Chính Sách Hợp Tác Đào Tạo Sau Đại Học Của Việt Nam Trong Thời Kỳ Hội Nhập Quốc Tế

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu chính sách hợp tác với nước ngoài về đào tạo sau đại học của việt nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Quản lý giáo dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2011

207
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CHÍNH SÁCH HỢP TÁC VỚI NƯỚC NGOÀI VỀ ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP QUỐC TẾ

1.1. Tổng quan những công trình nghiên cứu liên quan đến chính sách HTQT về giáo dục đại học nói chung và đào tạo nhân lực SĐH nói riêng

1.1.1. Những công trình nghiên cứu ở nước ngoài

1.1.2. Những công trình nghiên cứu ở trong nước

1.2. Một số thuật ngữ và khái niệm cơ bản

1.3. Cơ sở lý luận về chính sách

1.3.1. Phân loại chính sách

1.3.2. Các mô hình chính sách

1.3.3. Quá trình chính sách

1.3.4. Chính sách trong quản lý

1.3.5. Chính sách trong giáo dục

1.3.6. Đặc điểm của chính sách trong giáo dục

1.3.7. Chính sách giáo dục đại học

1.3.8. Chính sách phát triển nhân lực trình độ cao và đào tạo SĐH

1.3.9. Chính sách hợp tác với nước ngoài về đào tạo sau đại học trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế tri thức

1.3.9.1. Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế
1.3.9.2. Phát triển kinh tế tri thức

2. CHƯƠNG 2: KINH NGHIỆM CÁC NƯỚC VÀ CHÍNH SÁCH HỢP TÁC ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC CỦA NƯỚC TA

2.1. Kinh nghiệm các nước về hợp tác đào tạo SĐH

2.1.1. Hợp tác phát triển GD-ĐT và xây dựng đội ngũ trí thức ở Mỹ

2.1.2. Hợp tác phát triển GD-ĐT và xây dựng đội ngũ trí thức ở Nhật Bản

2.1.3. Hợp tác phát triển GD-ĐT và xây dựng đội ngũ trí thức ở Hàn Quốc

2.1.4. Hợp tác phát triển GD-ĐT và xây dựng đội ngũ trí thức ở Trung Quốc

2.2. Bài học kinh nghiệm về chính sách hợp tác với nước ngoài của các nước nói trên

2.3. Hệ thống đào tạo đại học Việt Nam

2.3.1. Về phát triển hệ thống các trường đại học, cao đẳng

2.3.2. Thực trạng đội ngũ giảng viên trong hệ thống GDĐH đại học hiện nay

2.4. Quá trình hợp tác quốc tế về đào tạo đại học và SĐH của nước ta

2.4.1. Giai đoạn từ 1991 đến nay

2.4.2. Các đề án hợp tác lớn của chính phủ Việt Nam

2.5. Đánh giá chung về quá trình HTQT của Việt Nam trong đào tạo nhân lực sau đại học

2.6. Chính sách hợp tác quốc tế về đào tạo SĐH của nước ta

2.6.1. Chính sách đào tạo SĐH

2.6.2. Chính sách phát triển nhân lực

2.6.3. Chính sách hợp tác với nước ngoài về đào tạo SĐH để tăng cường nhân lực trình độ cao của nước ta

2.6.4. Chính sách HTQT về đào tạo SĐH của Việt Nam như là thành viên WTO

2.6.5. Kết quả của chính sách HTQT về đào tạo SĐH của nước ta

2.6.6. Đánh giá chính sách HTQT về đào tạo SĐH qua khảo sát của đề tài

2.6.6.1. Giới thiệu chung về cuộc khảo sát
2.6.6.2. Kết quả điều tra
2.6.6.3. Đánh giá chung về chính sách hợp tác với nước ngoài về đào tạo SĐH của nước ta trong bối cảnh hội nhập

2.6.7. Ma trận SWOT

3. HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH HỢP TÁC QUỐC TẾ VỀ ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC CỦA NƯỚC TA

3.1. Các nguyên tắc hoàn thiện chính sách

3.1.1. Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ

3.1.2. Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa

3.1.3. Nguyên tắc đảm bảo tính cấp thiết

3.1.4. Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi

3.2. Đề xuất hoàn thiện chính sách hợp tác với nước ngoài về đào tạo nhân lực SĐH

3.2.1. Các chính sách về hợp tác cử cán bộ đi đào tạo ở nước ngoài

3.2.2. Các chính sách đối với các cơ sở đại học nước ngoài tại Việt Nam

3.2.3. Các chính sách mời chuyên gia nước ngoài đến giảng dạy tại Việt Nam

3.2.4. Các chính sách thu hút trí thức Việt kiều

3.2.5. Các chính sách thu hút người nước ngoài đến Việt Nam học tập

3.2.6. Thử nghiệm một số chính sách

3.2.6.1. Thử nghiệm các chính sách cử cán bộ đi nước ngoài
3.2.6.2. Thử nghiệm các chính sách thu hút chuyên gia nước ngoài
3.2.6.3. Thử nghiệm chính sách thu hút sinh viên nước ngoài đến Việt Nam học tập
3.2.6.4. Nhận xét về quá trình thử nghiệm

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Chính Sách Hợp Tác Đào Tạo Sau Đại Học Việt Nam

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, hợp tác đào tạo sau đại học Việt Nam đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Không quốc gia nào có thể phát triển bền vững nếu thiếu sự đầu tư vào giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Tác động của đào tạo sau đại học đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ngày càng trở nên rõ rệt, thể hiện qua những đóng góp trong mọi lĩnh vực. Đào tạo sau đại học không chỉ đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội mà còn tạo động lực cho sự phát triển của hệ thống giáo dục. Theo thống kê đến năm 2008, Việt Nam có khoảng 2,6 triệu người có trình độ đại học trở lên, chiếm 4,5% lực lượng lao động, trong đó có khoảng 50.000 tiến sĩ và tiến sĩ khoa học, hơn 6000 giáo sư và phó giáo sư [114].

1.1. Vai Trò Của Hợp Tác Quốc Tế Trong Đào Tạo Sau Đại Học

Hợp tác quốc tế mở ra cơ hội tiếp cận tri thức tiên tiến, kinh nghiệm quản lý giáo dục hiện đại từ các quốc gia phát triển. Điều này giúp nâng cao chất lượng chương trình đào tạo, phương pháp giảng dạy và nghiên cứu khoa học. Liên kết đào tạo quốc tế tạo điều kiện cho giảng viên và sinh viên trao đổi học thuật, nâng cao trình độ chuyên môn và khả năng hội nhập. Hợp tác quốc tế còn giúp các trường đại học Việt Nam xây dựng mạng lưới đối tác rộng khắp, tăng cường vị thế trên bản đồ giáo dục thế giới.

1.2. Bối Cảnh Hội Nhập Quốc Tế Và Yêu Cầu Đổi Mới Giáo Dục

Việc Việt Nam gia nhập WTO đặt ra yêu cầu cấp thiết về đổi mới giáo dục, đặc biệt là đào tạo sau đại học. Theo Thỏa thuận Chung về Thương mại trong Dịch vụ (GATS), giáo dục là một trong những lĩnh vực dịch vụ được tự do hóa. Điều này tạo ra cơ hội thu hút đầu tư nước ngoài vào giáo dục, nhưng cũng đặt ra thách thức cạnh tranh về chất lượng. Các trường đại học Việt Nam cần chủ động đổi mới chương trình đào tạo, nâng cao năng lực cạnh tranh để đáp ứng yêu cầu hội nhập. Cần lưu ý rằng, trong bối cảnh toàn cầu hóa, xu thế GD thế giới hiện đã đổi hướng sâu sắc, chuyển từ lĩnh vực tư tưởng – ý thức hệ, nơi truyền đạt và chuyển giao văn hoá nhân loại và dân tộc của các thế hệ trước cho các thế hệ sau nhằm dựng xây xã hội mới, nay thành một không gian mới có hai chức năng vừa truyền thống như trên vừa nhằm phục vụ cạnh tranh kinh tế phạm vi toàn cầu mang tính chất thương mại mà vai trò sau đang nổi lên vị trí số một.

II. Thách Thức Vấn Đề Trong Chính Sách Đào Tạo Sau Đại Học

Mặc dù đã đạt được những thành tựu nhất định, chính sách đào tạo sau đại học của Việt Nam vẫn còn đối mặt với nhiều thách thức. Chất lượng đào tạo chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động và hội nhập quốc tế. Cơ sở vật chất, trang thiết bị còn thiếu thốn, lạc hậu. Đội ngũ giảng viên còn hạn chế về trình độ chuyên môn và kinh nghiệm thực tế. Chính sách thu hút và sử dụng nhân tài chưa hiệu quả. Với gần 200 trường đại học và cao đẳng, kể cả các trường ngoài công lập, chưa có một trường đại học nào đạt tiêu chuẩn quốc tế vì chương trình giảng dạy lạc hậu, không phù hợp với chương trình giảng dạy đại học và SĐH của các nước 9 z tiên tiến; kiến thức và kinh nghiệm dạy học của đội ngũ giảng viên đại học chưa theo kịp với trình độ của thế giới, chưa cập nhật những kiến thức mới cộng với trình độ quản lý lạc hậu và thiết bị học tập, nghiên cứu nghèo nàn đã dẫn đến kết quả là đội ngũ cán bộ SĐH được đào tạo ở trong nước kém về khả năng tư duy sáng tạo, năng lực tổ chức, điều hành công việc, trình độ ngoại ngữ, quan hệ hợp tác với nước ngoài.

2.1. Chất Lượng Đào Tạo Sau Đại Học Chưa Đáp Ứng Yêu Cầu

Chương trình đào tạo còn nặng về lý thuyết, thiếu tính thực tiễn. Phương pháp giảng dạy còn thụ động, chưa khuyến khích tư duy sáng tạo của học viên. Chuẩn đầu ra sau đại học chưa rõ ràng, chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động. Khả năng ngoại ngữ và kỹ năng mềm của học viên còn hạn chế. Từ năm 1998 đến năm 2002, toàn thế giới công bố được 35 vạn công trình nghiên cứu KH - CN, trong đó Mỹ đóng góp khoảng 119.000 công trình, Xin-ga-po 6.932 công trình, Thái Lan 5.210 công trình, Ma-lai-xi-a 2.088 công trình. Riêng Việt Nam chỉ có 250 công trình, chiếm chưa đến một phần nghìn của thế giới.

2.2. Thiếu Hụt Nguồn Lực Đầu Tư Cho Đào Tạo Sau Đại Học

Ngân sách đầu tư cho giáo dục còn hạn chế, đặc biệt là cho đào tạo sau đại học. Cơ sở vật chất, trang thiết bị còn thiếu thốn, lạc hậu. Chính sách hỗ trợ học bổng, vay vốn cho học viên còn chưa đủ mạnh. Cơ sở vật chất đào tạo chưa đáp ứng được yêu cầu của đào tạo chất lượng cao. Trong 5 năm 2001-2005, nước ta có 11 đơn đăng ký sáng chế gửi Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới, trong khi đó số lượng của các nước khác là: In-dô-nê-xi- a 36 đơn, Thái Lan 39 đơn, Phi-lip-pin 85 đơn, Hàn Quốc 15.

2.3. Bất Cập Trong Quản Lý Đào Tạo Sau Đại Học

Hệ thống quản lý giáo dục còn cồng kềnh, thiếu hiệu quả. Cơ chế tự chủ của các trường đại học còn hạn chế. Chính sách kiểm định chất lượng giáo dục chưa thực sự hiệu quả. Quản lý đào tạo sau đại học còn nhiều bất cập, chưa tạo động lực cho sự phát triển.

III. Cách Hoàn Thiện Chính Sách Hợp Tác Đào Tạo Sau Đại Học

Để nâng cao hiệu quả hợp tác đào tạo sau đại học, cần có những giải pháp đồng bộ và toàn diện. Cần đổi mới tư duy về phát triển giáo dục sau đại học, coi đây là yếu tố then chốt để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Cần tăng cường đầu tư cho giáo dục, đặc biệt là cho đào tạo sau đại học. Cần xây dựng cơ chế khuyến khích các trường đại học hợp tác quốc tế, thu hút nguồn lực từ bên ngoài. Cách mạng KH - CN đã thay đổi nhanh chóng bộ mặt thế giới. Ba đặc trưng chính sau đây đã khái quát bức tranh thế giới hiện nay: - Sự phát triển của công nghệ thông tin đã tạo nên thế giới phẳng; - Toàn cầu hóa kinh tế thế giới; - Sự xuất hiện của nền kinh tế tri thức;

3.1. Đổi Mới Chương Trình Và Phương Pháp Đào Tạo

Cần xây dựng chương trình đào tạo tiên tiến, cập nhật kiến thức mới nhất của thế giới. Cần tăng cường tính thực tiễn của chương trình đào tạo, gắn kết với nhu cầu của thị trường lao động. Cần đổi mới phương pháp giảng dạy, khuyến khích tư duy sáng tạo của học viên. Cần tăng cường đào tạo ngoại ngữ và kỹ năng mềm cho học viên.

3.2. Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Giảng Viên

Cần có chính sách thu hút và giữ chân giảng viên giỏi. Cần tạo điều kiện cho giảng viên tham gia các khóa đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn. Cần khuyến khích giảng viên tham gia nghiên cứu khoa học, công bố quốc tế. Đội ngũ giảng viên cần được nâng cao về trình độ và kinh nghiệm.

3.3. Tăng Cường Hợp Tác Quốc Tế Về Đào Tạo

Cần mở rộng quan hệ hợp tác với các trường đại học, viện nghiên cứu uy tín trên thế giới. Cần xây dựng các chương trình trao đổi giảng viên, sinh viên. Cần thu hút các chuyên gia nước ngoài đến giảng dạy, nghiên cứu tại Việt Nam. Cần tạo điều kiện cho học viên tham gia các khóa học, hội thảo quốc tế.

IV. Kinh Nghiệm Hợp Tác Đào Tạo Sau Đại Học Từ Các Nước

Nghiên cứu kinh nghiệm của các nước phát triển như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc trong hợp tác đào tạo sau đại học là rất quan trọng. Các nước này đã có những chính sách hiệu quả trong việc thu hút nguồn lực từ bên ngoài, nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học. Việc học hỏi kinh nghiệm của các nước này sẽ giúp Việt Nam xây dựng chính sách giáo dục phù hợp với điều kiện thực tế của đất nước. Ngày 7 tháng 11 năm 2006 Việt Nam đã gia nhập WTO. Việc hội nhập WTO diễn ra không chỉ dưới sức ép của quá trình toàn cầu hoá, mà còn xuất phát từ yêu cầu nội tại của nước ta.

4.1. Bài Học Từ Mô Hình Hợp Tác Của Mỹ

Mỹ có hệ thống giáo dục đại học hàng đầu thế giới, với nhiều trường đại học danh tiếng. Mỹ chú trọng đầu tư vào nghiên cứu khoa học, tạo môi trường thuận lợi cho sự sáng tạo. Mỹ có chính sách thu hút nhân tài từ khắp nơi trên thế giới. Hợp tác phát triển GD-ĐT và xây dựng đội ngũ trí thức ở Mỹ .

4.2. Kinh Nghiệm Từ Nhật Bản Và Hàn Quốc

Nhật Bản và Hàn Quốc đã có những bước tiến vượt bậc trong phát triển giáo dục. Các nước này chú trọng xây dựng đội ngũ giảng viên chất lượng cao. Các nước này có chính sách khuyến khích hợp tác giữa trường đại học và doanh nghiệp. Hợp tác phát triển GD-ĐT và xây dựng đội ngũ trí thức ở Nhật Bản . Hợp tác phát triển GD-ĐT và xây dựng đội ngũ trí thức ở Hàn Quốc.

4.3. Mô Hình Phát Triển Giáo Dục Của Trung Quốc

Trung Quốc đã có những thành công đáng kể trong việc mở rộng quy mô giáo dục đại học. Trung Quốc chú trọng đầu tư vào các trường đại học trọng điểm. Trung Quốc có chính sách khuyến khích hợp tác quốc tế trong giáo dục. Hợp tác phát triển GD-ĐT và xây dựng đội ngũ trí thức ở Trung Quốc .

V. Ứng Dụng Thực Tiễn Kết Quả Nghiên Cứu Chính Sách

Việc đánh giá hiệu quả của chính sách hợp tác quốc tế về đào tạo sau đại học là rất quan trọng. Cần có những nghiên cứu cụ thể để đánh giá tác động của chính sách đến chất lượng đào tạo, năng lực nghiên cứu khoa học và khả năng hội nhập quốc tế. Kết quả nghiên cứu sẽ là cơ sở để điều chỉnh, bổ sung chính sách cho phù hợp với tình hình thực tế. Theo Thỏa thuận Chung về Thương mại trong Dịch vụ (General Agreement on Trade in Services - GATS) thì giáo dục cũng nằm trong số các dịch vụ mà các nước tham gia WTO sẽ cung ứng tự do với nhau thông qua bốn phương thức cung cấp dịch vụ GDĐH.

5.1. Đánh Giá Tác Động Của Chính Sách Đến Chất Lượng Đào Tạo

Cần có những tiêu chí cụ thể để đánh giá chất lượng đào tạo sau đại học. Cần thu thập thông tin từ các bên liên quan như học viên, giảng viên, nhà tuyển dụng. Cần phân tích dữ liệu để xác định những điểm mạnh, điểm yếu của chính sách.

5.2. Phân Tích Hiệu Quả Sử Dụng Nguồn Lực

Cần đánh giá hiệu quả sử dụng ngân sách đầu tư cho đào tạo sau đại học. Cần phân tích chi phí - lợi ích của các chương trình hợp tác quốc tế. Cần xác định những lĩnh vực ưu tiên đầu tư để đạt hiệu quả cao nhất.

5.3. Đề Xuất Giải Pháp Cải Thiện Chính Sách

Dựa trên kết quả đánh giá, cần đề xuất những giải pháp cụ thể để cải thiện chính sách. Cần có sự tham gia của các chuyên gia, nhà khoa học, nhà quản lý giáo dục trong quá trình xây dựng chính sách. Cần đảm bảo tính khả thi và hiệu quả của các giải pháp.

VI. Tương Lai Xu Hướng Hợp Tác Đào Tạo Sau Đại Học Việt Nam

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, xu hướng đào tạo sau đại học sẽ ngày càng phát triển mạnh mẽ. Việt Nam cần chủ động nắm bắt cơ hội, vượt qua thách thức để xây dựng một hệ thống giáo dục sau đại học chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Toàn cầu hoá tạo nên những cơ hội và thách thức lớn đối với ngành giáo dục của nước ta, trong đó có giáo dục đại học và SĐH. Nhưng cho đến nay hệ thống giáo dục đại học nước ta chưa sẵn sàng ứng phó với xu hướng toàn cầu hoá và những thách thức của nó.

6.1. Dự Báo Nhu Cầu Nguồn Nhân Lực Chất Lượng Cao

Cần dự báo chính xác nhu cầu nguồn nhân lực chất lượng cao trong tương lai. Cần xác định những lĩnh vực ưu tiên phát triển để tập trung đào tạo. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp trong việc dự báo nhu cầu nhân lực.

6.2. Phát Triển Các Chương Trình Đào Tạo Tiên Tiến

Cần xây dựng các chương trình đào tạo liên ngành, đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động. Cần tăng cường đào tạo theo định hướng ứng dụng, gắn kết với thực tiễn sản xuất. Cần khuyến khích các trường đại học hợp tác với doanh nghiệp để xây dựng chương trình đào tạo.

6.3. Xây Dựng Mạng Lưới Hợp Tác Quốc Tế Rộng Khắp

Cần mở rộng quan hệ hợp tác với các trường đại học, viện nghiên cứu uy tín trên thế giới. Cần xây dựng các chương trình trao đổi giảng viên, sinh viên. Cần thu hút các chuyên gia nước ngoài đến giảng dạy, nghiên cứu tại Việt Nam. Cần tạo điều kiện cho học viên tham gia các khóa học, hội thảo quốc tế.

08/06/2025
Luận văn thạc sĩ chính sách hợp tác với nước ngoài về đào tạo sau đại học của việt nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Cơ sở lý luận của chính sách hợp tác với nước ngoài về đào tạo SĐH trong thời kỳ hội nhập quốc tế. Kinh nghiệm các nước và chính sách nước ta trong đào tạo SĐH Chương 3. Hoàn thiện chính sách HTQT về đào tạo SĐH của nước ta 16 z CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CHÍNH SÁCH HỢP TÁC VỚI NƢỚC NGOÀI VỀ ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP QUỐC TẾ 1.

Tổng quan những công trình nghiên cứu liên quan đến chính sách HTQT về giáo dục đại học nói chung và đào tạo nhân lực SĐH nói riêng.1 Những công trình nghiên cứu ở nước ngoài Từ giữa thế kỷ 10, ở Châu Âu thời Trung cổ đã xuất hiện thuật ngữ Doceo được sử dụng như ngôn ngữ của nhà thờ Thiên chúa giáo có nghĩa là “tôi dạy học”. Với sự thống trị của nhà thờ Châu Âu thời Trung cổ giáo dục đại học phát triển nhất ở Pháp, Đế quốc La Mã và Phổ và một số nước khác như Hy Lạp cổ đại, và mở rộng tới Trung Quốc, Ấn Độ. Ở Pháp, vào năm 1215 được sự đồng ý của Giáo hoàng, thuật ngữ Doceo được sử dụng tại Trường đại học tổng hợp Paris. Giáo dục được chia thành ba cấp, cấp đầu tiên là bachelor (Baccalaureus), cấp thứ hai là magister (licentia ubiquite docendi) và cấp cao nhất là cấp Doctorate (licentia docendi).

Theo hệ thống giáo dục này, sau sáu năm học đại học để có bằng cử nhân, sinh viên sẽ phải học tiếp theo sáu năm nữa để có bằng thạc sĩ hoặc tiến sĩ.org/wiki/doctor). Trong lịch sử phát triển đào tạo SĐH, luật học là môn học đầu tiên được các nhà trường Châu Âu cấp bằng Doctorate (Juris Doctor). Trường đại học tổng hợp Bologna là trường đầu tiên dạy các luật Canon và Roma và cấp bằng Doctorate cho các sinh viên học các môn này. Việc này kéo dài cho đến thế kỷ 13, khi các nhà trường ở các nước nói trên áp dụng việc cấp bằng Doctorate cho cả các môn thần học và y học và tiếp theo đó là cấp bằng Philocophie Doctor (Ph.

Hình thức này phổ biến ở Anh Quốc và các nước Châu Âu, đối với các nước Bắc Mỹ xuất hiện một hình thức đào tạo tương đương với Philocophie Doctor được gọi là Scientific Doctor (Dr. 17 z Châu Âu, Bắc Mỹ là những nước đi đầu trên con đường phát triển đào tạo SĐH. Nhật Bản đến thời Minh Trị cũng đã chú ý đến đào tạo SĐH. Ra khỏi cuộc chiến tranh Nam - Bắc, Hàn Quốc cũng bắt tay vào sự nghiệp này mà nhờ đó Hàn Quốc đã đạt được những thành tích kinh tế diệu kỳ và trở thành nước NIC.

Theo Heather Eggins “Đào tạo tiến sĩ gắn bó chặt chẽ với nhân lực. Đối với bất cứ quốc gia nào, người có bằng tiến sĩ là nhân tố quan trọng trong nguồn nhân lực của quốc gia đó. Họ đóng góp đáng kể vào sự phát triển KH - CN của đất nước họ và là một phần của lực lượng KH - KT trên thế giới. Những tiến sĩ ở các lĩnh vực khác thì cung cấp những kỹ năng quý báu cho bất cứ nước nào họ đến làm việc [149].

Chính vì đào tạo nhân lực SĐH có ý nghĩa cực kỳ quan trọng như vậy nên việc nghiên cứu thực trạng, các xu thế phát triển của nó trong bối cảnh toàn cầu hóa đã thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học từ nhiều nước trên thế giới. Sau đây là một số công trình nghiên cứu tiêu biểu về đề tài này. Nghiên cứu về chính sách Nghiên cứu về chính sách có công trình của Keely Brian [158]. Trong công trình nghiên cứu về nhân lực của mình, tác giả nêu những tác động của toàn cầu hóa, công nghệ thông tin và viễn thông đến các quốc gia như dòng chảy nhân lực, khả năng tạo việc làm.

Xã hội hiện đại đòi hỏi những giá trị của các kỹ năng cao, các công việc phức tạp và sáng tạo. Như vậy hiệu quả kinh tế của các nước phải dựa vào tri thức, kỹ năng, tài năng và năng lực của nhân lực. Nghiên cứu về chính sách giáo dục Trong những công trình nghiên cứu về chính sách giáo dục có các công trình tiêu biểu của một số tác giả sau đây: - Zuber-Skerritt, Ortun Ed., Ryan, Yoni Ed. Vấn đề chất lượng trong đào tạo 18 z SĐH.

Kogan Page Limited, 1994 [175]. Đây là một tập hợp 12 công trình nghiên cứu về chất lượng, đặc trưng nghiên cứu của các trường đại học, các chương trình khuyến khích, đạt tới, duy trì và bảo đảm cả hai việc dạy học và nghiên cứu ở các trường đại học của VQ Anh và Australia. - Quy trình đào tạo tiến sĩ là công trình tập thể của các tác giả Dale F. Karp và Nicolas Cohen [138].

Cuốn sách cung cấp cho sinh viên mong muốn học SĐH những kiến thức cần thiết trong quá trình học SĐH để đạt hiệu quả cao. Đó là hướng dẫn các quy trình cần thiết về các giai đoạn khác nhau của quá trình đào tạo, đăng ký học cao học và tiến sĩ, chọn khóa học, thầy hướng dẫn và các đề án nghiên cứu. - William G, Bowen & Neil L [173]. Có công trình nghiên cứu tổng hợp về đào tạo SĐH ở Mỹ giai đoạn 1960 – 1990 trên cơ sở khảo sát hàng nghìn sinh viên SĐH.

Sau phần khảo sát các tác giả cũng đưa ra những hướng dẫn cho các sinh viên có nguyện vọng tiếp tục học SĐH. - Trong số các nhà khoa học dành nhiều tâm huyết cho nghiên cứu về đào tạo SĐH phải kể đến Phillip G. Altbach, một học giả làm việc tại Trung tâm Quốc tế về đào tạo đại học thuộc đại học Boston, Mỹ. Ông đã có nhiều công trình nghiên cứu về đào tạo đại học và SĐH như: “Đào tạo đại học trong thế kỷ mới” [128]; “Quốc gia đẳng cấp quốc tế nhưng lại thiếu trường đại học đẳng cấp quốc tế: tình thế khó xử của Ấn Độ” [127]; “Chi phí và lợi nhuận của trường đại học đẳng cấp quốc tế” [125], [126].

Trong các công trình này ông đã mô tả thực trạng chung và đặc điểm của đào tạo đại học và SĐH hiện nay và xu thế phát triển của nó trong điều kiện toàn cầu hóa, những cơ hội và thách thức cho các quốc gia chậm và đang phát triển và những tư tưởng đổi mới. Nghiên cứu về chính sách hợp tác quốc tế trong giáo dục 19 z Trong nghiên cứu về chính sách hợp tác quốc tế trong giáo dục đặc biệt đã có nhiều nhà khoa học tập trung nghiên cứu các đặc trưng của các chính sách hợp tác quốc tế truyền thống cũng như hợp tác quốc tế trong điều kiện hội nhập quốc tế hiện nay. Sau đây là một số công trình tiêu biểu: - A. Zakri [174] – là Viện trưởng Viện Khoa học Tiên tiến thuộc Trường đại học Liên Hiệp Quốc.

Trong bài viết của mình ông nêu lên những thách thức đặt ra cho các quốc gia trong việc thực hiện mục tiêu thiên niên kỷ (Millenium Development Goals – MDG). Để giải quyết được những thách thức đặt ra nhằm đạt được các mục tiêu MDG, theo tác giả, nghiên cứu R - D ở các trường đại học đóng vai trò rất lớn. Đặc biệt các trường đại học phải chú ý đến ba yếu tố: năng lực nghiên cứu, tính hữu dụng của nghiên cứu và sản phẩm nghiên cứu. Tác giả cũng đưa ra những số liệu thống kê về đầu tư từ GDP cho R - D, về tỷ lệ các nhà khoa học trên một triệu dân để thấy rõ những khó khăn của các nước đang phát triển.

- UNESCO luôn giành sự quan tâm, chú ý đúng mức cho đào tạo SĐH. Một trong những hoạt động của UNESCO trong lĩnh vực này là tổ chức các hội nghị, hội thảo quốc tế. Gần đây nhất là Hội thảo quốc tế UNESCO “Các xu hướng và các vấn đề của đào tạo SĐH: Những thách thức cho nghiên cứu” được tổ chức tại Trường đại học Thành phố Dublin của CH Airland từ 5-7 tháng 3, 2008. Các báo cáo chính của Hội thảo là: - Heather Eggins, Các xu hướng và vấn đề trong giáo dục SĐH Tác giả đặt giáo dục SĐH trong bối cảnh toàn cầu hóa, những ảnh hưởng của nó đối với các nước trên thế giới nói chung và Châu Âu với sự phát triển của Quá trình Bologna, những lợi thế do giáo dục SĐH mang lại cho các nước khi xây dựng được nhân lực trình độ cao phục vụ cho chuỗi giá trị toàn cầu.

Các chính sách công về giáo dục SĐH, đặc biệt là đối với đào tạo tiến sĩ của các quốc gia mới nổi, sức hút nhân lực chất lượng cao trên thế giới 20 z đến các nước phát triển đã tác động như thế nào đến các chính sách đào tạo SĐH của các chính phủ. Báo cáo cũng đề cập đến dòng chảy sinh viên ra nước ngoài và hậu quả của nó. Cuối cùng là một số giải pháp như nâng cao vai trò của trường đại học, quản lý chất lượng, cải tiến chương trình giảng dạy, chuyển dịch sang đào tạo tiến sĩ chuyên ngành (professional).3) - Mary-Louise Kearney, Giám đốc phụ trách ban thư ký của UNESCO đã đề cập đến những thách thức hiện tại của giáo dục SĐH như cung và cầu, chất lượng và hiệu quả mang lại cho cả hai phía: cơ sở giáo dục và người được đào tạo; Chính sách đổi mới cơ sở hạ tầng và năng lực nhân lực. Tác giả cũng nhấn mạnh vai trò ngày càng tăng của các trường đại học trong nghiên cứu khoa học, đặc biệt là các nước OECD đã đầu tư rất nhiều cho nghiên cứu ở các trường đại học từ đầu những năm 1990, trong đó có nghiên cứu trong giáo dục SĐH, coi đó là nhân tố quan trọng để nâng cao chất lượng trong giáo dục SĐH.

1-4) - Ulrich Teichler, Giám đốc Trung tâm Quốc tế về Đào tạo Đại học và Nghiên cứu, Trường đại học Kassel, CHLB Đức, nhấn mạnh đến ranh giới mờ nhạt hiện tại giữa đào tạo tiến sĩ học thuật (academic) và tiến sĩ chuyên ngành (professional). Trong điều kiện đó các nước công nghiệp có cách tiếp cận quốc gia đối với trình độ được công nhận, quy trình tiếp nhận và con đường nghề nghiệp của các tiến sĩ trong tương lai. Các nước trung bình và thu nhập thấp phải đối mặt với nhu cầu tăng nhanh về trình độ SĐH để phục vụ nhu cầu thị trường lao động. Tác giả cũng chỉ ra những nét chính về phương hướng đào tạo SĐH hiện nay.

24-27) - Khi nói đến chính sách hợp tác quốc tế trong giáo dục cũng cần phải nhắc tới Quá trình (Hiệp ước) Bologna được các bộ trưởng giáo dục của 29 nước Châu Âu ký vào năm 1999.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Chính Sách Hợp Tác Đào Tạo Sau Đại Học Của Việt Nam Trong Thời Kỳ Hội Nhập Quốc Tế" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các chính sách và chiến lược đào tạo sau đại học tại Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa. Tài liệu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hợp tác quốc tế trong giáo dục, nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội. Độc giả sẽ tìm thấy những lợi ích rõ ràng từ việc áp dụng các chính sách này, bao gồm việc cải thiện kỹ năng chuyên môn, tăng cường khả năng cạnh tranh và mở rộng cơ hội nghề nghiệp cho sinh viên.

Để mở rộng thêm kiến thức về các khía cạnh liên quan đến đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, bạn có thể tham khảo các tài liệu sau: Luận văn thạc sĩ kinh tế đào tạo nguồn nhân lực ngành y tế cho khu vực công trên địa bàn thành phố buôn ma thuột tỉnh đăk lăk, nơi khám phá các phương pháp đào tạo trong lĩnh vực y tế, và Luận án ts tác động của hoạt động đào tạo bồi dưỡng tới năng lực quản lý của cán bộ công chức chính quyền cấp xã nghiên cứu tại thành phố cần thơ, tài liệu này phân tích ảnh hưởng của đào tạo đến năng lực quản lý tại cấp xã. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các chính sách và thực tiễn trong lĩnh vực đào tạo nguồn nhân lực tại Việt Nam.