CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH QUẢN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI 1. Thực hiện chính sách quản lý Nhà nước về đất đai 1. Khái niệm chính sách quản lý nhà nước về đất đai a. Khái niệm đất đai Tại Hội nghị quốc tế về môi trường tại Rio de Janerio, Brazil, 1993 đã khẳng định: “Đất đai là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất, bao gồm tất cả các cấu thành của môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt đó như: khí hậu bề mặt, thổ nhưỡng, dạng địa hình, mặt nước, lớp trầm tích sát bề mặt cùng với nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn động thực vật, trạng thái định cư của con người, những kết quả của con người trong quá khứ và hiện tại để lại’’.
Theo khái niệm trên, đất đai có một số đặc điểm như: Đất đai có vị trí cố định; Đất đai có hạn về diện tích;Tính lâu bền; Đất đai có tính đa dạng, phong phú tùy thuộc vào mục đích sử dụng đất đai và phù hợp với từng vùng địa lý. Khái niệm quản lý nhà nước Quản lý nhà nước là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì, phát triển các mối quan hệ xã hội, trật tự pháp luật nhằm thực hiện chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước. Khái niệm chính sách quản lý nhà nước về đất đai Chính sách công là tập hợp các quyết định để lựa chọn mục tiêu và chương hành động của Nhà nước nhằm giải quyết các vấn đề của xã hội, góp phần thực hiện mục tiêu tổng thể đã xác định. Chính sách quản lý nhà nước về đất đai là tập hợp các quyết định quản lý được lựa chọn cùng với chương hành động của Nhà nước nhằm giải quyết vấn đề đất đai, góp phần thực hiện mục tiêu tổng thể phát triển kinh tế - xã hội đã xác định.
Khái niệm thực hiện chính sách quản lý nhà nước về đất đai Các quan hệ đất đai là các quan hệ xã hội trong lĩnh vực kinh tế, bao gồm: 9 quan hệ về sở hữu đất đai, quan hệ về sử dụng đất đai, quan hệ về phân phối các sản phẩm do sử dụng đất mà có. Bộ luật Dân sự quy định "Quyền sở hữu bao gồm quyền chiêm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật”[28] Từ sự phân tích các hoạt động thực hiện chính sách quản lý nhà nước đối với đất đai như trên, Tiến sĩ Phạm Khắc Thái Sơn đã đưa ra khái niệm thực hiện chính sách quản lý nhà nước về đất đai như sau: Thưc hiện chính sách quản lý nhà nước về đất đai là tổng hợp các hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện và bảo vệ quyền sở hữu của Nhà nước đối với đất đai; đó là các hoạt động nắm chắc tình hình sử dụng đất; phân phối và phân phối lại quỹ đất đai theo quy hoạch, kế hoạch; kiểm tra giám sát quá trình quản lý và sử dụng đất; điều tiết các nguồn lợi từ đất đai. Vai trò chính sách quản lý nhà nước về đất đai Đất đai là tài nguyên quan trọng, không thể thay thế được, chính vì vậy, vai trò thực hiện quản lý nhà nước về đất đai thể hiện ở các nội dung sau đây: Một là, đảm bảo sử dụng đất đai hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả. Hai là, bảo vệ quyền lợi và lợi ích chính đáng của các đối tượng sử dụng đất đai trong quan hệ về đất đai thông qua việc tổ chức thực hiện chính sách pháp luật về đất đai.
Ba là, nâng cao khả năng sinh lời của đất để góp phần thực hiện mục tiêu kinh tế xã hội của địa phương và bảo vệ môi trường thông qua việc thực hiện các chính sách về đất đai như chính sách giá đất, chính sách về thu hồi đất phục vụ công tác giải phóng mặt bằng các dự án, chính sách thuế, chính sách đầu tư,. Bốn là, thông qua việc giám sát, kiểm tra quản lý và sử dụng đất đai, giải quyết tranh chấp về đất đai cơ quan quản lý sẽ nắm bắt tình hình biến động về sử dụng từng loại đất, đối tượng sử dụng đất. Nguyên tắc quản lý nhà nước về đất đai Trong quản lý nhà nước về đất đai cần chú ý các nguyên tắc sau: 10 a. Đảm bảo sự quản lý tập trung và thống nhất của Nhà nước Đất đai là tài nguyên của quốc gia, là tài sản của toàn dân.
Vấn đề này được quy định tại Điều 4, Luật Đất đai năm 2013 “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của Luật này”[15] b. Đảm bảo sự kết hợp hài hoà giữa quyền sở hữu đất đai và quyền sử dụng đất đai, giữa lợi ích của Nhà nước và lợi ích của người trực tiếp sử dụng Theo Luật dân sự thì quyền sở hữu đất đai bao gồm quyền chiếm hữu đất đai, quyền sử dụng đất đai, quyền định đoạt đất đai của chủ sở hữu đất đai. Quyền sử dụng đất đai là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ đất đai của chủ sở hữu đất đai hoặc chủ sử dụng đất đai khi được chủ sở hữu chuyển giao quyền sử dụng.Vấn đề này được thể hiện ởĐiều 17, Luật Đất đai 2013 Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất, Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất thông qua các hình thức : Giao đất không thu tiền sử dụng đất, giao đất có thu tiền sử dụng đất; cho thuê đất; Công nhận quyền sử dụng đất.Tiết kiệm và hiệu quả Tiết kiệm và hiệu quả là nguyên tắc của quản lý kinh tế.
Thực chất quản lý đất đai cũng là một dạng của quản lý kinh tế nên cũng phải tuân theo nguyên tắc này.[15] Tiết kiệm là cơ sở, là nguồn gốc của hiệu quả. Nguyên tắc này trong quản lý đất đai được thể hiện bằng việc: -Xây dựng tốt các phương án quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, có tính khả thi cao; - Quản lý và giám sát tốt việc thực hiện các phương án quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Có như vậy, quản lý nhà nước về đất đai mới phục vụ tốt cho chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo sử dụng tiết kiệm đất đai nhất mà vẫn đạt được mục đích đề ra. Nội dung thực hiện chính sách quản lý Nhà nước về đất đai Để đạt mục tiêu cao, thực hiện chính sách quản lý nhà nước về đất đai là bảo vệ chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, đảm bảo sự quản lý thống nhất của Nhà nước, đảm bảo cho việc khai thác sử dụng đất tiết kiệm, hợp lý, bền vững và ngày càng có hiệu quả cao.
Tác giả đề xuất 15 nội dung thực hiện chính sách quản lý nhà nước về đất đai theo Điều 22 luật đất đai 2013 thành 7 nhóm nội dung chính nhằm phù hợp với thực tiễn địa phương như sau: 1. Tuyên truyền, phổ biến văn bản quy phạm pháp luật về thực hiện, chính sách quản lý, sử dụng đất đai Tuyên truyền, phổ biến sâu rộng chính sách, pháp luật đất đai đến các cơ quan, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư nhằm cung cấp kiến thức và nâng cao ý thức tôn trọng, chấp hành pháp luật cho mọi người dân.Góp phần nâng cao nhận thức pháp lý trong nhân dân, giảm bớt tranh chấp, khiếu kiện trong lĩnh vực đất đai, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước về đất đai tại địa phương. Nội dung tuyên truyền, phổ biến - Ngành Tài nguyên cơ quan chủ công, cùng với đó, ngành tư pháp, các đoàn thể, các hội phối hợp thực hiện tuyên truyền các văn bản quy phạm pháp luật đất đai. - Ở cấp huyện, nội dung tuyên truyền chủ yếu là các quy định về thu hồi đất, hỗ trợ bồi thường tái định cư Các hình thức tuyên truyền phổ biến như: Tổ chức hội nghị, tập huấn, đối thoại, phát tờ rơi, tuyên truyền trên hệ thống thông tin đại chúng như: Truyền hình, truyền thanh, internet.
trợ giúp pháp lý, tư vấn pháp luật. Quy trình thực hiện tuyên truyền, phổ biến văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai. - UBND huyện thành lập hội đồng tuyên truyền, phổ biến các chính sách pháp luật - Phòng Tài Nguyên xây dựng bộ tài liệu tuyên truyền, phổ biến chính sách, 12 pháp luật đất đai. - Lựa chọn báo cáo viên - Lập kế hoạch thực hiện công tác tuyên tuyền cụ thể: Gồm nội dung công việc, thời hạn, tiến độ hoàn thành và trách nhiệm của từng cơ quan, tổ chức có liên quan.
- Đánh giá, tổng kết đợt tuyên truyền, phổ biến. Tiêu chí đánh giá: - Số lượng người tham gia buổi tuyên truyền - Số câu hỏi mà người dân hỏi - Chất lượng các câu trả lời của người báo cáo viên 1. Chính sách về kỹ thuật và nghiệp vụ địa chính Chính sách về kỹ thuật và nghiệp vụ địa chính gồm có các nội dung như: xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính tại địa bàn huyện và các xã, thị trấn; khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất; lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng SDĐ và bản đồ QHSDĐ của chính quyền huyện và các xã, thị trấn; thống kê, kiểm kê đất đai. Đây được coi là một trong những bước đi đầu tiên của quá trình xây dựng nền móng cho công tác quy hoạch và KHSDĐ, lưu trữ… đòi hỏi sự chính xác cao, nhằm cung cấp các số liệu, các hồ sơ về đất phục vụ cho QLNN về đất đai.
Nội dung chính sách về kỹ thuật và nghiệp vụ địa chính a 1: Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính tại địa bàn huyện và các xã, thị trấn. Địa giới hành chính là ranh giới các đơn vị hành chính kèm theo địa danh và một số yếu tố chính về tự nhiên, kinh tế, xã hội. Địa giới hành chính được xác định bằng các mốc giới cụ thể thể hiện toạ độ vị trí đó. Ủy ban nhân dân cấp huyện tổ chức thực hiện việc xác định địa giới hành chính trên thực địa và lập hồ sơ về địa giới hành chính trong phạm vi địa phương.