phần mở đầu và kết luận, bổ cục của khóa luận gồm các chương: Chương Ì: Cơ sở lý luận và các nhân ổ tác động đến việc hoạch định chính sách đồi ngoại của Mỹ đối với khu vực Mỹ Latnh Chương 2: Nội dung chính sách đối ngoại của Mỹ đổi với khu vực Mỹ Latnh từ dẫu thể kỹ XXI đến nay Chương 3: Một số nhận định và đánh giá về chính sách đối ngoại của Mỹ đối với khu vực Mỹ Lainh trong hai thập niên đầu thể kỳ XXI và iền nghị chính sách đối ngoại cho Việt Nam 4 NỘI DŨNG CHUONG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CÁC NH N TÓ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH ĐÓI NGO, CỦA MỸ ĐỐI VỚI KHU VỤC MỸ LATINH 1.1, Khái niệm chính sách đối ngoại Có nhiễu khái niệm ngoại giao được các nhà nghiên cứu chú ý, chẳng hạn như “ngoại giao là nghệ thuật bôi trơn những chiếc bánh xe của quan hệ quốc tế" (Sisley các khó khăn quốc tế một ao là nghệ thuật tiến "hành cái có thể bên ngoài phạm vỉ địa phương của mình” (RobcrtJ. Moore nam 1985); goại giao là quá nh sắp sếp việ liên lạc giữa các quốc in thông qua những dại diện được công nhận một cách chính thức” (Conway Henderson năm 1998). Nhìn chúng, phẩn lớn các khái niệm trên chưa thể hiện đầy đủ ý nghĩa của ngoại giao.
Các nhà nghiên cứu đã đưa ra các địnhnghĩa khác nhau từ mọi quan điểm, nhưng định nghĩa của Elmer Plischke nim 1972 được coi là khá đẫy đủ, Ông cho rằng "ngoại giao là quá tình chính trị theo đó các thực thể chính trị thiết lập và duy tì các quan hệ chính thức với nhau, nhằm theo đuổi các mục đích, mục. lợi ích riêng rẽ của chúng. và các chính sích trọng yÊu có tính thủ tục trong mỗi trường quốc tẺ là một quá tỉnh, chính trị, ngoại giao có tính năng động, thích nghỉ, thay đổi và tạo thành sự liên tục, về: mặt chức năng. ngoi giao bao gồm cả hoạch định và thực hiện chính sich đối ngoại trên mọi cấp độ một cách trung tâm trong lĩnh vực này và liên quan một cách cơ bản nhưng không bị hạn cỉ trong các chức năng đại diện, báo cáo, liên lạc, thương lượng và vận dụng mưu mẹo cũng như quan tâm tới lợi ch của công dân ở nước ngoài”.* Khái niệm ngoại giao này của Elmer Pisehke đấy đủ hơn v ý nghĩa và nội hầm, giúp trảnh được sự lẫn lộn giữa hai khái niệm là ngoại giao và chính sách đối ngoại Dựa trên quan niệm của Elmer Plisehke, nhà nghiên cứu Hoàng Khắc Nam đã đưa ra.
một khái êm về ngoại giao như sau: *Ngoại giao là quá trình chính trị trong đó các thực thể chính trị nhất là quốc gia thiết lập và duy tì các quan hệ với nhau, nhằm thực hiện những chính sách và lợi ch của mình có liên quan tới môi trường quốc tí “Trong khoa học chính tị, thực ch ngoại giao chỉ là một trong số các công cụ nhằm tổ chức và thực hiện chinh sách đối ngoại. Vì „ về mặt chức năng, ngoại giao Hsing am 2019. Glin hp mi un us of Din Qa i HA {2010) ido rink nhập rốn Quan hệ tu Bai boc Qube ea ls NG. Hsing Ms Nam 210) nh pda anh uc Die Qube HÀ Xi lợi 15 bao gồm cả hoạch định và thực hiện chính sách đối ngoại trên mọi cấp độ.
là để nhằm thực hiện những chính sách và lợi ích, tức là chính sách đối ngoại, vì vậy, ngoại giao không chỉ là công cụ mà còn là một cơ cấu tổ chức hoạt động đối ngoại của quốc gia. tới chính sách đối ngoại, chúng ta muốn chỉ các hành động, “quyết định nhằm vào các chủ thể bên ngoài phạm vi của một hệ thống chính trị M9 da (9í dụ, một nhà nước). Mục tiêu định hướng ban đầu của chính sách đó là mổ rộng tằm ảnh hưởng của quốc gia, điều này phân biệt chính sách đối ngoại với chính sách đổi nội * Chính sách đối ngoại của một quốc gia là tập hợp các chiến lược mà quốc gia đó sử đụng trong quá trình tương tác với các quốc gia khác và các tổ chức quốc tế, tên cách lĩnh vực kinh tể, chính trị, quân sự, văn hóa - xã hội, nhằm đạt được những mục tiêu khác nhau phù hợp với lợi íh của quốc gia đó. Chính sách đối ngoại thường được soi là cánh tay nỗi đài của chính sch đối nội, góp phần bảo vệ an ninh quốc gia, đạt được sự thịnh vượng vỀ kinh tế, hay bảo vệ và tối đa hóa lợi eh quốc gia ni chung, thông qua các con đường như hợp tác, cạnh tranh, xung đột, hoặc thậm chí chiến tranh, Vai tồ của chính sách đối ngoại ngày càng trở nên quan trọng, đặc biệt trong thời đại toàn câu hóa ngày nay, khi không quốc gia nào có thẻ tồn tại biệt lập và sự giao lưu, hợp.
túc ngày cảng được chú trọng “Chính sách đối ngoại của một quốc gia thường được hoạch định bởi bộ máy chính phủ cao nhất của quốc gia. Mỗi quốc gia khác nhau, mỗi thể chế cl nh trị khác nhau lại có cách cầu tạo bộ máy hoạch định chính sách đối ngoại khác nhau Nhìn chung, các nhân tổ chủ chốt quyết định chính sách đối ngoại của một quốc gia bao gồm (1) Thể và lực của quốc gia trên trường quốc tế: (Ô) Tình hình chính tr và an ninh th giới: (8) Mục tiêu quốc gia mong muốn đại được: (8) Ảnh hưởng của bộ máy hoạch định chính sách đổi ngoại: và (5) Các nhân tổ chính trị nội bộ (các nhóm lợi ích, giới truyền thông, công luận,.) “Chính sich đổi ngoại của các nướ lớn trên thể hoặc của các cường quốc trong khu vực luôn được các quốc gia khác trong khu vực đồ và trên th giới quan tâm ˆ Đào Tuấn Nhb, & Lệ Hồng Hiệp (14912014) P6ánichchính sách đổi ngoại, Nghiên eget, Troy uất ngày 2/3/2034, ữ hupeínghieneuuqboste orgfÖD4ÄĐViphan-ieh chỉnh vách-du ngoäf 16 nghiên cứu đặc biệt, bởi chính sách của các nước này không chỉ iên quan đến lợi ích sửa các quốc gia riêng lẻ, mà còn có khả năng tác động rắt lớn đến tĩnh hình hòa bình, ổn định và phát tiển của cả khu vực hoc toàn thể siới. Chẳng hạn như chính sách đối ngoại của Mỹ luôn gây ảnh hưởng tới tình hình chính trị toàn cầu. Việc Mỹ tiễn hành.
chiến tranh chống khủng bổ ở Iraq và Afghanistan không chỉ được xem là chính sách riêng của các quốc gia này, mà còn tác động tới môi trường an ninh, chính trị, ngoại giao. toàn cầu Ngày nay, trong thời đại toàn cầu hóa, nhiễu xắn để đối nội đang cổ tác động lan tổn ụ ngoài biển giới quốc gia, cúc chính sách đổi nội vìv cũng cónh hưởng không thỏ đến hot động đối ngoại và qua hệ ngoại ga ca quốc gi này độ với cá gia khác, chẳng bạn như các chính sách về kính t đầu tr, nhập cư,. Đồng thời, việc hoạch định chỉnh sich đối ngoại ngày nay ở các quốc gia cũng đang chu tác động ngày càng lớn của các yếu tố chính trị nội bộ như dư luận công chúng, hoạt động vận động hành lang của các nhóm lợ ích. hay ảnh hưởng của giới truyn thông, Chính sách đối ngoại của một quốc gia, còn được gọi là chính sách ngoại giao, bao gốm các chiến lược do nhà nước lựa chọn để bão vệ lợi ích của quốc gia mình và đạt được các mục tiêu rong môi trường quan hệ quốc tế.
Các phương pháp được sử dụng một cách chiến lược để tương tác với các quốc gia khác. Nghiên cứu về các chế lược như vậy được gọi là phân tích chính sich đổi ngoại. Trong thờ gian sẵn đây, do mức độ toàn cầu hóa và các hoạt động xuyên quốc gia ngày càng sâu rộng, quốc gia cũng. sẽ phải tương tác với các chủ thể phi quốc gia.
Sự tương tác nói trên được đánh gii và giám sát trong nỗ lự tối đa hóa lợi ích của hợp tác quốc tế đa phương. Vì lợi ích quốc gia là tối quan trọng, các chỉnh sách đối ngoại được chính phủ thiết kế thông qua các quy tình ra quyết ịnh cấp cao Thành ựu lại ích quốc gia có thể sảy ra do kế quả hợp tác hòa với các quốc gia khác, hoặc thông gua khai thác hay lợi dụng. Thông thường, việc tạo chính sách ngoại giao là công việc của người đứng đầu chính phủ và bộ trưởng ngoại giao (hoặc tương đương). Ở một số nước, cơ quan lập pháp cũng có tác cdụng đáng kể, Chính sách đối ngoại của các quốc gia có tỷ lệ thay đổi và phạm vỉ y định khác nhau, có thể bị ảnh hưởng bởi các yếu tổ làm thay đổi lợi ích quốc gia hoặc thậm shíảnh hưởng đến sựôn định của chính quốc gia đó, Chính sáchđố ngoại của một quốc gia có thể cổ tác động sâu sắc và lâu dài đối với nhiều quốc gia khác và tên bộ quan hệ quốc tễ, như Học thuyết Monroe cũa Mỹ mâu thuẫn với các chính sách trọng thương của các nước chau Au thé ky XIX và mục tiêu độc lập của các nước Trung Mỹ và Nam Mỹ mới thành lập.
“Tóm lạ, Chính sách đối ngoại là nhăng chiến lược, mục tiêu, nguyên tắc và hành vi mà một quốc gia thực hiện trong quan hệ với các quốc gia khác, Quy trình chính sách 1 dối ngoại là mộttập hợp các thủ tục và cầu trúc mà các quốc gia sử dụng để đưa ra các quyết định về chính sách đổi ngoại và thực hiện chúng. Hoạch định chính sách đối ngoại liên quan đến nhiễu nhân tổ như thành phần chính phủ. đảng phái chính tỉ, nhóm lợi ích (kinh tế, quân sự), chính sách đối ngoại của những nước khác. Trong mô hình ra quyết định hợp lý, các quan chức chọn hành động mà hệ quả của nổ giỏp đáp ứng tốt nhất các mục tiêu đ thiết lập của nhà nước.
Ngược hi, trong mô hình quy tình tổ chức, quyết định kết quả của thủ tục hành chính thông thường; và mô hình thương lượng của chính phủ (hoặc chính tị quan liêu), các quyết định là kết quả của các cuộc dim phần giữa sắc cơ quan chính phổ có lợi £h Khác nhau. Ra quyết định cá nhân bị ảnh hưởng bởi tính cách, gid tri va nid ti của mỗi người cũng như bởi các yế tổ tâm lý thông thường, "khác với tính hợp lý. Những yếu tố này bao gồm nhận thức sai lầm, nhận thức có chọn. lọc, thành kiến cảm xúc và thành kiển nhận thúc.
Phân tích chính sich đối ngoại (EPA) ao gồm các công việc nghiên cứu cách thức các quốc gia hoặc giới lãnh đạo của họ xây cưng chỉnh sách đối ngoại, thực thỉ chính sách đối ngoại và phản ứng vớ các ính sách. đối ngoại của các nước khác 1.