CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ TIỀN LƯƠNG VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN LƯƠNG 1.1 Khái niệm và bản chất của tiền lương Tiền lương không chỉ là phạm trù kinh tế mà còn là yếu tố hàng đầu của các chính sách xã hội liên quan trực tiếp đến đời sống xã hội. Có nhiều quan niệm khác nhau về tiền lương phụ thuộc vào các thời kỳ khác nhau và góc độ nhìn nhận khác nhau. Theo quan niệm của chủ nghĩa Mác: “Tiền lương là một phần của thu nhập quốc doanh mà Nhà nước xã hội chủ nghĩa phân phối cho người lao động làm việc trong khu vực nền kinh tế quốc dân dưới hình thức tiền tệ căn cứ vào số lượng và chất lượng lao động của mỗi người đã cống hiến”. Ở nước ta trong thời kỳ bao cấp, chúng ta đã từng quan niệm rằng: “Tiền lương là một bộ phận của thu nhập quốc dân được Nhà nước phân phối có kế hoạch cho người lao động căn cứ vào số lượng và chất lượng của mỗi người đã cống hiến”.
Theo quan niệm này, tiền lương mang nặng tính chất bao cấp, bình quân, dàn đều. Nó chưa đảm bảo được nguyên tắc phân phối tiền lương theo lao động, chưa khuyến khích nâng cao trình độ chuyên môn và tính chủ động sáng tạo của người lao động. Kết quả là đã không gắn được lợi ích của người lao động với thành quả mà họ đã sáng tạo ra,. Khi chuyển nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thị trường, mọi người được tự do mua, bán sức lao động của mình, vì thế sức lao động được nhìn nhận như một hàng hoá và tiền lương chính là giá cả của sức lao động.
Lúc này, Đảng và Nhà nước ta đã nhận định “Tiền lương là giá cả của sức lao động, được hình thành qua sự thoả thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động thông qua hợp đồng, phù hợp với các quan hệ lao 9 z động của nền kinh tế thị trường đang trong quá trình hoàn thiện theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Điều đó có nghĩa là tiền lương là phải được trả theo đúng giá trị sử dụng lao động, phải coi tiền lương như một động lực thúc đẩy từng cá nhân người lao động hăng say làm việc, nhưng phải tránh tính chất bình quân. Có thể cùng trình độ chuyên môn, cùng bậc thợ, nhưng tiền lương lại rất khác nhau do hiệu quả sản xuất khác nhau hay do giá trị sức lao động khác nhau. Quan điểm mới này về tiền lương đã tạo cho việc trả lương đúng với giá trị sức lao động, tiền tệ hoá tiền lương triệt để hơn, xoá bỏ tính phân phối cấp phát và trả lương bằng hiện vật.
Đồng thời nó đã khắc phục quan điểm coi nhẹ lợi ích cá nhân như trước kia, tiền lương phải được sử dụng đúng vai trò đòn bẩy kinh tế của nó kích thích người lao động gắn bó hăng say với công việc. Dưới góc độ nghiên cứu khác thì tiền lương được quan niệm như sau: * Dưới góc độ kinh tế Tiền lương là biểu hiện bằng tiền của tất cả sức lao động, nó được hình thành trên cơ sở giá trị sức lao động thông qua sự thoả thuận mua bán giữa người có sức lao động với người thuê mướn, sử dụng sức lao động đồng thời chịu sự chi phối của các quy luật kinh tế trong đó có quy luật cung - cầu. Mặt khác, tiền lương phải bao gồm đầy đủ các yếu tố cấu thành để đảm bảo nguồn thu nhập, nguồn sống chủ yếu của bản thân và gia đình người lao động, là điều kiện để người hưởng lương hoà nhập vào đời sống xã hội. * Dưới góc độ pháp lý Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO ) thì: “Tiền lương là sự trả công và sự thu nhập, bất luận tên gọi, cách tính thế nào, mà có thể biểu hiện bằng tiền mặt và được ấn định bằng thoả thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động hoặc bằng pháp luật, pháp quy quốc gia, do người sử dụng lao 10 z động trả cho người lao động theo một hợp đồng lao động viết hay bằng miệng, cho một công việc đã được thực hiện hay sẽ phải làm.” Theo quy định của Bộ luật lao động Việt Nam, “Tiền lương của người lao động do hai bên thoả thuận trong hợp đồng lao động và được trả theo năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả công việc.
Mức lương của người lao động không được thấp hơn mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định.” Tóm lại, dưới góc độ pháp lý, tiền lương được hiểu là số tiền mà người sử dụng lao động phải trả cho người lao động căn cứ vào năng suất, chất lượng, hiệu quả công việc, điều kiện lao động thực tế của người lao động theo quy định của pháp luật hoặc theo sự thoả thuận hợp pháp của hai bên trong khi giao kết hợp đồng lao động. Các nguyên tắc cơ bản của tiền lương - Thứ nhất, trả lương phải trên cơ sở sự thỏa thuận giữa người lao động với người sử dụng lao động không được thỏa thuận thấp hơn mức lương ấn định của Nhà nước. Nguyên tắc này làm cơ sở cho các bên khi tham gia ký kết hợp đồng lao động. Mặt khác pháp luật quy định mức lương tối thiểu là bắt buộc các bên thỏa thuận không được thấp hơn giới hạn này nhằm mục đích tôn trọng cái riêng tư của các chủ thể trong quan hệ lao động, đảm bảo tính hợp pháp của pháp luật để đảm bảo sự linh hoạt trong việc trả lương khi trong điều kiện lao động khác nhau, khu vực lao động khác nhau, tính chất công việc khác nhau thì tiền lương sẽ khác nhau và tránh được sự lạm dụng sức mua của người sử dụng lao động, đảm bảo quyền lợi cho người lao động trước sức ép của nền kinh tế thị trường, đảm bảo nhu cầu tối yếu cho người lao động.
- Thứ hai, tiền lương phải được trả theo năng suất, chất lượng lao động và hiệu quả công việc. Đây là nguyên tắc làm cơ sở cho việc hạ giá thành sản phẩm, tăng tích 11 z lũy để tái sản xuất mở rộng, tăng năng suất lao động là điều kiện để phát triển sản xuất. Mặt khác, tiền lương là biểu hiện của giá trị sức lao động và nó chịu sự chi phối bởi năng suất lao động và các quy luật cung cầu về sức lao động trên thị trường, nên khi tính lương trả cho người lao động, người sử dụng lao động phải tính đến năng suất chất lượng và hiệu quả công việc. - Thứ ba, tiền lương phải được trả trực tiếp, đầy đủ, đúng thời hạn và tại nơi làm việc.
Tiền lương là một phần thu nhập chủ yếu để đảm bảo sinh hoạt và cuộc sống của người lao động cũng như gia đình của họ. Nguyên tắc này đặt ra nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích tối đa của người lao động việc trả lương và hạn chế được nhiều nguyên nhân như: Trả lương chậm, khấu trừ tiền lương sai quy định, trả lương không đủ, gây khó khăn phiền hà hà cho người lao động. Trong một số trường hợp pháp luật cho phép chủ sử dụng lao động được trả lương thông qua cai thầu, hoặc trung gian, qua ngân hàng.nhằm mục đích quản lý được nguồn thu nhập của người lao động để người lao động thực hiện nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước và không gây phiền hà, khó khăn, nhanh gọn cho cảc các bên trong quan hệ lao động. Như vậy, tiền lương luôn được coi là đối tượng quan tâm hàng đầu của doanh nghiệp và người lao động.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, tiền lương là giá cả cho một loại hàng hóa. Chính vì vậy, tiền lương mà các doanh nghiệp trả cho người lao động theo cơ chế thị trường phải đáp ứng các điều kiện: tiền lương phải thực sự là thước đo cho mỗi phát sinh tại các cơ sở kinh tế và của từng người lao động, nó là đòn bẩy kinh tế, tiền lương không phù hợp, phản ánh sai lệch sức lao động, nó sẽ cản trở tính năng động, sáng tạo của người lao động và kìm hãm sự phát triển của doanh nghiệp của nền kinh tế. Tuy nhiên sức lao động là một loại hàng hóa đặc biệt bởi thuộc tính nảy 12 z sinh giá trị và gắn liền với yếu tố con người, do đó chế độ chính sách về tiền lương do Nhà nước quy định một mặt tôn trọng sự khách quan của các quy luật cung cầu, giá trị trong thị trường, mặt khác phải xuất phát từ yêu cầu là quan tâm tới toàn diện mục đích, động cơ làm việc, các nhu cầu lợi ích kinh tế của người lao động, người sử dụng lao động và của toàn xã hội.3 Chính sách tiền lương 1. Chính sách tiền lương trong điều kiện ở nước ta hiện nay Việt Nam đã đạt được bước tiến quan trọng trong việc xác lập tiền lương tối thiểu nhưng như vậy chưa đủ.
Hệ thống pháp luật và thể chế cho thương lượng tập thể về lương cần được cải thiện và các tiêu chuẩn lao động quốc tế là khuôn khổ và những công cụ hữu hiệu để thực hiện điều này. Chính sách và thể chế xác lập tiền lương cần được cải thiện nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động đang thay đổi và đảm bảo rằng việc hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế khu vực và quốc tế sẽ mang lại lợi ích cho người lao động, doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế Việt Nam. Việt Nam đã và đang thực hiện công cuộc đổi mới, cải cách mạnh mẽ và hoàn thiện cơ chế, chính sách, trong đó có cơ chế, chính sách tiền lương, để phù hợp với thể chế kinh tế thị trường và hội nhập sâu rộng và kinh tế khu vực và toàn cầu. Tại Việt Nam, chỉ khoảng một phần ba số người có việc làm được hưởng lương, khá thấp so với trung bình của thế giới là 50%.
Tuy nhiên, Việt Nam dự kiến sẽ thu hẹp khoảng cách này vì tỷ lệ lao động hưởng lương trong tổng số lao động có việc làm sẽ tăng nhanh trong những thập niên tới. Trong năm 2013, số lao động làm công ăn lương chiếm 34,8% trong tổng số việc làm, tăng cao so với mức 16,8% của năm 1996. “Số người lao động hưởng lương đang tăng nhanh tại các quốc gia đang phát triển ở khu vực châu Á, trong đó có Việt Nam. Do vậy mức lương và sức mua của tiền lương có ảnh hưởng lớn 13 z đối với mức sống”, bà Sandra Polaski, Phó Tổng Giám đốc ILO nhận định.