về cơ bản, chính sách tỷ giá hối đoái tập trung chú trọng vào hai vấn đề lớn là : vấn đề lựa chọn chế độ tỷ giá hối đoái là cơ chế vận động của tỷ giá hối đoái và vấn đề điều chỉnh tỷ giá hối đoái.
Chính sách tỷ giá mặc dù có những đặc thù riêng, song chính sách tỷ giá có vị trí như là một bộ phận quan trọng của chính sách tiền tệ - tài chính của quốc gia. Vì vậy, việc định hướng điều chỉnh của chính sách tỷ giá có ảnh hưởng đến khía cạnh kinh tế vĩ mô khác như: ngoại thương, nợ nước ngoài, lạm phát. Do đó, hệ thống mục tiêu và nội dung cơ bản của chính sách tỷ giá phải xuất phát từ định hướng phù hợp với các mục tiêu và nội dung cơ bản của chính sách tiền tệ ở từng giai đoạn. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Chế độ tỷ giá Là một bộ phận cấu thành chính sách tỷ giá, nó là tập hợp các quy tắc, cơ chế xác định và điều tiết tỷ giá của một quốc gia.