Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Chính sách công của nghiên cứu sinh Bùi Nghĩa, với đề tài "Chính sách đối với người cao tuổi ở Việt Nam hiện nay", được thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (năm 2018), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Trần Đình Hảo. Luận án tập trung nghiên cứu toàn diện khung chính sách công dành cho người cao tuổi trong bối cảnh già hóa dân số đang diễn ra nhanh chóng tại Việt Nam.
Tính cấp thiết của luận án được luận giải thông qua bốn luận điểm chính:
- Sự gia tăng nhanh chóng về số lượng và tỷ lệ người cao tuổi: Số liệu thống kê qua các kỳ Tổng điều tra dân số cho thấy tỷ lệ người từ 60 tuổi trở lên tăng từ 7,07% (năm 1979) lên 7,2% (năm 1989), tiếp tục tăng vào năm 2008. Giai đoạn 2009–2010 ghi nhận tỷ lệ người từ 60 tuổi trở lên tăng từ 8,67% lên 9,4%, và nhóm từ 65 tuổi trở lên tăng từ 6,4% lên 6,8% (Hà Anh, 2012). Đến năm 2012, tỷ lệ này đạt 10,2% và năm 2014 là 10,5% (Ngân Anh, 2015). Dự báo đến năm 2020, tỷ lệ người cao tuổi chiếm 18% và đạt 30% vào năm 2030 (Hồng Sơn, 2012), khiến nhu cầu chăm sóc an sinh xã hội gia tăng tương ứng.
- Điều kiện kinh tế và tình trạng sức khỏe của người cao tuổi còn nhiều hạn chế: Theo Tổng điều tra dân số năm 2009, có 72,5% người cao tuổi sinh sống tại khu vực nông thôn; chỉ khoảng 16% – 17% có lương hưu hoặc trợ cấp mất sức lao động, hơn 10% hưởng trợ cấp người có công (Nguyễn Đình Cừ, 2014). Hơn 70% người cao tuổi phải tự lao động kiếm sống hoặc sống phụ thuộc vào con cháu. Về mặt y tế, Điều tra quốc gia về người cao tuổi năm 2011 chỉ ra 56% người cao tuổi có sức khỏe yếu và rất yếu, trung bình một cá nhân mắc 2,7 bệnh mạn tính.
- Bất cập trong hệ thống chính sách và công tác thực thi: Mặc dù Luật Người cao tuổi (2009) và Chương trình hành động quốc gia về người cao tuổi giai đoạn 2012–2020 đã được ban hành, việc triển khai trên thực tế còn bộc lộ nhiều điểm nghẽn. Người cao tuổi tại vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số gặp khó khăn trong việc tiếp cận các dịch vụ y tế định kỳ, lập sổ theo dõi sức khỏe, cũng như hưởng các chế độ ưu đãi giảm giá vé dịch vụ văn hóa, giao thông.
- Khoảng trống lý luận về chính sách công đối với người cao tuổi: Phần lớn các công trình trong nước trước đây chỉ tập trung vào các nội dung chăm sóc riêng lẻ mà chưa phân tích đầy đủ các yếu tố cấu thành chính sách (mục tiêu, nội dung, phương pháp, công cụ), các yếu tố tác động (môi trường chính trị, kinh tế - xã hội, năng lực hoạch định và thực thi) và chu trình chính sách hoàn chỉnh.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
Mục đích nghiên cứu của luận án là tìm hiểu thực trạng chính sách đối với người cao tuổi ở Việt Nam hiện nay, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách đối với nhóm đối tượng này. Để thực hiện mục đích trên, luận án xác định bốn nhiệm vụ cụ thể:
- Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến chính sách đối với người cao tuổi trong và ngoài nước.
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận liên quan đến chính sách đối với người cao tuổi.
- Phân tích, đánh giá thực trạng chính sách đối với người cao tuổi hiện nay ở Việt Nam.
- Xác định mục tiêu, quan điểm và đề xuất các nhóm giải pháp hoàn thiện chính sách đối với người cao tuổi.
Câu hỏi nghiên cứu:
- Câu hỏi nghiên cứu chung: Cần có giải pháp nào để chính sách đối với người cao tuổi đáp ứng được nhu cầu của người cao tuổi ở Việt Nam hiện nay?
- Các câu hỏi nghiên cứu cụ thể:
- Chính sách đối với người cao tuổi hiện nay đã đáp ứng được mong đợi của người cao tuổi hay chưa?
- Chính sách đối với người cao tuổi hiện nay đã được hoàn chỉnh về mặt nội dung hay chưa?
Giả thuyết nghiên cứu:
- Giả thuyết 1: Chính sách đối với người cao tuổi chưa đáp ứng được mong đợi của người cao tuổi.
- Giả thuyết 2: Chính sách đối với người cao tuổi hiện nay còn nhiều hạn chế về nội dung.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Chính sách đối với người cao tuổi ở Việt Nam hiện nay.
- Phạm vi nội dung: Luận án tập trung vào hai khía cạnh chính gồm: (1) Mức độ đáp ứng mong đợi của chính sách đối với người cao tuổi và (2) Thực trạng nội dung văn bản chính sách đối với người cao tuổi.
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu thực nghiệm được tiến hành tại 08 tỉnh, thành phố đại diện cho các vùng miền gồm: Hà Nội, Ninh Bình, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Bình Định, Tiền Giang, Cà Mau và Thành phố Hồ Chí Minh.
- Phạm vi thời gian: Khảo cứu tiến trình chính sách từ sau năm 1945 đến nay; dữ liệu khảo sát thực địa được thu thập vào năm 2017.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tài liệu của luận án được cấu trúc theo hai nhóm nghiên cứu quốc tế và năm nhóm nghiên cứu trong nước:
Các hướng nghiên cứu quốc tế
- Chính sách đối với người cao tuổi tại các quốc gia: Paul và Sheila (2013) nghiên cứu khu vực Tây Phi, chỉ ra tình trạng thiệt thòi của người cao tuổi nông thôn và đề xuất đảm bảo mức thu nhập cơ bản cho công dân từ 60 tuổi trở lên. Narknisorn và Kusakabe (2013) phân tích quy trình chính sách áp đặt từ trên xuống (top-down) ở Thái Lan, chỉ ra việc bỏ qua đặc thù gia đình và nhu cầu thực tế. Ilmakunnas và Takala (2005) khảo sát vấn đề việc làm của người cao tuổi tại Phần Lan trong bối cảnh hưu sớm và áp lực lao động nhập cư. Vaughan (1998) phân tích hệ thống an sinh ba cấp độ tại Ireland (cấp 1: bảo hiểm và hỗ trợ xã hội do nhà nước đóng vai trò chủ đạo; cấp 2: trợ cấp nghề nghiệp; cấp 3: trợ cấp xã hội bổ sung). Zhuqing (2012) nghiên cứu thực trạng chất lượng sống của người cao tuổi tại Trung Quốc và đề xuất 8 nhóm giải pháp (mở rộng độ bao phủ trợ cấp tối thiểu, ban hành luật chống bạo hành, củng cố bảo hiểm y tế, tạo việc làm, phát huy hiệp hội người cao tuổi, giáo dục suốt đời, đa dạng hóa kênh chăm sóc và giảm phân biệt đối xử).
- Khía cạnh tâm lý, nhân cách và nhân phẩm: Agich (2010) tiếp cận chính sách từ góc độ bảo đảm nhân phẩm. Tadd và Bayer (2006) làm rõ các khía cạnh nhân phẩm trong chăm sóc y tế tại châu Âu (giao tiếp, tính riêng tư, cảm giác tổn thương). Stratton và Tadd (2005) khảo sát tại Anh, Ireland, Tây Ban Nha, Pháp, Slovakia và Thụy Sỹ về định kiến xã hội và gánh nặng chăm sóc đặt lên vai phụ nữ trong gia đình.
Các hướng nghiên cứu trong nước
- Nghiên cứu mô tả về đặc điểm người cao tuổi: Bế Quỳnh Nga (2005) mô tả khía cạnh sinh học cơ bản (tuổi cao, sức yếu, giảm sức lao động). Cục Bảo trợ xã hội (2012) hệ thống hóa chi tiết các bệnh mạn tính đặc thù, các thay đổi tâm lý (hướng về quá khứ, cô đơn, sợ cái chết), phân chia bốn giai đoạn lứa tuổi (60–69, 70–79, 80–90 và trên 90 tuổi) cùng các vai trò xã hội. Lê Văn Khảm (2014) nhận diện thách thức về thu nhập, biến đổi cấu trúc gia đình và nguy cơ sức khỏe.
- Nghiên cứu chất lượng sống và nhu cầu chăm sóc: Lindholm và cộng sự (2011) khảo sát nhu cầu sinh hoạt hàng ngày ở nông thôn theo ba mức độ (cơ bản, sinh hoạt, tư duy), chỉ ra người hỗ trợ chủ yếu là con cháu và nhu cầu phụ thuộc nghịch biến vào học vấn, tình trạng hôn nhân. Ninh Thị Hà và cộng sự (2014) khảo sát 275 người cao tuổi bị tăng huyết áp tại nông thôn, sử dụng kiểm định T-test và ANOVA để đánh giá chất lượng sống. Lê Văn Hội và cộng sự (2012) khảo sát mức độ sẵn sàng chi trả dịch vụ chăm sóc, ghi nhận xu hướng ưa chuộng dịch vụ lưu động thay vì trung tâm tập trung.
- Nghiên cứu từ góc độ gia đình: Bế Quỳnh Nga (2015) phân tích xu hướng tách hộ ở nông thôn và sự tham gia của người cao tuổi vào các đoàn thể, câu lạc bộ. Luận văn Thạc sĩ Xã hội học của Bùi Nghĩa (2007) khảo sát 48 trường hợp tại quận Thủ Đức (Thành phố Hồ Chí Minh) về vai trò của các thành viên gia đình trong việc chăm sóc người cao tuổi.
- Nghiên cứu chăm sóc tại cơ sở bảo trợ: Nguyễn Thị Hoa và Nguyễn Thị Sánh (2014) nghiên cứu tình trạng trầm cảm tại Trung tâm Bảo trợ xã hội Đà Nẵng. Đề tài của Khoa Xã hội học (Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội) khảo sát nhu cầu quan hệ xã hội và tình cảm của người cao tuổi cô đơn tại Trung tâm Bảo trợ xã hội IV (Ba Vì, Hà Nội). Nguyễn Phương Lan (2000) tiếp cận văn hóa qua ba hình thái giao tiếp (với tự nhiên, với siêu nhiên và với con người). Ngô Ngọc Mị và cộng sự (2014) khảo sát nhu cầu tinh thần tại chùa Lâm Quang và nhà dưỡng lão Tân Thông Hội (Thành phố Hồ Chí Minh). Lê Thị Hồng Phúc (2014) đề xuất mô hình trung tâm tư vấn miễn phí.
- Nghiên cứu về chính sách và bảo trợ xã hội: Nguyễn Hữu Dương (1999) phân tích chính sách xã hội đối với người già qua các thời kỳ lịch sử. Nguyễn Văn Đồng (2017) đánh giá 8 năm thi hành Luật Người cao tuổi trên Tạp chí Xã hội học. Trịnh Duy Luân (2016) đánh giá tính hệ thống và mức độ đầy đủ của chính sách chăm sóc. Trịnh Duy Luân và Trần Thị Minh Thi (2017) phân tích sự dịch chuyển trách nhiệm chăm sóc từ gia đình sang khu vực công và thị trường. Đàm Viết Cường và cộng sự (2007) đánh giá thực thi chính sách y tế và Pháp lệnh Người cao tuổi. Hoàng Mộc Lan (2011) nghiên cứu mối liên hệ giữa đời sống tinh thần và nhu cầu tạo thu nhập. Nguyễn Xuân Thanh và Lindholm (2012) nghiên cứu thực nghiệm tác động của Quỹ khám chữa bệnh cho người nghèo các năm 2001, 2003, 2005 và 2007. Đề tài của Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em (2005–2006) đánh giá các mô hình chăm sóc tập trung và bán ngày. Lê Ngọc Lân (2010) nghiên cứu các vấn đề cơ bản về người cao tuổi giai đoạn 2011–2020. Giang Thanh Long (2013) phân tích hệ thống hưu trí và trợ cấp xã hội cho người cao tuổi nông thôn.
Khoảng trống nghiên cứu mà luận án giải quyết:
- Thiếu khung lý thuyết chuyên biệt về chính sách công đối với người cao tuổi, bao gồm các yếu tố cấu thành, các yếu tố tác động và quy trình chính sách ba giai đoạn (hình thành, thực thi, đánh giá/điều chỉnh).
- Chưa có công trình tái hiện hệ thống lịch sử hình thành và phát triển chính sách đối với người cao tuổi ở Việt Nam từ sau năm 1945 đến nay.
- Thiếu nghiên cứu tổng quát hóa mục tiêu và các nội dung cốt lõi của hệ thống chính sách hiện hành.
- Thiếu khảo sát thực nghiệm liên địa phương quy mô lớn đánh giá thực trạng chính sách dựa trên mức độ đáp ứng mong đợi của người thụ hưởng và mức độ hoàn thiện về mặt nội dung văn bản từ góc nhìn của đội ngũ cán bộ quản lý.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết
Luận án vận dụng hai lý thuyết chính sách làm khung phân tích:
- Lý thuyết về cộng đồng chính sách (Policy Community Theory): Luận án tiếp cận chính sách công từ góc độ các chủ thể tham gia vào quy trình chính sách (Ngô Hoài Sơn). Theo cách phân loại của Sapru (2004), cộng đồng chính sách bao gồm bốn nhóm chủ thể tương tác với nhau: các cá nhân trong xã hội, giới truyền thông, các nhóm lợi ích (nhóm áp lực) và đảng chính trị. Dựa trên các công trình nền tảng của Homeshaw (1995), Pross (1992), Bell (1992), Atkinson & Coleman (1993), Wilks & Wright (2004), lý thuyết này được luận án sử dụng để phân tích mức độ tham gia, tính đại diện và vị thế của người cao tuổi – vốn là nhóm đối tượng thụ hưởng nhưng thường giữ tiếng nói yếu thế trong quá trình hoạch định và thực thi chính sách tại Việt Nam.
- Lý thuyết chính sách dựa trên bằng chứng (Evidence-Based Policy): Xuất phát điểm từ nghiên cứu của Archibald Cochrane (1980) trong y khoa (Effectiveness and Efficiency: Random Reflections on Health Services), sau đó được Martinson (1980), Văn phòng Đánh giá Công nghệ Hoa Kỳ, cùng các tác giả Hovland (2005), Bullock, Mountford & Stanley (2001), Davies (2004), Ehrenberg (1999), Hornby & Perera (2002) phát triển trong khoa học chính sách. Lý thuyết này nhấn mạnh việc hoạch định chính sách phải dựa trên dữ liệu thống kê, điều tra thực chứng có độ tin cậy cao. Luận án sử dụng lý thuyết này để kiểm định xem các văn bản chính sách dành cho người cao tuổi ở Việt Nam đã dựa trên các bằng chứng thực tế hay chưa.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án kết hợp phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, quan điểm lịch sử - cụ thể, quan điểm toàn diện với các phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Tiến hành phỏng vấn 40 người cao tuổi thuộc diện nhận trợ giúp xã hội tại 08 tỉnh, thành phố (Hà Nội, Ninh Bình, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Bình Định, Tiền Giang, Cà Mau, Thành phố Hồ Chí Minh). Tại mỗi địa phương lựa chọn 05 người, cơ cấu mẫu gồm 20 nam và 20 nữ; 50% sinh sống tại đô thị và 50% sinh sống tại nông thôn. Dữ liệu định tính được phân tích nhằm kiểm định Giả thuyết 1.
- Phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi:
- Mẫu người cao tuổi: Khảo sát 500 người cao tuổi tại 08 tỉnh, thành phố nêu trên (Thành phố Hồ Chí Minh: 80 người; 07 tỉnh/thành còn lại: 60 người/địa phương). Tỷ lệ phân bổ mẫu: 50% nam, 50% nữ; 50% thành thị, 50% nông thôn. Số phiếu thu về là 490, số phiếu hợp lệ đưa vào xử lý là 485 phiếu. Mẫu này phục vụ kiểm định Giả thuyết 1.
- Mẫu cán bộ, công chức: Khảo sát 30 cán bộ, công chức phụ trách công tác xã hội tại Sở Lao động - Thương binh và Xã hội của 08 tỉnh, thành phố (mỗi thành phố trực thuộc Trung ương chọn 05 cán bộ; mỗi tỉnh chọn 03 cán bộ). Thu về 30 phiếu hợp lệ (100%). Mẫu này phục vụ kiểm định Giả thuyết 2.
- Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp: Tổng hợp hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, số liệu thống kê dân số, các báo cáo chuyên đề của các cơ quan quản lý nhà nước và tổ chức quốc tế.
- Phương pháp tiếp cận đa ngành: Tích hợp khung phân tích từ khoa học chính sách công, luật học, xã hội học và văn hóa học.
| Nhóm đối tượng khảo sát |
Địa bàn nghiên cứu (08 tỉnh/thành phố) |
Số phiếu phát ra |
Số phiếu thu về |
Số phiếu hợp lệ |
Mục đích sử dụng |
| Người cao tuổi (Bảng hỏi) |
Hà Nội, Ninh Bình, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Bình Định, Tiền Giang, Cà Mau, TP.HCM |
500 |
490 |
485 |
Luận giải, kiểm định Giả thuyết 1 |
| Người cao tuổi (Phỏng vấn sâu) |
08 tỉnh/thành phố nêu trên (05 người/địa bàn; 20 nam, 20 nữ) |
40 |
40 |
40 |
Bổ trợ định tính cho Giả thuyết 1 |
| Cán bộ Sở LĐ-TB&XH (Bảng hỏi) |
08 Sở LĐ-TB&XH (TP trực thuộc TW: 05 người; Tỉnh: 03 người) |
30 |
30 |
30 |
Luận giải, kiểm định Giả thuyết 2 |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Chương 1 hệ thống hóa và phân tích các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến người cao tuổi và chính sách đối với người cao tuổi. Về mặt học thuật quốc tế, các nghiên cứu tập trung vào hai mảng lớn: chính sách an sinh - việc làm (tại Tây Phi, Thái Lan, Phần Lan, Ireland, Trung Quốc) và các khía cạnh tâm lý, nhân phẩm của người cao tuổi. Về mặt học thuật trong nước, các công trình được phân loại theo năm nhóm: mô tả sinh học - tâm lý; chất lượng sống và nhu cầu chăm sóc; vai trò của gia đình; chăm sóc tại các trung tâm bảo trợ; và hệ thống chính sách bảo trợ, an sinh xã hội. Trên cơ sở tổng thuật, tác giả xác lập bốn khoảng trống nghiên cứu chính: thiếu khung lý thuyết chính sách chuyên biệt, thiếu bức tranh lịch sử chính sách từ năm 1945, thiếu sự khái quát hóa nội dung chính sách hiện hành, và thiếu đánh giá thực nghiệm toàn diện dựa trên mức độ thỏa mãn nhu cầu của người cao tuổi và mức độ hoàn chỉnh của văn bản quy phạm.
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI
Chương 2 làm rõ các khái niệm, đặc điểm, vai trò của người cao tuổi và xây dựng khung lý thuyết phân tích chính sách:
- Khái niệm người cao tuổi: Khác với ngưỡng từ 70 tuổi trở lên của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), luận án căn cứ vào Luật Người cao tuổi Việt Nam (2009), Pháp lệnh Người cao tuổi và các nghiên cứu của Zhuqing (2012), Tadd & Bayer (2006) để xác định người cao tuổi là công dân từ 60 tuổi trở lên. Tác giả chỉ ra rằng dù tuổi thọ trung bình của người Việt Nam đạt 73 tuổi, nhưng số năm sống khỏe mạnh trung bình chỉ là 64 năm (Đình Nam, 2017).
- Đặc điểm sinh học và tâm lý: Trình bày chi tiết các bệnh mạn tính đặc thù (tim mạch, huyết áp, xương khớp, hô hấp, tiêu hóa, răng miệng); các biến đổi tâm lý (hướng về quá khứ, cảm giác cô đơn, bất lực, sợ đối mặt với cái chết) và phân kỳ bốn giai đoạn lứa tuổi theo Cục Bảo trợ xã hội (60–69 tuổi, 70–79 tuổi, 80–90 tuổi và trên 90 tuổi).
- Vai trò của người cao tuổi: Được phân tích ở hai bình diện:
- Đối với gia đình: Giữ vai trò kết nối các giá trị truyền thống qua các thế hệ; trực tiếp tham gia sản xuất tạo thu nhập phụ hoặc hỗ trợ công việc gia đình, chăm sóc con cháu giúp tiết kiệm chi tiêu.
- Đối với kinh tế - xã hội: Người cao tuổi tiếp tục đóng góp trí tuệ và sức lao động. Điển hình như cố GS. Trần Văn Khê (90 tuổi) truyền bá văn hóa dân tộc; GS. Đặng Vũ Khiêu (103 tuổi) miệt mài nghiên cứu; nghệ nhân làm đèn lồng 80 tuổi tại Hội An; cụ Khiêu Khiêm (95 tuổi, dân tộc Khmer tại Kiên Giang) với hơn 60 năm bảo vệ cột mốc biên giới; Nhà giáo Nhân dân Nguyễn Đức Thìn (hơn 70 tuổi) tại Đền Đô (Bắc Ninh); cùng hơn 1.000 người cao tuổi giữ vị trí chủ chốt trong các tổ chức chính trị - xã hội ở cơ sở.
- Khung phân tích chính sách: Luận án thiết lập hệ thống tiêu chí phân tích thực trạng (Bảng 2 trong luận án) xoay quanh các trụ cột: chính sách trợ cấp xã hội, chăm sóc sức khỏe, điều kiện đi lại, an toàn, hòa nhập cộng đồng và khả năng tiếp cận các chương trình hỗ trợ của Nhà nước.
Chương 3: THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI Ở VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Chương 3 tập trung phân tích tiến trình lịch sử, nội dung các văn bản pháp luật và đánh giá kết quả thực nghiệm:
- Quá trình phát triển chính sách: Khái quát các giai đoạn hình thành và phát triển chính sách chăm sóc, bảo trợ người cao tuổi từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến các văn bản hiện hành (Pháp lệnh Người cao tuổi năm 2000, Luật Người cao tuổi năm 2009, Nghị định số 136/2013/NĐ-CP, Chương trình hành động quốc gia giai đoạn 2012–2020).
- Đánh giá thực trạng qua số liệu điều tra thực nghiệm:
- Mức độ đáp ứng mong đợi (Khảo sát 485 người cao tuổi): Phân tích mức độ đáp ứng của trợ cấp xã hội hàng tháng, tính hiệu quả của khám chữa bệnh qua thẻ Bảo hiểm y tế (BHYT), công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu tại trạm y tế xã/phường, mức độ tiếp cận thông tin chính sách, tính an toàn tài chính, điều kiện đi lại và mức độ hòa nhập cộng đồng. Kết quả thực nghiệm cho thấy phần lớn người cao tuổi đánh giá mức trợ cấp hiện nay còn thấp so với nhu cầu sống tối thiểu; việc tiếp cận các dịch vụ y tế kỹ thuật cao và chăm sóc dài hạn còn gặp nhiều rào cản.
- Đánh giá nội dung chính sách (Khảo sát 30 cán bộ Sở LĐ-TB&XH): Cán bộ chuyên trách đánh giá hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đã tạo được hành lang pháp lý cơ bản nhưng còn thiếu đồng bộ, tiến độ ban hành văn bản hướng dẫn còn chậm, nguồn kinh phí bố trí thực hiện chương trình còn hạn hẹp.
- Nguyên nhân của các hạn chế, bất cập: Ngân sách nhà nước dành cho an sinh xã hội còn hạn chế; quy trình hoạch định chính sách chưa ứng dụng đầy đủ phương pháp dựa trên bằng chứng; cơ chế thu hút khu vực tư nhân tham gia cung ứng dịch vụ chăm sóc dưỡng lão gặp nhiều vướng mắc về cơ chế tài chính, đất đai; sự biến đổi cấu trúc gia đình truyền thống làm suy giảm khả năng tự chăm sóc người cao tuổi trong hộ gia đình.
Chương 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chương 4 đề xuất quan điểm, phương hướng và các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng chính sách:
- Phương hướng hoàn thiện: Chuyển đổi cách tiếp cận từ "bảo trợ xã hội thụ động" sang "phát triển xã hội chủ động", kết hợp hài hòa giữa trách nhiệm của Nhà nước, gia đình, cộng đồng và thị trường; nâng cao vai trò đại diện của người cao tuổi trong quy trình chính sách.
- Các nhóm giải pháp cụ thể:
- Hoàn thiện quy trình chính sách dựa trên bằng chứng: Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về người cao tuổi; thực hiện khảo sát, đánh giá tác động chính sách định kỳ trước và sau khi ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
- Phát huy vai trò của các chủ thể trong cộng đồng chính sách: Tăng cường sự tham gia của Hội Người cao tuổi vào quá trình xây dựng, phản biện và giám sát chính sách; khuyến khích các tổ chức xã hội, cơ quan truyền thông tham gia tuyên truyền và bảo vệ quyền lợi người cao tuổi.
- Cải cách chính sách trợ cấp xã hội và bảo hiểm y tế: Mở rộng diện bao phủ và từng bước nâng mức chuẩn trợ cấp xã hội hàng tháng phù hợp với tốc độ tăng trưởng kinh tế; hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh BHYT và quản lý bệnh mạn tính cho người cao tuổi tại tuyến xã/phường.
- Đa dạng hóa các mô hình chăm sóc và dịch vụ xã hội: Xây dựng cơ chế khuyến khích xã hội hóa, ưu đãi thuế và quỹ đất để thu hút doanh nghiệp đầu tư vào hệ thống trung tâm chăm sóc ban ngày, viện dưỡng lão tư nhân; phát triển các dịch vụ chăm sóc tại nhà dựa vào cộng đồng.
- Tạo điều kiện an toàn kinh tế và phát huy nguồn lực người cao tuổi: Xây dựng chính sách việc làm phù hợp cho người cao tuổi còn khả năng lao động; hỗ trợ tiếp cận vốn vay ưu đãi; tạo môi trường xã hội thân thiện thông qua việc cải thiện hạ tầng giao thông và các công trình công cộng.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận
- Hệ thống hóa các quan điểm lý thuyết về chính sách công đối với người cao tuổi, làm phong phú thêm lý thuyết chuyên ngành chính sách công tại Việt Nam thông qua việc kết hợp lý thuyết cộng đồng chính sách (Sapru, Homeshaw) và lý thuyết chính sách dựa trên bằng chứng (Cochrane, Martinson).
- Xây dựng khung phân tích thực trạng chính sách đối với người cao tuổi gồm các tiêu chí cụ thể: mức độ bảo đảm thu nhập/an sinh xã hội, chất lượng chăm sóc y tế - sức khỏe, mức độ an toàn cá nhân, điều kiện tiếp cận hạ tầng công cộng và mức độ hòa nhập, đóng góp xã hội.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Lần đầu tiên hệ thống hóa một cách toàn diện tiến trình lịch sử hình thành và phát triển chính sách đối với người cao tuổi tại Việt Nam từ năm 1945 đến giai đoạn hiện nay.
- Cung cấp bộ dữ liệu thực chứng quy mô gồm 485 phiếu khảo sát người cao tuổi và 30 phiếu khảo sát cán bộ quản lý nhà nước tại 08 tỉnh, thành phố đại diện cho ba miền Bắc, Trung, Nam; làm rõ khoảng cách giữa quy định pháp luật và mức độ thụ hưởng thực tế.
- Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ từ khâu hoàn thiện quy trình hoạch định, cơ chế tài chính an sinh, đến phương thức tổ chức mạng lưới chăm sóc y tế và mô hình dịch vụ dưỡng lão xã hội hóa.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế:
- Địa bàn khảo sát thực địa dừng lại ở 08 tỉnh, thành phố tiêu biểu (Hà Nội, Ninh Bình, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Bình Định, Tiền Giang, Cà Mau, Thành phố Hồ Chí Minh), chưa bao quát toàn bộ 63 tỉnh, thành phố trên cả nước.
- Số lượng mẫu cán bộ quản lý (30 cán bộ) và số lượng phỏng vấn sâu người cao tuổi (40 trường hợp) ở quy mô vừa phải, được xử lý chủ yếu trên phần mềm Microsoft Excel, phản ánh thực trạng tại các địa bàn khảo sát cụ thể.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng nghiên cứu đánh giá tác động kinh tế lượng về tính bền vững tài chính của các quỹ bảo trợ xã hội và quỹ bảo hiểm y tế trong bối cảnh tốc độ già hóa tăng nhanh đến năm 2030 và 2050.
- Đi sâu phân tích các nhóm người cao tuổi đặc thù như người cao tuổi khuyết tật nặng, người cao tuổi thuộc hộ nghèo đơn thân hoặc người cao tuổi tại các vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho nhiều đối tượng:
- Cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Ủy ban Quốc gia về Người cao tuổi Việt Nam, các Sở Lao động - Thương binh và Xã hội các địa phương có thêm cơ sở khoa học và dữ liệu thực chứng để rà soát, sửa đổi Luật Người cao tuổi và các chính sách trợ cấp xã hội.
- Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học: Phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu chuyên ngành Chính sách công, Quản lý công, Xã hội học, Công tác xã hội và Y tế công cộng tại các trường đại học, viện nghiên cứu.
- Hội Người cao tuổi và các tổ chức xã hội: Cung cấp luận cứ thực tiễn để nâng cao vai trò giám sát, phản biện xã hội và tham gia trực tiếp vào quy trình thực thi chính sách ở cơ sở.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án xác định độ tuổi của người cao tuổi theo tiêu chí nào?
Luận án căn cứ vào Luật Người cao tuổi Việt Nam (2009) và thực tiễn các nước đang phát triển để xác định người cao tuổi là công dân từ 60 tuổi trở lên. Tác giả chỉ ra rằng mặc dù tuổi thọ trung bình tại Việt Nam đạt 73 tuổi, nhưng số năm sống khỏe mạnh trung bình chỉ đạt 64 năm (Đình Nam, 2017), do đó việc xác định mốc 60 tuổi là phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội và sức khỏe của dân số trong nước.
2. Hai lý thuyết chính sách nào được tác giả sử dụng làm khung phân tích chính?
Tác giả sử dụng Lý thuyết về cộng đồng chính sách (Policy Community Theory) của Sapru (2004), Homeshaw (1995) để phân tích vai trò, sự tương tác của bốn nhóm chủ thể (cá nhân, truyền thông, nhóm áp lực, đảng chính trị) và vị thế của người cao tuổi; kết hợp với Lý thuyết chính sách dựa trên bằng chứng (Evidence-Based Policy) bắt nguồn từ Archibald Cochrane (1980) để xem xét tính thực chứng, chất lượng dữ liệu thống kê trong quá trình ban hành và thực thi chính sách.
3. Quy mô và cơ cấu mẫu khảo sát thực địa của luận án được thực hiện như thế nào?
Nghiên cứu thực hiện khảo sát tại 08 tỉnh, thành phố (Hà Nội, Ninh Bình, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Bình Định, Tiền Giang, Cà Mau, Thành phố Hồ Chí Minh) với ba nhóm mẫu: (1) Khảo sát 500 người cao tuổi bằng bảng hỏi (thu về 485 phiếu hợp lệ; tỷ lệ 50% nam - 50% nữ; 50% đô thị - 50% nông thôn); (2) Phỏng vấn sâu 40 người cao tuổi thuộc diện hưởng trợ cấp (05 người/địa phương); (3) Khảo sát 30 cán bộ chuyên trách công tác xã hội tại 08 Sở Lao động - Thương binh và Xã hội (05 người/thành phố trực thuộc Trung ương, 03 người/tỉnh).
4. Luận án đưa ra những dẫn chứng thực tế nào về vai trò kinh tế - xã hội của người cao tuổi?
Luận án nêu các dẫn chứng cụ thể: cố GS. Trần Văn Khê (90 tuổi) truyền bá âm nhạc dân tộc; GS. Đặng Vũ Khiêu (103 tuổi) nghiên cứu khoa học; nghệ nhân 80 tuổi tại Hội An sản xuất đèn lồng; cụ Khiêu Khiêm (95 tuổi, dân tộc Khmer tại Kiên Giang) hơn 60 năm giữ cột mốc biên giới; Nhà giáo Nhân dân Nguyễn Đức Thìn (hơn 70 tuổi) tại Đền Đô; các cựu cán bộ lãnh đạo làm Chủ tịch Hội Người cao tuổi cơ sở và hơn 1.000 người cao tuổi tham gia điều hành công tác xã hội, an ninh trật tự ở cơ sở.
5. Kết quả kiểm định hai giả thuyết nghiên cứu của luận án là gì?
Dữ liệu khảo sát thực nghiệm chứng minh cả hai giả thuyết: Giả thuyết 1 được xác nhận khi mức trợ cấp xã hội và điều kiện chăm sóc y tế, an sinh hiện hành chưa đáp ứng đầy đủ mong đợi của người cao tuổi; Giả thuyết 2 được xác nhận khi hệ thống văn bản chính sách còn bộc lộ nhiều hạn chế về mặt nội dung, tính liên thông và tính khả thi trong thực thi thực tế.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Bùi Nghĩa là công trình khoa học chuyên khảo thuộc ngành Chính sách công, giải quyết có hệ thống các vấn đề lý luận và thực tiễn về chính sách đối với người cao tuổi tại Việt Nam. Thông qua việc vận dụng lý thuyết cộng đồng chính sách, lý thuyết chính sách dựa trên bằng chứng và nguồn dữ liệu thực địa tại 08 địa phương, luận án đã làm rõ bức tranh thực trạng, chỉ ra các khoảng trống pháp lý và rào cản thụ hưởng an sinh của nhóm dân số cao tuổi. Các phân tích lịch sử chính sách từ năm 1945 và hệ thống giải pháp được đề xuất trong luận án cung cấp luận cứ khoa học có giá trị phục vụ công tác hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước trong bối cảnh già hóa dân số nhanh tại Việt Nam.