Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA VÀ CÂN ĐỐI NGÂN SÁCH 1. Lý luận chung về thực hiện chính sách tài khóa và cân đối ngân sách 1. Một số khái niệm a) Chính sách tài khóa : Đã có nghiên cứu về chính sách tài khóa (CSTK), có thể kể đến một trong số đó là nhà kinh tế học người Anh John Maynard Keynes, người đã đặt nền tảng cho tầm quan trọng của kinh tế học vĩ mô với vai trò tích cực của Nhà nước. Trong những năm 1930 của thế kỷ 20, khi nên kinh tế thế giới rơi vào sự khủng hoảng trầm trọng, Keynes đã chứng minh sự cần thiết phải có sự can thiệp của Nhà nước để khắc phục suy thoái, khủng hoảng, hạn chế thất nghiệp và lạm phát, ổn định tăng trưởng kinh tế thông qua công cụ sử dụng chi tiêu của Chính phủ và thu ngân sách để tác động đến nền kinh tế.
Như vậy, CSTK là một công cụ của chính sách kinh tế vĩ mô nhằm tác động vào quy mô hoạt động kinh tế thông qua biện pháp thay đổi chi tiêu hoặc thuế của Chính phủ [Tài liệu tham khảo số 25] Về mặt lý thuyết, chính sách tăng chi tiêu hay cắt giảm thuế làm tăng tổng cầu, qua đó tạo thêm việc làm để đáp ứng mức tổng cầu tăng thêm và làm tăng thu nhập quốc dân. Nếu mức hoạt động kinh tế quá cao, hay nền kinh tế quá nóng, chính phủ có thể cắt giảm chi tiêu hoặc tăng thuế để cắt giảm tổng cầu. Chính sách tài khóa thao túng mức độ tổng cầu trong nền kinh tế để đạt được mục tiêu kinh tế ổn định giá cả, việc làm đầy đủ và tăng trưởng kinh tế. b) Cân đối ngân sách nhà nước : Ngân sách Nhà nước Căn cứ Luật NSNN năm 2015, theo đó Ngân sách nhà nước là tất cả các khoản thu, chi của nhà nước được dự toán và thực hiện trong khoảng thời 9 n gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước.
Như vậy nội dung, điều kiện và hiệu lực của NSNN bao gồm: Nội dung: NSNN là tất cả các khoản thu chi của nhà nước. Điều kiện: NSNN chỉ có hiệu lực khi và chỉ khi được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định. Cơ quan này là đại diện cho ý chí của nhân dân (Quốc hội). Thời gian có hiệu lực: NSNN có hiệu lực trong vòng một năm (ở Việt Nam từ 1/1 đến 31/12).
Mục đích: NSNN là để thực hiện chức năng nhiệm vụ của Nhà nước. Cân đối Ngân sách Nhà nước - Cân đối ngân sách nhà nước là cân đối giữa các nguồn thu mà nhà nước huy động được tập trung vào ngân sách nhà nước trong một năm và sự phân phối, sử dụng nguồn thu đó thỏa mãn nhu cầu chi tiêu của Nhà nước trong năm đó. - Cân đối NSNN phản ánh mối tương quan giữa thu và chi trong một tài khóa. Nó không chỉ là sự tương quan giữa tổng thu và tổng chi mà còn thể hiện sự phân bổ hợp lý giữa cơ cấu các khoản thu và cơ cấu các khoản chi của ngân sách nhà nước.
- Cân đối NSNN là cân đối về phân bổ và chuyển giao nguồn thu giữa các cấp ngân sách, giữa trung ương và địa phương và giữa các địa phương với nhau để thực hiện chức năng và nhiệm vụ được giao. - Cân đối NSNN là một bộ phận quan trọng của chính sách tài khóa, phản ánh sự điều chỉnh mối quan hệ tương tác giữa thu và chi ngân sách nhà nước nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội mà nhà nước đã đề ra trong từng lĩnh vực và địa bàn cụ thể. Nguyên tắc cân đối ngân sách nhà nước Các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác theo quy định của pháp luật được tổng hợp đầy đủ vào cân đối NSNN. 10 n NSNN được cân đối theo nguyên tắc tổng số thu từ thuế, phí, lệ phí phải lớn hơn tổng số chi thường xuyên và góp phần tích lũy ngày càng cao để chi đầu tư phát triển; trường hợp còn bội chi (tổng chi vượt nguồn thu trong dự toán của năm) thì số bội chi phải nhỏ hơn số chi đầu tư phát triển, tiến tới cân bằng thu, chi ngân sách; trường hợp đặc biệt Chính phủ trình Quốc hội xem xét, quyết định.
Trường hợp bội thu ngân sách thì được sử dụng để trả nợ gốc và lãi các khoản vay của ngân sách nhà nước. Nội dung và vai trò của chính sách tài khóa và cân đối ngân sách a) Nội dung và vai trò của CSTK : Nội dung chính của CSTK: là các công cụ về thuế, công cụ chi tiêu Chính phủ thực hiện trong kinh tế vĩ mô. Công cụ thuế: Có nhiều loại thuế khác nhau như thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế bất động sản, v. nhưng có thể chia ra làm hai loại là thuế trực thu và thuế gián thu.
Thuế trực thu là thuế đánh trực tiếp lên tài sản hoặc thu nhập của người dân. Thuế gián thu là thuế đánh lên giá trị của hàng hóa, dịch vụ trong lưu thông thông qua các hành vi sản xuất và tiêu dùng của nền kinh tế. Công cụ chi tiêu Chính phủ: Các chính sách chi tiêu của Chính phủ cũng hết sức đa dạng nhưng cũng có thể tạm chia thành hai phần chính là chi tiêu thường xuyên (vi dụ như chi lương cho công chức, chi các hoạt động giáo dục, y tế, khoa học-công nghệ, an ninh-quốc phòng) và chi đầu tư phát triển (chi xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội). Vai trò của chính sách tài khóa : Chính sách tài khóa có vai trò đáng kể đối với phát triển kinh tế.
Khái quát nhất, có thể nhận thấy tầm quan trọng của chính sách tài khóa thông qua một số vai trò cơ bản sau đây: Thứ nhất, CSTK trên lý thuyết là một công cụ nhằm khắc phục những hạn chế, tồn tại ảnh hưởng tiêu cực đến thị trường, phân bổ có hiệu quả các nguồn lực của nhà nước trong nền kinh tế thông qua thực thi các chính sách 11 n chi tiêu của chính phủ và thu ngân sách nhà nước. Theo đó, chính phủ sử dụng ngân sách để cải thiện các dịch vụ công như: các dịch vụ về pháp lý, chống độc quyền, phát hiện và ngăn ngừa tội phạm, nâng cấp hệ thống thông tin thị trường, thông tin về các chính sách của nhà nước và ngân sách một các minh bạch, các dịch vụ về thanh toán đối với hệ thống dịch vụ công (qua KBNN, qua các Ngân hàng thương mại, .) qua đó làm tăng năng suất và hiệu quả của khu vực nhà nước và tư nhân. Thứ hai, CSTK còn có những chức năng như công cụ phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm quốc dân (GDP). Mục tiêu của chính sách tài khóa là nhằm điều chỉnh phân phối thu nhập, tạo cơ hội để sản xuất ra tài sản hay tạo ra các rủi ro có nguồn gốc từ thị trường.
Nó có hàm ý khi đó là chính sách tài khóa nhằm tạo lập một sự ổn định về mặt xã hội để tạo ra môi trường ổn định cho đầu tư và tăng trưởng. Hiện nay, nhiều quốc gia châu Á đang chuyển sang định hướng chính sách tài khóa nhằm đạt được tăng trưởng bao trùm (inclusive growth), cụ thể hơn là hướng tới giải quyết vấn đề bất bình đẳng trong xã hội, giải quyết tình trạng còn nghèo đói và hòa nhập xã hội. Thứ ba, CSTK hướng tới những mục tiêu tăng trưởng toàn diện trong xã hội và định hướng phát triển cho nền kinh tế trong tương lai. Tăng trưởng về thu nhập xã hội đối với nền kinh tế, dù trực tiếp hay gián tiếp, đều là mục tiêu cuối cùng của chính sách tài khóa.
Một cấu phần trong chi tiêu chính phủ nói chung, đối với các địa phương nói riêng là chi cho đầu tư phát triển thường tập trung vào các chương trình, dự án xây dựng hạ tầng kỹ thuật. Các dự án này có những định hướng ưu tiên vào một số ngành, khu vực hay vùng mà nó tác động trức tiếp đến nền kinh tế và đời sống của người dân, qua đó chính sách tài khóa kiến tạo nền tảng và định hướng phát triển nền kinh tế quốc dân. Nhà nước điều chỉnh tăng hoặc giảm thuế suất hay ban hành các loại thuế mới cũng là công cụ nhằm kích thích hay hạn chế phát triển một số ngành hay lĩnh vực kinh tế nào đó. Ví dụ để thu hút đầu tư trong lĩnh vực 12 n nông nghiệp, nông thôn Chính phủ đã ban hành chính sách miễn, giảm đối với các doanh nghiệp đầu tư vào sản phẩm nông sản thô,.
Thứ tư, CSTK còn được thực hiện nhằm ổn định kinh tế vĩ mô trong giai đoạn nhất định. Lúc kinh tế rơi vào trạng thái suy thoái, hoặc ảnh hưởng hiệu ứng Domino từ các nền kinh tế lớn, sản xuất bị đình trệ, thất nghiệp sẽ tăng cao thì với một chính sách tài khóa mở rộng với tốc độ và liều lượng đủ lớn được nhà nước đưa ra thực thi đúng thời điểm có thể giúp cho nền kinh tế nhanh chóng phục hồi trong chừng mực nào đó. Tuy nhiên, chính sách tài khóa cũng có thể trở thành nhân tố góp phần làm suy thoái kinh tế trầm trọng hơn do những tác động của chính sách tài khóa lên nền kinh tế không thể đồng đều các lĩnh vực. Ngoài ra, mở rộng chi tiêu công thông qua đầu tư của khu vực kinh tế nhà nước cũng có thể gây tác động lấn át đầu tư tư nhân và sau đó tác động tiêu cực tới tăng trưởng, vì vậy việc thực hiện CSTK cần phải thận trọng và đúng lúc, tùy vào tình hình mỗi địa phương mà nhà nước điều chỉnh thực hiện một các hợp lý.
b) Nội dung và vai trò cân đối ngân sách : Nội dung của cân đối ngân sách nhà nước NSNN được cân đối theo nguyên tắc tổng số thu từ thuế, phí, lệ phí phải lớn hơn tổng số chi thường xuyên và góp phần tích lũy ngày càng cao để chi đầu tư phát triển; trường hợp còn bội chi thì số bội chi phải nhỏ hơn số chi đầu tư phát triển, tiến tới cân bằng thu, chi ngân sách; trường hợp đặc biệt thì Chính phủ trình Quốc hội xem xét, quyết định. Trường hợp bội thu ngân sách thì được sử dụng để trả nợ gốc và lãi các khoản vay của ngân sách nhà nước. Như vậy cân đối ngân sách đóng vai trò quan trọng, nó phản ánh nguồn lực tài chính mà Nhà nước có thể chi phối trực tiếp.