Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG Ở DÂN TỘC CHĂM HUYỆN AN PHÚ TỈNH AN GIANG 1. Khái niệm dân tộc, người nghèo, giảm nghèo và phát triển bền vững Thuật ngữ dân tộc: Thuật ngữ “dân tộc” ở Việt Nam được hiểu là một cộng đồng chính trị - xã hội, trong đó bao gồm 54 tộc người cùng cư trú, sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam và được quản lý bởi Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Còn dân tộc - theo nghĩa hẹp - để chỉ một cộng đồng mang tính tộc người, tương ứng với thuật ngữ tộc người (ethnic) như dân tộc (tộc người) Kinh (Việt), dân tộc (tộc người) Khmer, Chăm… Ngoài ra, từ người (People) còn được dùng vừa có nghĩa là dân tộc (người Việt Nam) và vừa có nghĩa là tộc người (người Hoa, người Chăm, người Khmer…). Thuật ngữ dân tộc (tộc người) thiểu số đã được giải thích rõ ràng và được sử dụng chính thức trong các văn kiện của Đảng và Nhà nước ta.
Dân tộc Chăm được sử dụng trong trình bày luận văn được hiểu là dân tộc/ tộc người, một cộng đồng hiện hữu trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Thuật ngữ dân tộc (tộc người) bản địa hay tại chỗ hiện nay vẫn còn có nhiều ý kiến khác nhau. Các nhà nghiên cứu dân tộc học ở nước ta thường sử dụng thuật ngữ dân tộc (tộc người) tại chỗ thay cho thuật ngữ dân tộc (tộc người) bản địa để phân biệt với dân tộc (tộc người) di cư. Tuy nhiên, nội hàm của thuật ngữ tộc người tại chỗ không phản ánh được một cách cụ thể và xác thực về sự hình thành và phát triển của các tộc người này.
Các thuật ngữ dân tộc Chăm, đồng bào Chăm sử dụng trong luận văn này được hiểu tương đương nội dung trong khái niệm đã nêu. Nghèo và giảm nghèo: Hiện có nhiều quan niệm khác nhau về nghèo, và nhìn chung các quan niệm đều được phản ánh trên các khía cạnh: được hưởng thụ những nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu của cuộc sống con người, mức sống thấp hơn mức trung bình của cộng đồng dân cư địa phương; thiếu hoặc không có cơ hội lựa chọn để tham gia vào quá trình 8 phát triển của cộng đồng. Để làm rõ mức độ nghèo, người ta chia thành 2 loại: Nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối. Nghèo tuyệt đối (nghèo thu nhập): Dựa vào mức chi tiêu cần thiết để đảm bảo một người có thể mua được một lương thực, thực phẩm tương đương 2100 - 2300 kcalo/người/ngày.
Đây là thước đo dễ lượng hóa để mô tả tình trạng nghèo. Nghèo tương đối: Những người nghèo tương đối là những người phải đấu tranh để sinh tồn trong các thiếu thốn tồi tệ và trong tình trạng bỏ bê và mất phẩm cách vượt qua sức tưởng tượng mang dấu ấn của cảnh ngộ may mắn của giới tri thức chúng ta” Ở Việt Nam chúng ta cũng thấy: “Xã nghèo là xã có trên 40% tổng số hộ nghèo, không có hoặc có rất ít những cơ sở hạ tầng thiết yếu, trình độ dân trí theo tỉ lệ mù chữ cao”. Còn về vùng nghèo là chỉ không gian có thể là một số xã liền kề nhau nằm ở vị trí rất khó khăn, không có điều kiện phát triển sản xuất đảm bảo cuộc sống và là vùng có số hộ nghèo cao. Bên cạnh nghèo hiện nay, ở nước ta còn dùng nhiều đến thuật ngữ tái nghèo để chỉ những hộ đã thoát được nghèo (theo tiêu chí, tiêu chuẩn trước đó) nhưng sau do nhiều lý do (tăng chuẩn nghèo…) hoặc do làm ăn thất bát…, lại rơi vào tình trạng nghèo (tái nghèo).
Khái niệm nghèo có thể thống nhất về mặt định tính song không thể thống nhất về mặt định lượng. Các quốc gia khác nhau, các vùng khác nhau trong một quốc gia thì mức sống của người dân cũng khác nhau. Định lượng của mức nghèo cũng biến động theo thời gian tương ứng với sự biến động về sự phát triển KT-XH theo vùng, theo quốc gia đó. Tiêu chí xác định nghèo Khái niệm nghèo không mang ý nghĩa tuyệt đối; Người nghèo ở quốc gia này, vùng này có thể không nghèo so với quốc gia khác.
Các quốc gia khác nhau sử dụng các tiêu chuẩn khác nhau để đánh giá mức độ giàu nghèo. Mỗi quốc gia xây dựng một thước đo mức độ nghèo riêng thông qua những tiêu chí cụ thể được xác định gọi là chuẩn nghèo và lấy đó làm cơ sở xác định tỷ lệ nghèo của mình. Chuẩn nghèo: là 9 thước đo xác định số lượng người nghèo và đánh giá mức độ nghèo. Vì vậy, chỉ ra giới hạn nghèo được coi là bước đầu tiên để tiến hành đánh giá về thực trạng nghèo.
Chuẩn nghèo: Theo đó những người hoặc những hộ có thu nhập hoặc chi tiêu bình quân đầu người thấp hơn chuẩn nghèo được coi là người nghèo hoặc hộ nghèo. Chuẩn mực nghèo luôn thay đổi và tùy thuộc vào trình độ phát triển của các quốc gia. Chuẩn nghèo là số tiền đảm bảo mức tiêu dùng thiết yếu (bao gồm cả lương thực thực phẩm và phi lương thực thực phẩm) cho 1 người trong 1 tháng. Ngưỡng nghèo hay mức nghèo: Ngưỡng nghèo là mức chi dùng tối thiểu, được xác định như tổng số tiền chi cho giỏ hàng tiêu dùng trong thời hạn nhất định, bao gồm một lượng tối thiểu lương thực thực phẩm và đồ dùng cá nhân, cần thiết để bảo đảm cuộc sống và sức khỏe một người ở tuổi trưởng thành, và các khoản chi bắt buộc khác.
Đó là công cụ để đo tỷ lệ nghèo trong xã hội, một chỉ số quan trọng phản ánh mức sống của xã hội về mặt thu nhập cá nhân. Ngưỡng nghèo là ranh giới giúp phân biệt giữa người nghèo và người không nghèo. Mức đó có thể được tính bằng tiền tệ hoặc phi tiền tệ. Có ngưỡng nghèo tuyệt đối và tương đối.
Ngưỡng nghèo tuyệt đối: Là chuẩn tuyệt đối về mức sống được coi là tối thiểu cần thiết để cá nhân hoặc hộ gia đình có thể tồn tại khỏe mạnh bao gồm hai loại: Ngưỡng nghèo lương thực thực phẩm là số tiền cần thiết để mua lương thực, thực phẩm hàng ngày; Ngưỡng nghèo chung là số tiền cần thiết để mua lương thực, thực phẩm và cả phần chi tiêu cho các sản phẩm phi lương thực. Ngưỡng nghèo tương đối: được xác định theo phân phối thu nhập hoặc tiêu dùng chung trong cả nước. Ngưỡng nghèo tương đối phản ánh một bộ phận dân cư sống dưới mức trung bình của cộng đồng. Tỷ lệ nghèo: là số phần trăm số người hoặc số hộ có mức sống thấp hơn chuẩn nghèo trong tổng số người hoặc số hộ nghiên cứu.
Một số nước chọn thước đo đơn chiều và thước đo đa chiều. Thước đo đơn chiều:“Thước đo này đo khía cạnh kinh tế 10 của mức sống và được tính theo thu nhập hoặc chi tiêu bình quân đầu người của hộ gia đình từ các cuộc điều tra thu nhập, chỉ tiêu hoặc điều tra mức sống hộ gia đình”. Cũng có một số quốc gia lựa chọn thu nhập làm thước đo đơn chiều, mức sống cho rằng: Thu nhập phản ánh thực chất mức sống của các hộ gia đình hơn là chi tiêu. Các nước chọn chi tiêu làm thước đo đơn chiều, mức sống lại cho rằng: Độ chính xác của số liệu chi tiêu điều tra thường cao hơn so với số liệu điều tra về thu nhập, mức chi tiêu phản ánh trực tiếp mức sống của các hộ hơn là thu nhập.
Trong khi thu nhập thường có tính ổn định không cao trong một thời kỳ nhất định. Thước đo đa chiều: Xem xét mức sống của dân cư một cách đầy đủ hơn, toàn diện hơn. Nó đo lường mức sống cả mặt kinh tế lẫn chất lượng cuộc sống theo các khía cạnh khác nhau như: Tình trạng phi tiền tệ, tình trạng dễ bị tổn thương, rủi ro, quyền tự do, bị gạt ra ngoài lề xã hội, bị phân biệt đối xử bị vi phạm quyền con người…Việc đo lường mức sống theo đa chiều là việc xác định các chỉ tiêu để đo các chiều và việc gộp các chiều thành độ đo đơn hay để riêng từng chiều và sử dụng trọng số của các chiều. “Tuy nhiên, do khó khăn về số liệu nên trong thực tế thước đo nghèo đa chiều chỉ đo lường sự phát triển con người về 3 chiều: tuổi thọ bình quân, trình độ học vấn và chất lượng cuộc sống đo bằng GDP thực tế bình quân đầu người tính theo sức mua tương đương (Purchasing Power Parity -PPP$)”.
Rõ ràng, thước đo nghèo đơn chiều và thước đo nghèo đa chiều về đều có những ưu nhược điểm hay tác động đến giảm nghèo khác nhau. Thước đo nghèo đơn chiều giải quyết các vấn đề nghèo một cách ngắn hạn trong khi thước đo đa chiều giải quyết nghèo ở dài hạn. Chính sách giảm nghèo: Chính sách ở đây được hiểu là chính sách công. Hiện nay trên thế giới khái niệm chính sách công cũng được hiểu theo nhiều cách khác nhau.
“Chính sách công là một tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của Nhà nước nhằm lựa chọn mục tiêu cụ thể và giải pháp, công cụ thực hiện giải quyết các vấn đề của xã hội theo mục tiêu tổng thể đã xác định”. 11 Khái niệm “chính sách” và “chính sách công” được dùng rất phố biến trong các lĩnh vực đời sống kinh tế và xã hội ở mọi quốc gia. Hiện nay, có nhiều định nghĩa khác nhau về các khái niệm này. Tóm lại, dù có nhiều quan niệm và cách tiếp cận khác nhau từ nhiều góc độ xem xét, có thể tạm đưa ra khái niệm về chính sách như sau: Chính sách là những quyết định hướng đến hành động của chủ thể quản lý với các hiện tượng tồn tại trong quá trình vận động phát triển để nhằm đạt mục tiêu nhất định cho hệ thống hoặc tổ chức.
Theo Hồ Việt Hạnh, chính sách công là những quyết định của chủ thể được trao quyền lực công nhằm giải quyết những vấn đề vì lợi ích chung của cộng đồng. [Hồ Việt Hạnh (2017) “Bàn về khái niệm chính sách công”, Tạp chí Nhân lực khoa học xã hội, số 17, tr. Theo Văn Tất Thu, chính sách công là chính sách của nhà nước đối với khu vực công cộng, phản ánh bản chất, tính chất của nhà nước và chế độ chính trị trong đó nhà nước tồn tại; đồng thời phản ánh ý chí, quan điểm, thái độ, cách xử sự của đảng chính trị phục vụ cho mục đích của đảng cầm quyền, lợi ích và nhu cầu của nhân dân [Văn Tất Thu (2017) “Bản chất, vai trò của chính sách công”].