Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH SẮP XẾP TỔ CHỨC BỘ MÁY CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ 1. Chính sách công và thực hiện chính sách công 1. Chính sách công và những đặc trưng cơ bản Cho đến nay, chúng ta vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về chính sách mặc dù đã có rất nhiều nghiên cứu về vấn đề này. Trên thế giới có thể kể đến một số khái niệm về chính sách như:“Chính sách là một quá trình hành động có mục đích theo đuổi bởi một hoặc nhiều chủ thể trong việc giải quyết các vần đề mà họ quan tâm” (James Anderson) hay“Chính sách là quyết tâm và định hướng.
Chính sách định hướng nhưng không bao gồm các chương trình và chi tiết hành động”(Glen Milne). Tại Việt Nam, Từ điển bách khoa Việt Nam đã đưa ra khái niệm về chính sách như sau: “Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ. Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó”. Chúng ta có thể hiểu chính sách là hành động do các nhà lãnh đạo hay nhà quản lý đề ra để giải quyết một vấn đề nào đó thuộc phạm vi thẩm quyền của mình.
Trên thế giới hiện nay cuộc tranh luận về khái niệm chính sách công vẫn chưa có hồi kết. Các học giả xuất phát từ góc nhìn của mình đưa ra những khái niệm chính sách công rất khác nhau“Chính sách công là tập hợp các quyết định có liên quan lẫn nhau của một nhà chính trị hay một nhóm nhà chính trị gắn liền với việc lựa chọn các mục tiêu và các giải pháp để đạt được các mục tiêu đó” (William Jenkin). Theo quan điểm này, chính sách công là một tập hợp các quyết định khác nhau có liên quan với nhau trong một khoảng thời gian dài mà trong đó chủ thể ban hành chính sách công là các cơ quan nhà nước. Có thể nói, 18 chính sách công nhằm vào những mục tiêu nhất định theo mong muốn của nhà nước và bao gồm các giải pháp để đạt được mục tiêu đã chọn.
Dye “Chính sách công là cái mà chính phủ lựa chọn làm hay không làm” Định nghĩa này của Thomas R. Dye hướng tới vấn đề thừa nhận rằng các chính sách phản ánh sự lựa chọn làm hay không làm. Việc quyết định không làm cũng có thể quan trọng như việc quyết định làm và chính sách là cái chính phủ làm hoặc không làm chứ không phải là cái mà họ muốn làm hoặc lập kế hoạch để làm. Theo Peter Aucoin “Chính sách công bao gồm các hoạt động thực tế do chính phủ tiến hành” Aucoin cho rằng, chính sách có thể vừa là hành động riêng biệt của chính phủ vừa là kết quả của hàng loạt quyết định đa dạng.
Guy Peter đưa ra định nghĩa “Chính sách công là toàn bộ các hoạt động của nhà nước có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến cuộc sống của mọi công dân” Định nghĩa này tiếp cận ở góc độ tác động của chính sách công đến đời sống của người dân với tư cách là một cộng đồng. Ở Việt Nam, PGS.TS Lê Chi Mai (Học viện Hành chính Quốc gia) đưa ra cách hiểu về thuật ngữ chính sách công “là thuật ngữ dùng để chỉ một chuỗi các quyết định hoạt động của nhà nước nhằm giải quyết một vấn đề chung đang đặt ra trong đời sống kinh tế - xã hội theo mục tiêu xác định”. * Đặc trưng của chính sách công Theo cách hiểu như trên, chính sách công có bốn đặc trưng cơ bản đó là: Thứ nhất, chủ thể ban hành chính sách công là nhà nước, cụ thể là các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành chính sách. Thứ hai, các quyết định của nhà nước mang tính hành động, tức là bao hàm trong nội dung lý luận có cả những hành vi thực tiễn.
Chính sách công không chỉ thể hiện dự định của nhà nước về một vấn đề cụ thể mà còn phải bao gồm biện pháp và bước đi cụ thể nhằm thực hiện các hành vi. 19 Thứ ba, chính sách công giải quyết các vấn đề cụ thể do thực tiễn xã hội đặt ra theo những nhu cầu và mục đích cụ thể. Thứ tư, chính sách công gồm tập hợp các quyết đinh có liên quan với nhau nhằm giải quyết mục đích chính sách của nhà nước trước yêu cầu của thực tiễn xã hội. Thực hiện chính sách công Có thể hiểu thực hiện chính sách là quá trình chuyển đổi ý chí, quyết tâm và những nỗ lực của chủ thể chính sách trong việc hoạch định chính sách nhằm giải quyết những vấn đề cụ thể phát sinh trong đời sống xã hội ra ngoài hiện thực.
Đây là bước chuyển quan trọng bậc nhất trong chu trình chính sách, là bước hiện thực hóa chính sách trong đời sống xã hội. Tất nhiên, chất lượng và hiệu quả của việc thực hiện chính sách phụ thuộc nhiều vào năng lực của chủ thể chính sách cũng như chủ thể chịu sự tác động của chính sách trong thực hiện chính sách. Trong quá trình thực thi chính sách, các nguồn lực vật chất, tài chính, khoa học công nghệ và con người được đưa vào các hoạt động có tính định hướng để đạt được các mục tiêu đã đề ra. Nói cách khác, đây là quá trình kết hợp giữa con người với các nguồn lực vật chất, tài chính, khoa học công nghệ nhằm sử dụng các nguồn lực này một cách có hiệu quả theo những mục tiêu đề ra.
Chủ thể thực thi chính sách trước hết là quan trọng nhất là các cơ quan hành chính nhà nước, bởi vì đây chính là các cơ quan có nhiệm vụ quản lý và tổ chức triển khai các công việc hàng ngày của Nhà nước. Tuy nhiên, các cơ quan lập pháp và tư pháp cũng như các tổ chức Đảng, đoàn thể cũng có vai trò quan trọng trong việc huy động và tổ chức lực lượng tham gia triển khai chính sách. Hệ thống chính trị và vấn đề sắp xếp, tổ chức bộ máy 1. Hệ thống Chính trị Hệ thống chính trị là một hệ thống các tổ chức (thiết chế) gắn liền với quyền lực chính trị của nhân dân, được tổ chức để thực hiện các nhiệm vụ và 20 quyền hạn do nhân dân giao phó và ủy quyền; đây là phương thức quan trọng để nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình dưới các hình thức, cấp độ khác nhau.
Theo quy định tại Hiến pháp năm 2013, hệ thống chính trị nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam gồm: - Đảng Cộng sản Việt Nam (là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội); - Nhà nước pháp quyền XHCN của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân; - Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận; - Các tổ chức chính trị - xã hội khác (Công đoàn Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam). Hệ thống chính trị ở nước ta được tổ chức theo một hệ thống từ Trung ương đến cơ sở. Tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị 1. Tổ chức bộ máy của Đảng Cộng sản Việt Nam Ngoài cơ quan lãnh đạo của Đảng ở Trung ương là Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, hệ thống tổ chức của Đảng gồm: - Hệ thống các đảng bộ, chi bộ (có 68 đảng bộ trực thuộc Trung ương; 1.290 đảng bộ cấp huyện và tương đương; 57.093 tổ chức cơ sở đảng).
- Các đảng đoàn, ban cán sự đảng (ở Trung ương có 40 đảng đoàn, ban cán sự đảng; ở mỗi cấp tỉnh có từ 9-11 đảng đoàn, ban cán sự đảng; Thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh có nhiều hơn). - Các cơ quan tham mưu, giúp việc chuyên trách của cấp ủy (ở Trung ương có 8 cơ quan; ở cấp tỉnh có 6 cơ quan; ở cấp huyện có 5 cơ quan). - Các đơn vị sự nghiệp của cấp ủy (ở Trung ương có 4 đơn vị, ở cấp tỉnh có 2 đơn vị; ở cấp huyện có 1 đơn vị). 21 - Các ban chỉ đạo (ở Trung ương có 4 ban chỉ đạo), Hội đồng Lý luận Trung ương và các ban bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cán bộ ở Trung ương, ở cấp tỉnh.
Tổ chức bộ máy Nhà nước Hệ thống tổ chức của Nhà nước bao gồm hệ thống các cơ quan: Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân và chính quyền địa phương theo các cấp. Các cơ quan nhà nước hoạt động theo nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. - Quốc hội (cơ quan lập pháp): có Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, Kiểm toán Nhà nước, 9 ủy ban của Quốc hội và Văn phòng Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội có 2 ban và Viện Nghiên cứu lập pháp. - Chủ tịch nước: Chủ tịch nước là người đứng đầu Nhà nước, thay mặt nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đối nội và đối ngoại.
Thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ công tác theo quy định của Hiến pháp. Bộ Chính trị quy định về mối quan hệ lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư đối với Chủ tịch nước. Văn phòng Chủ tịch nước là cơ quan giúp việc Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước. - Chính phủ (cơ quan hành pháp): Cơ cấu tổ chức của Chính phủ gồm 27 thành viên (Thủ tướng, 5 phó thủ tướng và các bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ) và 30 cơ quan, trong đó có 18 bộ, 4 cơ quan ngang bộ, 8 cơ quan thuộc Chính phủ.
- Các cơ quan tư pháp (Tòa án và Viện kiểm sát) Tổ chức bộ máy của hệ thống tòa án nhân dân gồm 4 cấp: Tòa án nhân dân tối cao, tòa án nhân dân cấp cao, tòa án nhân dân cấp tỉnh và tòa án nhân dân cấp huyện. Hệ thống viện kiểm sát nhân dân có bốn cấp, gồm: Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, viện kiểm sát nhân dân cấp cao, các viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, viện kiểm sát nhân dân huyện, quận, thị 22 xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương; hệ thống tổ chức viện kiểm sát quân sự các cấp. - Chính quyền địa phương gồm có hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân các cấp, được tổ chức và hoạt động theo quy định của Hiến pháp, Luật tổ chức chính quyền địa phương.