Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn về chính sách tài chính đất đai. Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Thực trạng chính sách tài chính đất đai ở Việt Nam Chương 4: Định hướng và giải pháp hoàn thiện chính sách tài chính đất đai của Việt Nam. 4 z CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH ĐẤT ĐAI 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 1.
Những công trình nghiên cứu liên quan đến chính sách đất đai nói chung Đề tài: “Nghiên cứu thực trạng và giải pháp hoàn thiện hệ thống quy hoạch sử dụng đất đai trong thời kỳ công nghiệp hóa” - Nguyễn Dũng Tiến (đề tài khoa học năm 2007, cơ quan chủ quản: Viện Khoa học Đo đạc và bản đồ). Với cách tiếp cận đi từ tổng thể đến chi tiết từ chủ trương chính sách đến thực tế triển khai thực hiện và liên hệ trực tiếp đến các đối tượng cụ thể. Thông qua cách tiếp cận này để nghiên cứu về cơ sở lý luận, cơ sở khoa học và thực tiễn thông qua việc điều tra dữ liệu QHSDĐ của nước ta trong những năm vừa qua. Trên cơ sở đó xây dựng các quan điểm, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện ngành khoa học QHSDĐ, đáp ứng các yêu cầu phát triển kinh tế xã hội và môi trường thời kỳ công nghiệp hóa.
Bài nghiên cứu trao đổi “Tiếp cận giải quyết vấn đề “quyền sở hữu đất đai” ở nước ta hiện nay” của Trần Kim Chung, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương (được đăng trên Tạp chí cộng sản điện tử ngày 06/12/2013): Luật pháp Việt Nam khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước làm đại diện chủ sở hữu. Quyền sử dụng đất là hàng hóa đặc biệt có thể tham gia thị trường. Chế độ sở hữu đất đai là cơ sở của mọi quan hệ về đất đai, quyền sở hữu đất đai là do người sở hữu đất đai nắm giữ, đây là quyền lợi đặc biệt không có người thứ hai và được pháp luật nhà nước bảo hộ. Chế độ sở hữu đất đai có thể chia thành hai loại lớn là chế độ công hữu đất đai và chế độ tư hữu đất đai.
Quyền sở hữu đất đai có thể chia nhỏ ra thành các quyền: quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền thu lợi, quyền định đoạt. Những quyền này thường thống nhất, quy về một chủ thể, nhưng trong tình 5 z huống được biệt nó có thể bị phân ly. Quyền sở hữu đất đai được nhà nước xác nhận bảo hộ, đều phải thông qua một văn kiện pháp luật nhất định để thực hiện. Bài nghiên cứu trao đổi “Tiếp tục đổi mới chính sách pháp luật về đất đai thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” của Nguyễn Quốc Ngữ, Phó Vụ trưởng Vụ Kinh tế, Văn phòng Trung ương Đảng (Tạp chí cộng sản điện tử ngày 21/3/2013): Thông qua việc thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa IX, hiệu quả quản lý nhà nước về đất đai từng bước được tăng cường; chính sách, pháp luật về đất đai ngày càng được hoàn thiện; các quyền của người sử dụng đất được mở rộng và được Nhà nước bảo đảm.
Thị trường bất động sản, trong đó có quyền sử dụng đất đã được hình thành và phát triển tương đối nhanh. Bài viết “Đổi mới chính sách, pháp luật đất đai, tạo động lực cho đẩy mạnh tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” của tác giả Nguyễn Minh Quang nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường đăng trên Tạp chí Cộng sản số 857 (Tháng 3-2014): Đất đai là vấn đề hệ trọng, phức tạp, nhạy cảm, có tầm ảnh hưởng lớn đến phát triển kinh tế và ổn định xã hội. Để các nội dung đổi mới sớm đi vào cuộc sống và phát huy hiệu quả, cần có sự nỗ lực của các cấp, các ngành và sự tham gia tích cực của nhân dân, nhằm phát huy tối đa nguồn lực đất đai trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Ngân hàng thế giới, Hà Nội, 2011 “Cơ chế nhà nước thu hồi đất và chuyển dịch đất đai tự nguyện ở Việt Nam”: Ngân hàng thế giới tập trung tổng kết các quy định của pháp luật Việt Nam, đánh giá quá trình thực hiện, phân tích một số kinh nghiệm quốc tế và đưa ra những khuyến nghị nhằm khắc phục các hạn chế của hệ thống pháp luật Việt Nam.
Ấn phẩm gồm 3 báo cáo: Đề xuất về hoàn thiện chính sách Nhà nước thu hồi đất và cơ chế chuyển dịch đất đai tự nguyện ở Việt Nam; Nghiên cứu về cơ chế xác định giá đất phục vụ 6 z bồi thường, hỗ trợ và tái định cư tại Việt Nam; Nghiên cứu hoàn thiện cơ chế giải quyết khiếu nại về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất tại Việt Nam. Những công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề tài chính đất đai Luận án của tiến sỹ Lê Xuân Bá, sự hình thành và phát triển thị trường bất động sản trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam: đã phân tích về khía cạnh vai trò của thị trường bất động sản trong nền kinh tế thị trường và tập trung làm nổi bật nội dung về quá trình hình thành và phát triển của thị trường bất động sản ở Việt Nam nói chung, theo tác giả của công trình này, thị trường bất động sản ở Việt Nam có thời gian phát triển chưa dài nên còn chứa đựng nhiều bất cập cho nên tác dụng phát huy thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội chưa đáp ứng yêu cầu. Luận án tiến sỹ Chu Thị Thủy Chung (2010). Học viện Tài chính, Hoàn thiện Chính sách thu đối với đất đai ở Việt nam: Luận án phân tích, đánh giá chính sách thu đối với đất đai ở nước ta hiện hành, rút ra những kết quả đã đạt được, những tồn tại và nguyên nhân của những tồn tại đó.
Sau đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách thu từ đất đai ở Việt Nam trong thời gian tới. Như vậy, luận án chỉ tập trung nghiên cứu hoàn thiện chính sách thu từ đất đai, đây chỉ là một trong các nội dung cơ bản của chính sách TCĐĐ, mà không phải tổng quan các nội dung của chính sách TCĐĐ. Luận văn Thạc sỹ Đoàn Đắc Thoại, 2014. Học viện Nông ngiệp Việt Nam, Đánh giá công tác tài chính đất đai trên đại bàn thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.
Luận văn đã phân tích đánh giá được thực trạng công tác thu thuế đất đai trên đại bàn thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh đồng thời đưa ra một số giải pháp hoàn thiện công tác này. Tuy nhiên phạm vi hẹp trên địa bàn thành phố và thời gian nghiên cứu từ năm 2009- 2013. Như vậy, luận văn chỉ tập trung đánh giá thực trạng và tìm giải pháp thu tài chính đất đai trên địa bàn cấp thành phố (trực thuộc tỉnh) và thời gian nghiên cứu ngắn. Đánh giá tổng quan Các công trình nghiên cứu phần nào đã chỉ ra tầm quan trọng to lớn của công tác quản lý đất đai, việc thu thuế đất đai và quá trình hình thành thị trường bất động sản.
Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu chuyên biệt và hệ thống về chính sách tài chính đất đai. Chính vì thế tác giả nghiên cứu đề tài này là cần thiết và có tính mới. Các công trình nghiên cứu ở trên có giá trị tham khảo quý báu đối với tác giả trong quá trình thực hiện luận văn thạc sỹ này. Cơ sở lý luận về chính sách tài chính đất đai 1.
Khái niệm về đất đai, tài chính về đất đai 1.1 Khái niệm về đất đai Trong các tài liệu nghiên cứu về quản lý đất đai hiện nay đưa ra nhiều định nghĩa về đất đai khác nhau, cụ thể như: “Đất đai là một tổng thể vật chất có sự kết hợp giữa địa hình và không gian tự nhiên của thực thể vật chất đó”. Hoặc theo Đại từ điển kinh tế thị trường đã định nghĩa: “Đất đai là một phần bề mặt tơi xốp của lớp vỏ trái đất, chịu ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên như địa hình, địa chất, khí hậu, thủy văn, sinh vật. Đất đai là một loại tài nguyên thiên nhiên, một loại tư liệu sản xuất, chỉ tất cả các lục địa và mặt nước trên bề mặt trái đất. Đất đai nghĩa hẹp chỉ bộ phận lục địa trên bề mặt trái đất”.
Cũng có quan điểm khác cho rằng: “Đất đai là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất, bao gồm tất cả các cấu thành của môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt đó: bao gồm khí hậu bề mặt, thổ nhưỡng, dạng địa hình, nước (hồ, sông, suối, đầm lầy.), các lớp trầm tích sát bề mặt cùng với nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn thực vật và động vật, trạng thái 8 z định cư của con người, những kết quả của con người trong quá khứ và hiện tại để lại (san nền, hồ chứa nước…)”. Lại có quan điểm định nghĩa đất đai thông qua chức năng của nó, như khái niệm đất đai được xác định trong Luật Đất đai năm 1993: “Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh và quốc phòng”. Vì vậy có thể nói đất đai là hiện tượng địa lý - kinh tế, biến đổi theo quy luật tự nhiên và quy luật phát triển kinh tế - xã hội. Trong nhiều tài liệu về quản lý đất đai các khái niệm này thường không được phân biệt rõ ràng và khi nói về đất đai thường hay dùng từ đất để cho ngắn gọn hơn, như Luật Đất đai, Quyền SDĐ.
Nhưng trong tư duy khoa học cần phải phân biệt rõ các khái niệm khác nhau giữa lãnh thổ, đất và đất đai: “- Lãnh thổ là địa bàn cư trú của cộng đồng dân tộc trong không gian và thời gian xác định, thuộc phạm trù địa lý - dân tộc - Đất là lớp bề mặt trái đất hiểu theo nghĩa rộng hơn so với khái niệm thổ nhưỡng, thuộc phạm trù địa lý - tự nhiên. - Đất đai là kết quả của mối quan hệ tổng hoà giữa đất và hoạt động kinh tế xã hội của con người trong cộng đồng dân tộc trên một lãnh thổ nhất định, thuộc phạm trù địa lý - kinh tế. Về mặt không gian thì đất đai bao gồm cả phần bề mặt với không gian bên trên và bề sâu trong lòng đất”.