CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG Ở NƯỚC TA 1. Lý luận chung về xóa đói, giảm nghèo và giảm nghèo bền vững 1. Khái niệm đói, nghèo 1. Quan niệm về đói, nghèo Đói, nghèo hiện đang là vấn đề xã hội bức xúc mang tính toàn cầu, là thách thức cản trở lớn đối với sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia, dân tộc.
Đói, nghèo là một hiện tượng kinh tế - xã hội, không chỉ tồn tại ở các quốc gia có nền kinh tế kém phát triển, mà còn tồn tại ở các quốc gia có nền kinh tế phát triển. Tuy nhiên, tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên, thể chế chính trị xã hội và điều kiện kinh tế của mỗi quốc gia nên tính chất, mức độ nghèo đói của từng quốc gia có khác nhau. Đói, nghèo là một khái niệm có tính động, không bất biến mà phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội của từng quốc gia, ở từng giai đoạn nhất định. Cùng với thời gian, quá trình nhận thức về đói, nghèo của con người ngày càng đa dạng và phong phú, mở rộng và đầy đủ hơn.
Hiện nay, chưa có sự thống nhất tuyệt đối trong quan niệm về đói nghèo, bởi vì bản thân quan niệm này đã thay đổi rất nhanh chóng trong suốt ba thập kỷ qua. Đầu những năm 70 của thế kỷ XX, đói, nghèo chỉ được coi là sự đói, nghèo về tiêu dùng, với tư tưởng cốt lõi và căn bản nhất để một người bị coi là đói, nghèo đó là sự “thiếu hụt” so với mức sống nhất định. Mức thiếu hụt này được xác định theo các chuẩn mực xã hội và phụ thuộc vào không gian và thời gian. Tuy nhiên, xã hội ngày càng phát triển, mức sống của con người ngày càng cao hơn, những nhu cầu cho cuộc sống ngày càng nhiều hơn và quan niệm về đói, nghèo cũng được mở rộng ra rất nhiều.
Các yếu tố như nguồn lực người nghèo, mối quan hệ xã hội, khả năng tham gia vào các hoạt động văn hóa, xã hội và khả năng bảo vệ, chống đỡ các rủi ro đã được đưa vào nội dung của khái niệm đói, nghèo. Trong báo cáo phát triển con người năm 1997, Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) đã đề cập đến khái niệm đói, nghèo về năng lực, khác 7 với quan niệm đói, nghèo về thu nhập. Theo đó, đói, nghèo được tính đến điều kiện khó khăn trong phát triển con người cơ bản. Trong báo cáo về tình hình thực hiện mục tiêu thiên niên kỷ của Liên hợp quốc năm 2003, đã nhấn mạnh sự cần thiết đưa phương pháp tiếp cận đói, nghèo trên cơ sở quyền lợi cơ bản của con người bao gồm về kinh tế, văn hóa, xã hội, chính trị và dân sinh.
Ở Việt Nam, quan niệm đói, nghèo cũng ngày càng được mở rộng. Nếu như những năm cuối thế kỷ XX nhu cầu hỗ trợ người nghèo chỉ giới hạn đến các nhu cầu tối thiểu như ăn no, mặc ấm, thì ngày nay người nghèo còn có nhu cầu hỗ trợ về nhà ở, giáo dục, y tế, văn hóa… tức là nhu cầu giảm nghèo và phát triển. Điều này có nghĩa là, các chính sách phát triển kinh tế cần hướng về người nghèo. Tăng trưởng kinh tế là cần thiết, nhưng lợi ích từ tăng trưởng không tự động chuyển đến cho người nghèo.
Người nghèo cần trở thành mục tiêu trong việc hoạch định các chính sách phát triển. Khi nghiên cứu đến vấn đề đói, nghèo, đã có nhiều cách định nghĩa khác nhau của các học giả, các nhà khoa học. Hội nghị bàn về giảm đói nghèo trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương do ASCAP tổ chức tháng 9/1993 tại Băng Cốc (Thái Lan) đã định nghĩa về nghèo như sau: “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người, mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của địa phương”. Đây là khái niệm khá đầy đủ về đói, nghèo, được nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam sử dụng.
Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức tại Copenhaghen (Đan Mạch) tháng 3/1995 đã đưa ra định nghĩa về đói nghèo như sau: “Người nghèo là người mà tất cả những thu nhập của họ nhỏ hơn 1USD/ngày, đây là số tiền được coi như đủ mua những sản phẩm cần thiết để tồn tại”. Theo quan niệm của Liên hợp quốc, nghèo có hai dạng: Nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối. Nghèo tuyệt đối là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu tối thiểu để duy trì cuộc sống về ăn (thiếu ăn nhưng không đứt bữa), mặc, ở, vệ sinh, y tế, giáo dục. Nghèo tương đối là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới trung bình của cộng đồng địa phương hay một nước.
8 Theo định nghĩa của Ngân hàng Thế giới, nghèo là bần cùng hoá về phúc lợi. Theo nghĩa hẹp thì nghèo khổ được hiểu là sự thiếu thốn các điều kiện thiết yếu của cuộc sống. Tuy vậy, nghèo khổ cần được hiểu theo nghĩa rộng hơn từ khía cạnh về phát triển toàn diện con người, tức là nghèo khổ xét theo gốc độ đa chiều là việc loại bỏ các cơ hội và sự lựa chọn cơ bản nhất cho phát triển toàn diện con người. Nghèo khổ đa chiều là nghèo khổ tổng hợp hay nghèo khổ con người.
Nghèo khổ đa chiều bao gồm nghèo về vật chất, nghèo về con người và nghèo về xã hội. Biểu hiện của nghèo về con người là sức khoẻ yếu do không tiếp cận đến dinh dưỡng và chăm sóc sức khoẻ đầy đủ; không có kiến thức (mù chữ) và trình độ chuyên môn, do không được tiếp cận đến giáo dục. Biểu hiện của nghèo về xã hội chính là sự tách biệt xã hội của những người nghèo, họ là những nhóm yếu thế và hầu như không có tiếng nói trong xã hội. Cách tiệp cận về nghèo đói đa chiều giúp cho các nhà hoạch định chính sách đưa ra các chính sách giảm nghèo bền vững hơn như hỗ trợ người nghèo thoát nghèo không chỉ về vật chất, mà xoá nghèo về con người và nghèo về xã hội.
Ở Việt Nam giai đoạn (2016 – 2020), Chính phủ đã áp dụng tiêu chí tiếp cận nghèo đa chiều. Tuy có nhiều quan niệm khác nhau, nhưng có thể khái quát quan niệm về đói, nghèo được thể hiện trên một số khía cạnh chủ yếu sau: + Không có hoặc ít được hưởng thụ những nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu của cuộc sống con người. + Mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư địa phương. + Thiếu hoặc không có cơ hội lựa chọn để tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng.
Cần khẳng định rằng: Đói có thể xóa được, nhưng nghèo chỉ có thể giảm chứ không thể xóa được. Giảm nghèo là một phạm trù lịch sử vì nghèo vẫn luôn tồn tại trong xã hội, do sự khác biệt về năng lực, thể chất, nguồn gốc thu nhập chính đáng, địa vị xã hội giữa các cá nhân. Vì thế chỉ có thể từng bước giảm nghèo chứ chưa thể tiến tới xóa nghèo. Chuẩn nghèo Chuẩn nghèo hay còn gọi là đường nghèo, ngưỡng nghèo hoặc tiêu chí nghèo là công cụ để phân biệt người nghèo và người không nghèo.
Theo từ điển tiếng Việt thì: “Chuẩn có nghĩa là cái chọn làm căn cứ để đối chiếu, để hướng theo đó mà làm cho đúng, vật được chọn làm mẫu để thể hiện một đơn vị đo lường; cái được công nhận là đúng theo quy định hoặc đúng theo thói quen trong xã hội”. Như vậy, “chuẩn” mang tính định lượng. Từ đó, ta có thể hiểu chuẩn nghèo nghĩa là mốc giới hạn do Nhà nước hay tổ chức quốc tế quy định về mức thu nhập mà nếu ai có thu nhập thấp hơn mức này gọi là nghèo, còn ai vượt qua giới hạn đó thì họ không phải là người nghèo. Chuẩn nghèo là công cụ để phân biệt giữa người nghèo và người không nghèo.
Giữa chuẩn nghèo và tỷ lệ hộ nghèo có quan hệ tỷ lệ thuận với nhau, nếu chuẩn nghèo cao thì tỷ lệ hộ nghèo cao và ngược lại. Tiêu chí xác định chuẩn nghèo đói là công cụ quan trọng để xác định mức độ và tình hình đói nghèo. Đây là khái niệm “động”, nó khác nhau giữa các quốc gia, giữa những tổ chức quốc tế và thay đổi theo thời gian. - Chỉ số xác định đói nghèo của thế giới: Chuẩn nghèo có sự biến động theo thời gian và không gian.
Ngân hàng thế giới (WB) đưa ra thước đo nghèo đói như sau: Các nước công nghiệp phát triển 14USD/ngày/người; các nước Đông Á: 4USD/ngày/người; các nước thuộc Mỹ latinh và vùng Caribê 2USD/ngày/người; các nước đang phát triển 1USD/ngày/người; các nước nghèo, một số người được coi là đói nghèo: thu nhập dưới 0,5USD/ngày/người [28, tr 19]. Tuy nhiên, các quốc gia đều đưa ra chuẩn đói, nghèo riêng của nước mình và thường thấp hơn chuẩn đói nghèo mà WB khuyến nghị. Chẳng hạn, Mỹ đưa ra chuẩn đói nghèo là thu nhập dưới 16.000 USD đối với một bộ phận gia đình (04 người) trong 1 năm, tương ứng 11,1 USD/ngày/người. Trung Quốc chuẩn nghèo là 960 NDT/năm/người, tương đương 0,33 USD/ngày/người [28, tr 20].
- Chuẩn đói, nghèo ở Việt Nam: Ở Việt Nam, Bộ Lao động - Thương binh và xã hội là cơ quan thường trực thực hiện chương trình mục tiêu Quốc gia về xóa đói giảm nghèo, đã tiến hành rà soát chuẩn nghèo qua các thời kỳ. Đã có 06 lần công bố chuẩn nghèo đói cho từng khu vực khác nhau, được điều chỉnh theo từng giai đoạn, phù hợp với sự phát triển của đất nước. 10 Chuẩn nghèo là công cụ để đo lường và giám sát nghèo đói. Một thước đo nghèo đói tốt sẽ cho phép đánh giá tác động các chính sách của Chính phủ tới nghèo đói, cho phép đánh giá nghèo đói theo thời gian, tạo điều kiện so sánh với các nước khác, và giám sát chi tiêu xã hội theo hướng có lợi cho người nghèo.
Hầu hết chuẩn nghèo dựa vào thu nhập hoặc chi tiêu. Những người được coi là nghèo khi mức sống của họ đo qua thu nhập hoặc chi tiêu thấp hơn mức tối thiểu chấp nhận được, tức là thấp hơn chuẩn nghèo.