phần mở đầu, kết luân và tài liệu tham khảo, để tài được chia là ban chườn với nội dụng: Chương Ï NƯỚC MỸ TRÊN CON DUONG XAC LAP QUYỀN LÃNH ĐẠO KHONG TRANH CÃI TRONG THẺ KỸ XX Chương2. NƯỚC MỸ VỚI NHỮNG THAM VỌNG TRONG THÊ KỸ XXI Chương3 NHUNG THÁCH THỨC ĐÔI VỚI MỸ TRONG THẺ KỶ XI. Chuong1 NUGC MY TREN CON DUONG XAC LAP QUYEN LANH ĐẠO KHÔNG TRANH CAI TRONG THE KY XX 1.1Chính sách ngoại giao của Mỹ, từ chủ nghĩa “biệt lập” đến “chiến lược ngoại giao toàn cầu”. Ngay từ ngày lập quốc nước Mỹ đã lựa chọn và trung thành với đường lối ngoại giao biệt lập của tổng thống G.Oasinhton, theo đường lối này người Mỹ tự bó hẹp mình trong khuôn khổ nước Mỹ và châu Mỹ, không ký bắt cứ một hiệp ước nào đối với các nước phương Tây trên tắt cả các lĩnh vực.
Nhưng cùng với quá trình mở rộng đất đai về phía Tây và hoàn thành cuộc cách mạng tư sản ở Mỹ, quốc gia này đã trỗi dậy một cách mạnh mẽ và đầy tiềm lực, với tính ưu việt của một thể chế nhà nước Cộng Hòa, một cơ chế quyền lực mang tính kiềm chế và đối trọng đã giúp Mỹ trở thành kiểu mẫu của thé giới lúc đương thời. Với sự vươn lên đó làm cho Mỹ không tự. bằng lòng với những gì mình đã có, tham vọng muốn mở rộng ảnh hưởng của Mỹ ngày cảng được biểu hiện rõ nét, trước hết là khu vực Mỹ - latinh vào tháng 2 năm 1823 Mỹ đưa ra học thuyết Mơnrô với khẩu hiệu “Cháu A/P của người Mỹ”, đây là mộc đánh dấu cho sự chấm dứt hoàn toàn đường lỗi ngoại giao “biệr lập ” của chính phú Hoa Kỷ. Học thuyết Mơn rô được ban hành với mục đích tranh giành quyền thống trị của thực dân Tây Ban Nha trên các thuộc địa ở khu vực châu Mỹ - lanh, sự tranh chấp đó đã dẫn đến cuộc chiến tranh giữa Mỹ và Tây Ban Nha vào năm 1840, đây chiến tranh để quốc đầu tiên của Mỹ và cũng là tiếng súng đầu tiên báo hiệu chỉ tranh đề quốc chia lại tl ¡, kết thúc chiến tranh Mỹ đã xác lập được quyền thống trị của mình trên các thuộc địa như Cu Ba, Pueetô Riccô.
Để tiếp tục đặt quyền thống trị lên toàn bộ châu Mỹ - latinh, năm 1893 Mỹ đặt quyền báo hộ đối với Ha Oai và đưa ra học thuyết liên Mỹ với mục đích: Tách Panama ra khỏi Côlômpia và thành lập nhà nước cộng hòa Panama, chính phủ Panama phải cho Mỹ quyền sở hữu vĩnh viễn kênh đào này, cho quyên xây dựng đường sắt và thiết lập công sự. Không chỉ dừng lại ở những chính sách đó, Mỹ tiếp tục thực hiên các chính sách ngoại giao “Cáy gậy lớn và củ cà rốt ” và "chính sách ngoại giao đồng đöla” đỗi với các nước châu Mỹ - latinh và thống trị toàn bộ khu vực tây bán cầu này. 'Vươn ra khỏi khuôn khổ nước Mỹ và châu Mỹ, tham vọng mở rộng và tranh giành ảnh hưởng với các nước zhực cđân giả cũng được Mỹ biểu hiện khá rõ nét. Đó là việc Mỹ muốn đặt chân vào thị trường Trung Quốc, Mỹ đã đưa ra cái gọi là “chính sách mở cửa” vào năm 1889 nhằm mục đích: Các nước thừa nhận chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thỗ Trung Quốc, các nước đều bình đăng đổi với các đặc quyền ở Trung Quốc không xâm phạm vào những khu vực của nhau.
Ở các khu vực ảnh hưởng của các nước. thì đều đánh thuế ngang nhau với hàng hóa nước khác nhập vào. Thực chất của chính sách nảy là Mỹ muốn hàng hóa của Mỹ có chân trong thị trường rộng lớn nảy, với sự tràn ngập hàng hóa của người Mỹ, dẫn dẳn Mỹ sẽ vươn lên trên hết về sự cạnh tranh với các nước khác, từ đó biến Trung Quốc trở thành đắc địa cho Mỹ. Có thể nói từ cuối thế kỷ XIX dau thé ky XX, My da bộc lộ tham vọng vươn ra thể giới, nhưng trong giai đoạn này Mỹ mới chỉ là một cường.
quốc phát triển mạnh về kinh tế mà chưa thực sự trở thành một để quốc hùng. mạnh về quân sự và vị thế của Mỹ trên trường quốc tế còn quá mờ nhạt, đặc. quy còn nằm trong tay các nước thực dân có nhiều thuộc địa trong. khi Mỹ chỉ mới bắt đầu đặt tầm ảnh hưởng của mình lên khu vực châu Mỹ mà thôi.
Từ sau chiến tranh thế giới lần thứ 2, Mỹ thực hiện đường lối ngoại giao fodn cẩu phản cách mạng với âm mưu thống trị toàn thể giới, tiêu diệt các đối trọng của Mỹ một cách không thương tiếc đó chính là chủ nghĩa cộng sản và phong trảo giải phóng dân tộc: “Mỹ để ra ba mục tiêu cho chiến lược toàn cầu, ngăn chặn, đây lùi, tiễn tới tiêu diệt hệ thông xã hội chủ nghĩa thẻ giới, đàn áp phong trào giải. phóng dân tộc, phong trào hòa bình dân chủ thể giới, nô dịch các nước đồng minh, tập hợp các lực lượng phản động quốc tễ đặt dưới sự lạnh đạo của [13. 290], để thực hiện âm mưu trên, Mỹ đã dựa trên các cơ sở chiến tranh và các thế mạnh của mình để khuất phục các dân tộc khác, đồng thời Mỹ còn chía thê giới ra thành các khu vực ưu tiên bao gồm: * Châu Âu: Đây là khu vực quan trọng nhất vì vừa có các đồng minh Tay Âu, lại vừa có Liên Xô, Đông Au di theo con đường xã hội chủ nghĩa, do đó phải tập trung chống pha. * Trung Đông: Được coi là mái nhà của thể giớ, với nguồn năng lượng dầu mỏ tập trung nhiều hơn so với các khu vực khác trên thể giới, do đó nó được coi là trái tìm của thể giới, nếu ai chiếm được Trung Đông thì sẽ làm chủ thế giới.
+ Đông Bắc Á: Nơi đây điển hình với sự vươn lên một cách thần kỳ của Nhật Bản, một cường quốc trong thể giới tư bản và là nguy cơ đối trọng gay gắt nhất của Mỹ, là đối thủ có khả năng nhất trong cuộc chay đua tranh giành ngôi vị đứng đầu thế giới ới Mỹ trong thế kỷ XX, do đó cần phải kiềm chế Nhật Bản. s$ Mỹ - latinh và Đông Nam Á: cũng được coi là mục tiêu tiêu diệt của Mỹ, đặc biệt trong chiến tranh lạnh Việt Nam - Đông Dương được xem. là nơi đụng đầu của hai phe chủ nghĩa xã hội và tư bản chủ nghĩa. “Trên cơ sở chiến lược toàn cầu phản cách mạng này, dưới các đời tống thống Mỹ đã xây dựng lên các học thuyết mang tên mình đề đạt những mục tiêu cụ thể, như thời kỳ tông thống Tơrumam, Aixenhao trong các học thuyết của mình, họ tập trung xây dựng các căn cứ quân sự trên toàn cầu và ngoại giao nguyên tử được xem là nền tảng, đến thời Kenodi, Giônxơn lại tập trung thi hành các học thuyết như “ở rộng biển giới” và chiến lược “hỏa bình” đề nô dịch các quốc gia mới giải phóng bằng cách xây dựng các nhà nước theo mô hình tư bản chủ nghĩa kiểu Mỹ.
Đến năm 1992 Mỹ lại thực hiện chính sách “vượt lên ngăn chặn” chủ động tiến công hoặc thực hiên chiêu bài diễn biến hòa bình tấn công vào Đông Âu, Liên Xô, tiêu diệt một mảng lớn các nước xã hội chủ nghĩa trên lãnh thô châu Âu. Những chính sách ngoại giao này cho thấy Mỹ thực sự là quốc gia hùng mạnh nhất, chiếm ưu thế tuyệt đối trong phe tư bản chủ nghĩa. Dựa trên ưu thể đó giới cằm quyền Mỹ luôn chủ quan cho rằng sau chiến tranh sẽ là thời đại của Mỹ, thời đại mà Mỹ có thể dùng sức mạnh của mình để buộc các dân tộc khác phải phục tùng. Điều này cũng đồng nghĩa với sự suy yếu của các nước tư bản Tây Âu trước sự vươn lên của Mỹ và trước sự bùng nỗ mạnh mẽ của phong phảo giải phóng dân tộc trên thể giới, sự vươn lên của các nước xã hội chủ nghĩa đã khiến cho Mỹ phải lo sợ và Mỹ tự gán cho.
mình trách nhiệm cầm đầu các nước tư bản bảo vệ “/h giới tự do”.2 Nước Mỹ và sự xác lập quyền lực trong thế kỹ XX.1 Sự xác lập quyền lực h tế của Mỹ. Cuộc cách mạng công nghiệp diên ra vào thế kỹ XVII ở Anh và Châu Au da đưa vương quốc Anh vươn lên đứng đầu thế giới về mọi mặt, và nắm giữ ngôi vị lãnh đạo thể giới tư bản lúc đương thời, vị tÌ lứng đầu thế giới của nước Anh còn được duy trì vào nhiều thập niên của thế kỷ XIX. Nhưng bước sang thể kỷ XX, vị thế ấy của Anh không còn được duy trì nữa, dấu mốc chính thức đánh dấu cho cuộc chuyển giao quyền lực này là “chiến tranh thể giới thứ hai chính là chiếc đình cái đóng chết vào cải quan tài của quyên lực kinh tế Anh quốc " [5, tr. Cuộc chuyên giao quyền lực kinh tế ấy đã được đặt lên vai người Mỹ, nhưng ngay từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất Mỹ đã trở thành chủ nợ đối với các nước Châu Âu, sự tốn thất sau.
chiến tranh đã khiến châu Âu phải vay Mỹ 10 tỷ USD để giải quyết khó khăn và khôi phục đất nước, sự túng thiếu của châu Âu đã là cơ hội lớn cho. Mỹ đầu tư tư bản của mình ra nước ngoài và trở thành ông chủ của những kẻ. trước đây đã từng thống trị mình: “Sau hai năm chiến tranh do châu Âu cân hàng hóa Mỹ. đã tạo điều kiện cho công nghiệp Mỹ phát triển mạnh mẽ.
Năm 1919 hàng Mỹ xuất sang châu Âu lên tới gần 8 tỷ đô la, vốn đâu tư dài hạn của Mỹ ra nước ngoài đạt 6,4 nè đô la. Mỹ cũng trở thành nước có dự trữ vàng lớn nhất thể giới, chiếm 1⁄3 số vàng thể giới” [I3, tr. Không tham gia vào cuộc chiến tranh thế ¡ thứ nhất, nhưng Mỹ với tư cách là ông chủ buôn vũ khí cho cả hai bên tham chiến đã khiến Mỹ giàu lên nhanh chóng, Mỹ đã trở thành trung tâm. kinh tế, thương mại tài chính q trong khi các nước Tây Âu còn đang phải oằn mình vào việc khắc phục hậu quả chiến tranh thì Mỹ đã: “khđng định vị trí số một của mình và ngày càng vượt trội các đổi thủ.
Năm 1922 ở hội nghị Giơ ne vơ đồng đô la đã được công nhận là đồng tiền quốc tế cùng. với đồng bảng của Anh” [13, tr.92], quy chế này đã khẳng định vị thế của Mỹ trong thế giới tư bản, chính thức xác lập được giá trị của đồng tiền Mỹ và biến nó trở thành đồng tiền giao dịch quốc tế với mệnh giá lớn.